Khảo sát thực trạng học kỹ năng mềm của sinh viên một số trường thuộc khối ngành kinh tế tại thành phố hồ chí minh - Pdf 41

CHƯƠNG 1: PHẰN MỞ ĐẦU
1.1.

Lý do chọn đề tài

Đã từ lâu người Việt Nam luôn được đánh giá rất cao trong các cuộc thi quốc tế về kiến
thức, IQ như toán, vật lý, cờ vua, robocon...Năm nào nước ta cũng có rất nhiều giải vàng, giải
bạc quốc tế - điều mà nhiều nước toong khu vực phải ghen tị, thế nhưng tại sao đất nước ta
vẫn còn là đất nước đang phát triển, nền kinh tế chưa thể cạnh tranh với các nước khác và mỗi
khi nói về năng lực của lao động Việt Nam thì chúng ta chỉ dừng lại ở vị trí đáng buồn.
Đó là một nghịch lý, nhưng ta có thể lý giải được, bỡi rõ ràng đã có một khoảng cách khá
lớn giữa việc giảng dạy ờ nhà trường và nhu cầu đòi hỏi của xã hội, thực tế sản xuất kinh
doanh và yêu cầu khắt khe của nền kinh tế hiện nay.
UNESCO đề xướng mục đích học tập: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học
để tự khẳng định minh”. Trường học chúng ta hiện đang nặng về học để biết, nghĩa là chi đạt
được một toong bốn mục tiêu của UNESCO. Chương trình giáo dục của chúng ta trải qua
nhiều năm dài vói những cải cách thế nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc giảng dạy kiến thức, việc
đánh giá năng lực của học sinh - sinh viên vẫn chủ yếu dựa vào kiến thức mà bỏ quên mất
khía cạnh còn lại của con người đó là kỹ năng mềm. Các nhà khoa học tại ĐH Havard, Mỹ
cho rằng: để thành đạt toong cuộc sống thì kỹ năng mềm (trí tuệ cảm xúc) chiếm 85%, kỹ
năng cứng (trí tuệ logic) chi chiếm 15%.
Vi vậy, thông qua bài nghiên cứu này, nhóm sinh viên chúng tôi muốn tìm hiểu xem khi
học tập về kỹ năng mềm thì sẽ giúp mang lại những lợi ích như thế nào, và tinh hình đào tạo
các kỹ năng mềm hiện nay ở TPHCM nói chung cũng như tinh hình đào tạo kỹ năng mềm ở
trường ĐH Tài Chính - Marketing nói riêng, nếu bỏ qua việc giảng dạy kỹ năng mềm thì đó
là một thiếu sót quá lớn.
Bên cạnh đó, nhóm chúng tôi còn khảo sát xem các bạn sinh viên Đại học đã nhận thức
đúng đắn về việc học tập kỹ năng mềm hay chưa và tim hiểu về nhu cầu, mong muốn cũng
như nguyện vọng của các bạn sinh viên về các lớp kỹ năng mềm.




Đe tài này tập trung nghiên cứu về sự cần thiết của kỹ năng mềm đối với sinh viên hiện
nay với khách thể nghiên cứu là các kỹ năng mềm.
Nhóm nghiên cứu sẽ lựa chọn sinh viên trường ĐH Tài chính - Marketing, sinh trường
ĐH HUFLIT, sinh viên trường ĐH RMIT, sinh trường ĐH Kinh tế, sinh viên trường ĐH Công
Nghiệp... để tiến hành điều ừa trong đề tài này. Sinh viên của các trường ĐH sẽ được nghiên
cứu theo từng ngành đang theo học và từng năm học, do


từng ngành học và từng năm học sẽ cần những kỹ năng mềm khác nhau. Vì vậy, để có thể
nắm rõ tác động của kỹ năng mềm đến từng đối tượng sinh viên, đề tài nghiên cứu này sẽ
chọn đối tượng khảo sát là sinh khối kinh tế, sinh viên khối ngoại ngữ, sinh viên khối kỹ thuật
năm 1, năm 2, năm 3, năm 4.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
-

Thời gian: từ đầu năm đến giữa năm 2012 (tù tháng 1-5/ 2012)

-

Địa điểm nghiên cứu: địa hàn TPHCM

-

Đối tượng nghiên cứu: thực ữạng học kỹ năng mềm của sinh viên một số trường
thuộc khối ngành kinh tế tại Tp.HCM
1.5.

