Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Phụ bản của Số 1 * 2016
Nghiên cứu Y học
KHẢO SÁT MỤC ĐÍCH, ĐỘNG CƠ VÀ KỸ NĂNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN Y ĐA KHOA NĂM THỨ NHẤT
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2015
Nguyễn Quang Vinh*, Lý Văn Xuân*, Trần Thanh Hưng*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Để có hoạt động tự học hiệu quả, sinh viên cần xác định cho mình mục đích, động cơ học tập
đúng đắn và kỹ năng tự học tốt; điều này không những cần thiết khi học ở THPT mà còn ở đại học, đặc biệt là ở
Đại học Y dược TP.HCM với phương pháp dạy - học tích cực chủ động
Mục tiêu: Xác định mục đích, động cơ và kỹ năng tự học của sinh viên y đa khoa năm thứ nhất ở Đại học Y
dược TP.HCM năm 2015 và các mối liên quan
Phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là 339 sinh viên y đa khoa năm thứ nhất. Thiết kế nghiên
cứu mô tả cắt ngang. Kỹ thuật thu thập số liệu qua bộ câu hỏi soạn sẵn tự điền
Kết quả: Qua nghiên cứu 339 sinh viên y đa khoa năm thứ nhất cho kết quả: Mục đích tự học: Để nắm vững
kiến thức (87,32%); Để vận dụng kiến thức vào thực tiễn (76,40%). Động cơ học tập: Yêu thích các môn y học
(95,58%); Ước vọng thi đậu đại học (91,15%). Kỹ năng tự học: Lập được kế hoạch cụ thể, chi tiết (69,32%); Tham
khảo và nghiên cứu được tài liệu liên quan (83,18%); Thường xuyên hệ thống và tóm tắt bài học (71,68%);
Thường xuyên hoàn thành đầy đủ bài tập ở nhà (91,45%). Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa học
lực cấp 3 với mục đích, động cơ và kỹ năng tự học.
Kết luận: Có 87,32% sinh viên có mục đích học tập để nắm vững kiến thức và 76,40% để vận dụng kiến
thức vào thực tiễn. Về động cơ học tập, có 95,58% sinh viên yêu thích các môn y học và 91,15% ước vọng thi đậu
đại học. Về kỹ năng tự học, có 69,32% sinh viên lập được kế hoạch cụ thể, chi tiết, 83,18% sinh viên tham khảo và
nghiên cứu được các tài liệu có liên quan, 71,68% sinh viên thường xuyên hệ thống và tóm tắt bài học và 91,45%
sinh viên thường xuyên hoàn thành đầy đủ bài tập ở nhà. Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa học
lực cấp 3 với mục đích, động cơ và kỹ năng tự học
Từ khóa: Tự học, kỹ năng tự học, học lực.
Results: Among 339 first year medical students; 83.75% mastered the knowledge from the lessions well;
76.40% could apply the knowledge into practical situation; 95.58% were interested in medical subjects; 91.15%
alsways hoped to pass the entrance examination to the university; 69.32% made the detail plan for self-learning;
91.45% did all their homeworks every day. There was not the significant relationship between the academic
evaluation with the aims, motivation and skills.
Conclusions: There was the large propotion of medical students who have some aims, motivation and skills
of self-learning correctly. The relationship between academic evaluation with the aims, motivation and skills is not
significant.
Key words: Self-learning, self-learning skills, academic evaluation.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước tình trạng bùng nổ thông tin như hiện
nay, người học nhận thấy song song với việc học
có sự hướng dẫn của người dạy, người học nhất
thiết phải biết tự học để nâng cao tri thức của
mình(1), đặc biệt là năng lực chuyên môn để đáp
ứng tốt công việc sau khi ra trường(4).
Để hoạt động tự học có hiệu quả, sinh viên
cần xác định cho mình mục đích, động cơ học
tập đúng đắn và kỹ năng tự học tốt(4). Điều này
không những cần thiết khi học ở THPT mà còn ở
đại học, đặc biệt là ở Đại học Y dược TP.HCM
với phương pháp dạy - học tích cực chủ động
học của sinh viên y đa khoa năm thứ nhất sẽ góp
phần giúp cho nhà trường có các giải pháp nâng
cao khả năng tự học của sinh viên, qua đó góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo Bác sĩ đa khoa.
Do đó chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát mục đích,
động cơ và kỹ năng tự học của sinh viên y đa
khoa năm thứ nhất Đại học Y dược TP.HCM
Phương pháp nghiên cứu
Khảo sát mục đích, động cơ và kỹ năng tự
Y dược TP.HCM năm 2015 và các mối liên quan
Mục tiêu cụ thể
- Xác định mục đích, động cơ và kỹ năng tự
học của sinh viên y đa khoa năm thứ nhất
Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
Đặc điểm
Giới tính
Nữ
Nam
Nhóm tuổi
≤ 18 tuổi
> 18 tuổi
Tần số (n=339)
Tỷ lệ (%)
138
201
40,71
59,29
Có 82,01% sinh viên nhóm tuổi ≤ 18 tuổi và
82,01% sinh viên học lực giỏi ở THPT. Sinh viên
có điểm thi tuyển đại học đạt từ 28 điểm trở lên
chiếm tỷ lệ 95,28% trong khi sinh viên đạt < 28 đ
(được trúng tuyển nhờ cộng điểm ưu tiên KV,
ĐT) chỉ chiếm 4,72%.