Phương pháp nghiên cứu


Tình hình theo học các lớp kỹ năng mềm của sinh viên hiện nay. Sự phù hợp về địa điểm
đào tạo, học phí và chất lượng của các lớp kỹ năng mềm này.
Lý do sinh viên chưa theo học các lớp kỹ năng mềm
Mức độ hài lòng về các lớp kỹ năng mềm dành cho sinh viên hiện nay.
Nhu cầu học tập kỹ năng mềm của sinh viên ở các trường ĐH Nguyện
vọng của các bạn sinh viên khi theo học các lớp kỹ năng mềm


1.5.2. Phương pháp thu thập thông tin
Thông tin thứ cấp: tiến hành nghiên cứu tại hàn hằng cách sử dụng các thông tin ưên
internet, báo chí, sách nghiên cứu khoa học...
-

Thông tin sơ cấp: tiến hành nghiên cứu tại hiện trường bằng cách khảo sát trực tiếp
các sinh viên (face to face), sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua
bảng câu hỏi chi tiết.
1.5.3. Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu

-

Thông tin thứ cấp: chọn lọc thông tin phù hợp với yêu cầu, ghi rõ nguồn cung cấp
thông tin và tìm kiếm thông tin mới nhất

-

Thông tin sơ cấp: chọn lọc những hảng câu hỏi đúng, được xử lý bằng phần mềm
SPSS 11.5 và tiến hành kiểm định kết quả
1.6.

Kết cấu nghiên cứu:

của xã hội, vừa giải quyết nhu cầu của sinh viên đồng thời tạo điều tốt nhất cho sinh
viên khi tham gia học tập kỹ năng mềm.


CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN cứu 2.1.
Kĩ năng mềm là gì?
Ngày nay trinh độ học vấn và các bằng cấp chưa đủ để quyết định trong việc tuyển dụng
lao động của nhiều doanh nghiệp và người sử dụng lao động. Họ còn căn cứ vào yếu tố cá
nhân như kỹ năng, sự nhạy bén toong sử lý công việc và giao tiếp của mỗi người lao động,
các yếu tố này được người ta gọi là “Kỹ năng mềm” hay Soft skills.
Vậy kỹ năng mềm là gì? Nó ngày càng phổ biến trong đời sống văn phòng, trong cuộc
sống ngày nay và đặc biệt quan trọng toong quá trình làm việc của tất cả mọi người.
Kỹ năng mềm là thuật ngữ dùng để chi các kỹ năng quan trọng toong cuộc sống con
người như: kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, kỹ năng quản lý thời gian,
thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sáng tạo và đổi mới... là những thứ thường không được học
toong nhà trường, không liên quan đến kiến thức chuyên môn, không thế sờ nắm, không phải
là kỹ năng cá tính đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính của từng người. Khác với kỹ
năng cứng, kỹ năng mềm sẽ quyết định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả cao
toong công việc.
Kỹ năng mềm còn mô tả những đặc tính riêng về tính cách của người xin việc như sự
duyên dáng toong giao tiếp, sự thân thiện và tinh thần lạc quan. Kỹ năng mềm bổ trợ cho kỹ
năng cứng phần kiến thức mà các sinh viên đã được học ở trường, là những kỹ năng chính mà
nhà tuyển dụng yêu cầu ở mỗi ứng viên. Những kỹ năng cứng (hard skills) ở nghĩa toái ngược
thường xuất hiện trên bản lý lịch, khả năng học vấn của bạn, kinh nghiệm và sự thành thạo về
chuyên môn. Bạn nghĩ rằng người ta sẽ rất ấn tượng vói hàng loạt các bằng cấp của bạn, một
số lượng lớn các kinh nghiệm có giá trị và những mối quan hệ ở vị trí cao. Nhưng chỉ những
điều đó thôi có thể không đủ để giúp bạn thăng tiến toong công việc. Bởi bên cạnh đó, theo
những báo cáo của ĐH Harvard và Stanford (Hoa Kỳ) bạn còn cần phải có cả những kỹ năng
mềm vì thực tế cho thấy người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75%
còn lại được quyết định bời những kỹ năng mềm họ được toang bị. Chìa khóa dẫn đến thành

Kỹ năng thấu hiểu và thông cảm với người khác



Kỹ năng thương lượng
2.2. Tình hình đào tạo kĩ năng mềm dành cho sinh viên tại TPHCM hiện
nay

Một trong những nguồn cung cấp nhân lực quan trọng là sinh viên tốt nghiệp từ các trường
đại học. Tuy nhiên, cho đến nay, một thực trạng đáng buồn là phần lớn sinh viên tốt nghiệp
chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng vì thiếu những kiến thức, kỹ năng cần
thiết để đảm nhận các vị trí công việc mà họ dự tuyển. Sinh viên khi tét nghiệp đều được trang
bị những kiến thức chuẩn về ngành nghề mà họ được đào tạo trong các trường đại học. Tuy
nhiên, các kỹ năng mềm như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, tìm kiếm thông tin,
giải quyết vấn đề... để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động thì sinh viên còn rất hạn chế.
Theo chuyên gia tại một công ty chuyên cung cấp nhân sự cao cấp có tiếng tại TP Hồ Chí
Minh nhận xét: Neu sinh viên nước ngoài thường chủ động, chuyên nghiệp trong các hoạt
động ngoại khóa hay hoạt động xã hội, thì sinh viên Việt Nam còn thiếu các kỹ năng mềm
trong những hoạt động này. Chính vì thiếu kỹ năng mềm mà khi tốt nghiệp, mặc dù có điểm
số học tập rất cao nhưng họ vẫn không vượt qua được sự gạn lọc của các nhà tuyển dụng. Rất
nhiều nhà doanh nghiệp than phiền rằng, khi tuyển


dụng được nhân viên, họ lại tiếp tục phải đào tạo thêm nhiều kỹ năng cho nhân viên mới.
Theo điều tra của Bộ LĐ-TB & XH, có hơn 13% sinh viên phải được đào tạo lại hoặc hổ sung
kỹ năng, gần 40% phải được kèm cặp lại tại nơi làm việc, 41% cần thời gian làm quen với
công việc.
Lý do chính mà sinh viên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng là do thiếu
các kỹ năng mềm. Nhiều sinh viên chưa nhận ra được vai trò, vị trí của mình trong công việc,
họ chưa có kỹ năng xây dựng hình ảnh cá nhân, vì vậy họ không phát huy được hết năng lực

là xây dựng một doanh nghiệp trường tồn mang thương hiệu Việt. Sứ mệnh cũng là tên gọi.
Là Doanh Nhân muốn biến tất cả các Club thành những doanh nghiệp trẻ, thành đạt, hình
thành một cộng đồng doanh nhân. Với chương trình đào tạo bài bản và những bài tập thực tế
từ chính CEO của NLL, LDN sẽ là những trải nghiệm thực tế đầu tiên trên bước đường làm
doanh nhân của từng thành viên.


Trung tâm đao tạo khu công nghệ cao TPHCM

Trung tâm Đào tạo thuộc Khu công nghệ cao TPHCM (SHTP Training) là 1 trong 3 đơn
vị chức năng chủ lực của Khu công nghệ cao TPHCM được thành lập từ năm 2005 với nhiệm
vụ đào tạo, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư trong khu
công nghệ cao nói riêng và TPHCM nói chung. Cung ứng các gói chương ữình về kỹ năng
làm việc, tiếng Anh và các kỹ năng chuyên ngành kỹ thuật cho cá nhân, doanh nghiệp và
trường học.


Trung tâm hỗ trợ học sinh - sinh viên TPHCM

Trung tâm Hỗ ượ học sinh - sinh viên TP.HCM từ lâu đã được các bạn sinh viên “rỉ tai”
nhau là một trong những nơi đào tạo kỹ năng mềm giá rẻ mà chất lượng cao. Trung tâm có
các lớp kỹ năng như Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xây dựng hình ảnh bản thân, kỹ năng thuyết
trình hiệu quà và kỹ năng hoạch định mục tiêu... với học phí 200.000 đồng/khóa/3 ngày cùng
với những ưu đãi dành riêng cho sinh viên như giảm học phí khi đăng ký theo nhóm và cho
những người xuất sắc muốn học khóa tiếp theo.
Chị Ngô Phan Hà Châu, phó phụ trách phòng tham vấn học đường Trung tâm Hỗ trợ học
sinh - sinh viên TP.HCM cho biết: “Đến với các lớp kỹ năng do trung tâm mờ cũng có không
ít bạn nghi ngại, cho rằng với giá thành rẻ như thế thì chất lượng giảng dạy sẽ không cao hoặc
diễn giả không phải người uy tín. Ngay từ tên gọi là Trung tâm Hỗ trợ học sinh - sinh viên,
do Thành đoàn lập ra với mục đích hỗ trợ các bạn học sinh, sinh viên, nên chi phí dừng lại ở