Bảng 2. Về mục đích tự học
Mục đích
Tần số
(n=339)
Tỷ lệ (%)
Nắm vững kiến thức đã học
Rất quan trọng
296
87,32
Quan trọng
41
12,09
Ít quan trọng
2
0,59
Đào sâu kiến thức, mở rộng hiểu biết
Rất quan trọng
215
63,42
Quan trọng
121
44,54
Ít quan trọng
14
4,13
Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
Rất quan trọng
259
76,40
Quan trọng
71
20,94
Ít quan trọng
9
2,65
Nhận xét: Hầu hết sinh viên có mục đích
tự học để “nắm vững kiến thức đã học” (tỷ lệ
87,32%) và để “vận dụng những kiến thức đã
học vào thực tiễn” (tỷ lệ 76,64%). Mục đích để
“đạt kết quả cao trong học tập” chỉ có 23,01%
sinh viên cho rằng “rất quan trọng”.
Khoa học Cơ bản
Nghiên cứu Y học
Bảng 3. Về động cơ tự học
Động cơ
Tần số (n=339)
Để vượt qua các kỳ thi
Quan trọng
148
Ít quan trọng
15
Học giỏi để làm vui lòng cha mẹ, gia đình
Rất quan trọng
71
Quan trọng
182
Ít quan trọng
86
Vì giáo viên bắt buộc
Rất quan trọng
4
Quan trọng
16
Ít quan trọng
319
Tỷ lệ (%)
24,78
63,72
11,50
41,30
45,13
13,57
15,93
60,18
23,89
36,58
Rất tốt
91
Tốt
191
Chưa tốt
57
Hệ thống, tóm tắt và soạn lại bài học
Rất tốt
73
Tốt
170
Tỷ lệ (%)
21,24
48,08
30,68
26,84
56,34
16,82
21,53
50,15
23
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Phụ bản của Số 1 * 2016
Nghiên cứu Y học
Kỹ năng
Tần số (n=339)
internet” có tỷ lệ 83,48% và “tham khảo, nghiên
cứu tài liệu” với tỷ lệ 83,18%.
Bảng 5. Mối liên quan giữa học lực THPT với mục
đích tự học
Khá – Trung
Giỏi
PR
Giá trị
bình (n=61)
p
(n=278) (%)
(KTC
95%)
(%)
Nắm vững kiến thức đã học
Rất quan
243(82,09) 53(17,91)
1
trọng
0,90
Quan trọng 33(80,49)
8(19,51)
(0,38 – 2,39)
0,885*
Ít quan
2(100)
0(0)
trọng
Đào sâu kiến thức, mở rộng hiểu biết
Rất quan
1(16,67)
trọng
(0,12–54,25)
Đạt kết quả cao trong học tập
Rất quan
61(78,21)
17(21,79)
1
trọng
1,53
Quan trọng 181(84,58) 33(15,42)
0,265
(0,74 – 3,01)
0,91
Ít quan
36(76,60)
11(23,40)
trọng
(0,36 – 2,41)
Hình thành tác phong học tập khoa học
Rất quan
143(82,18) 31(17,82)
1
0,230*
trọng
24
1,09
(0,59 – 2,04)
20(18,02)
1,000*
(0,53 – 1,92)
1,10
Ít quan
5(83,33)
1(16,67)
trọng
(0,12–53,25)
Quan trọng 126(83,44)
25(16,56)
Kiểm định chi bình phương
* Kiểm định Fisher
Nhận xét: Không có mối liên quan có ý nghĩa
thống kê giữa học lực THPT với mục đích tự học
Bảng 6. Mối liên quan giữa học lực THPT với động
cơ tự học
Khá – Trung
Giỏi
PR
bình (n=61)
(n=278) (%)
(KTC
95%)
(%)
Để vượt qua các kỳ thi
66
18
0,65
Quan trọng
(81,37)
(18,63)
(0,23– 1,61)
65
16
0,61
Ít quan
trọng
(80,25)
(19,75)
(0,20– 1,71)
Học giỏi để làm vui lòng cha mẹ, gia đình
56
15
Rất quan
1
trọng
(78,87)
(21,13)
151
31
1,30
Quan trọng
(82,97)
(17,03)
(0,61– 2,71)
71
15
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Phụ bản của Số 1 * 2016
Khá – Trung
Giỏi
PR
Giá trị
bình (n=61)
p
(n=278) (%)
(KTC
95%)
(%)
152
33
0,99
Quan trọng
(82,16)
(17,84)
(0,52– 1,87)
24
6
0,86
Ít quan
trọng
(80,00)
(20,00)
(0,30– 2,89)
Yêu thích các môn y học
146
30
Rất quan
0,56
Quan trọng
0,067*
(62,50)
(37,50)
(0,01– 9,20)
265
54
1,64
Ít quan
trọng
(83,07)
(16,93)
(0,03–0,78)
Động cơ
Kiểm định chi bình phương
* Kiểm định Fisher
Khoa học Cơ bản
Giá trị
p
0,570
35
(19,77)
9
(16,07)
bình (n=61)
p
(n=278) (%)
(KTC
95%)
(%)
Giới tính
Nữ
Nhận xét: Không có mối liên quan có ý nghĩa
thống kê giữa học lực THPT với động cơ tự học
Bảng 7. Mối liên quan giữa học lực THPT với kỹ
năng tự học
Khá – Trung
Giỏi
PR
Kỹ năng
bình (n=61)
(n=278) (%)
(KTC
95%)
(%)
Lập kế hoạch tự học cụ thể, chi tiết
60
12
Rất tốt
1
(83,33)
(16,67)
Tốt
143(84,12) 27(15,88)
(0,45 – 2,29)
0,66
Chưa tốt 74(77,08) 22(22,92)
(0,28 – 1,53)
Truy cập thông tin trên Internet
89
17
Rất tốt
1
(83,96)
(16,04)
142
(80,23)
47
Chưa tốt
(83,93)
Hoàn thành bài tập ở nhà
91
Rất tốt
(85,85)
165
Tốt
(80,88)
22
Chưa tốt
(75,86)
Tốt
(50,00)
270
≥ 28 điểm
(83,59)
≤ 18
26
(9,35)
35
(57,38)
8
(50,00)
53
(16,41)
1
0,08
(0,03 – 0,15)
< 0,001
1
5,09
(1,58–16,23)
0,003*
Kiểm định chi bình phương
*Kiểm định Fisher
Nhận xét: Có mối liên quan có ý nghĩa thống
chứng tỏ sinh viên khá và trung bình ít có cơ hội
trúng tuyển Đại học Y dược TP.HCM.
kỹ năng tự học. Có lẽ do phương pháp dạy/ học
theo hình thức từ chương và thi cử với nội dung
chủ yếu là nhớ lại nên sinh viên chỉ cần nhớ
thuộc những gì được dạy hoặc những gì trong
sách giáo khoa là có thể đạt kết quả tốt ở THPT.
Mục đích tự học được sinh viên cho rằng rất
quan trọng là “nắm vững kiến thức” và “vận
dụng kiến thức vào thực tiễn” lần lượt có tỷ lệ
87,32% và 76,40%, tương đương với nghiên cứu
của Nguyễn Quang Vinh(4), trong khi chỉ có
23,01% sinh viên cho rằng mục đích tự học là để
“đạt kết quả học tập cao”. Điều này cho thấy khi
học THPT sinh viên cần xác định đúng đắn mục
tiêu học tập để có đủ kiến thức thi đậu vào
ngành y đa khoa với điểm trúng tuyển thường
rất cao. Việc xác định mục đích học tập đúng đắn
không những giúp sinh viên phát huy được khả
năng tự học ở THPT mà còn có nhiều cơ hội
trúng tuyển đại học.
- Sinh viên tuổi > 18 (đa số thi lại đại học) có
học lực loại giỏi ở THPT chỉ bằng 0,08 lần
so với sinh viên tuổi ≤ 18 (thi đại học lần
đầu).
Động cơ tự học do “yêu thích các môn y học”
Kết quả này cho thấy sinh viên học lực loại
giỏi ở THPT có nhiều khả năng thi đậu đại học
ngay lần đầu với điểm trúng tuyển cao.
KẾT LUẬN
Có 87,32% sinh viên với mục đích học tập để
“nắm vững kiến thức” và có 76,40% để “vận
dụng kiến thức vào thực tiễn”. Về động cơ học
tập, có 95,58% sinh viên “yêu thích các môn y
học”. Về kỹ năng tự học, có 69,32% sinh viên
“lập được kế hoạch tự học cụ thể, chi tiết”;
83,18% sinh viên “tham khảo và nghiên cứu
được các tài liệu có liên quan”; 71,68% sinh viên
thường xuyên “hệ thống và tóm tắt bài học”;
83,48% sinh viên thường xuyên “truy cập thông
tin trên internet” và 91,45% sinh viên thường
xuyên “hoàn thành đầy đủ bài tập ở nhà”.
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê:
- Sinh viên tuổi > 18 (đa số thi lại đại học) có
học lực loại giỏi ở THPT chỉ bằng 0,08 lần
so với sinh viên tuổi ≤ 18 (thi đại học lần
đầu).
- Sinh viên đạt điểm thi tuyển đại học ≥ 28
điểm có học lực loại giỏi ở THPT cao gấp
5,09 lần so với sinh viên có điểm < 28 điểm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Lê Thị Liên (2004), Nâng cao tính tự học, tự nghiên cứu cho
24/11/2015
02/12/2015
27