Những sinh viên muốn theo học lớp huấn luyện có thể nộp hồ sơ dự tuyển. Sinh viên
được chọn qua vòng xét tuyển hồ sơ sẽ tham gia vòng thi tuyển dưới hình thức trắc nghiệm
với 2 nội dung: khả năng tư duy bằng ngôn ngữ và khà năng tư duy bằng


con số. Ban tổ chức sẽ chia thí sinh thành nhiều lượt (mỗi lượt dự kiến 100 hạn) để thi trắc
nghiệm.
Tiếp theo là vòng thi vói các tiêu chí đánh giá từng cá nhân: khả năng xây dựng mối quan
hệ ừong nhóm, khả năng đóng góp cho thành công chung của nhóm, khả năng tương tác trong
môi trường nhóm. Ban giám khảo sẽ đặt ra đề tài cho nhóm thực hiện và chấm điểm cá nhân.
Ở vòng tuyển chọn cuối cùng, thí sinh sẽ được trao đổi, gặp gỡ trực tiếp với lãnh đạo các
doanh nghiệp hàng đầu để được phỏng vấn, trao đồi và được đánh giá các tiêu chí: Khát vọng
bản thân, khả năng lãnh đạo, khả năng thuyết phục, khả năng sáng tạo, khả năng ra quyết định.
Nhìn chung sự ra đời của các trung tâm giảng dạy kỹ năng mềm đã khiến giải tỏa phần
nào “cơn khát” được học kỹ năng mềm của các hạn sinh viên. Việc ra đời các trung tâm đã
chứng tỏ được sự quan tâm của xã hội về kỹ năng mềm ữong quá trình đào tạo nguồn nhân
lực cho nền kinh tế hiện nay, nó khơi nguồn cho quá trình nâng cao kỹ năng mềm, cũng chính
là nâng cao trình độ của lực lượng lao động trẻ đó là các hạn sinh viên. Thế nhưng các trung
tâm này chưa thực sự mang lại hiệu quả hởi nhiều nơi vẫn dạy theo phong trào, các trung tâm
giảng dạy chuyên nghiệp chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đội ngũ giảng viên cũng rất đa dạng, có
thể là những chuyên gia kinh tế, quản trị nhân sự hay chuyên gia tâm lý, truyền thông cũng
được mời lên lớp về các kỹ năng mềm, tuy đa dạng về giảng viên thế nhưng vẫn chưa thực sự
có những giảng viên chuyên về giảng dạy kỹ năng mềm. Một bộ phận giảng viên đứng lớp kỹ
năng mềm chì chọn lọc những thông tin trong và ngoài nước trên Internet để chia sẻ với học
viên, việc giảng dạy còn mang tính chất chia sẻ, nói về lý thuyết là chủ yếu chứ chưa thật sự
là một chương ữình đào tạo chuyên sâu về kỹ năng mềm, giúp các bạn sinh viên thật sự hiến
kỹ năng mềm thành một phần gắn liền với cá tính của mình, thế nên việc đào tạo trở nên chưa
hiệu quả.
Tính bức thiết và cấp hách ừong đào tạo kỹ năng mềm ữong thời đại nền kinh tế đang rơi
vào khủng hoảng như hiện nay dẫn đến việc nên đưa giáo dục kỹ năng mềm vào các cấp học

theo phương pháp cũ, nghe giảng, chép và lớp thường khá đông. Có những sinh viên học rất
tốt các môn ữong trường ĐH nhưng khi làm việc lại gặp rất nhiều khó khăn. Trong hàng trăm
sinh viên chi có số ít người đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng. Điều đó đặt ra câu
hỏi cho chất


lượng giáo dục trong các trường Đại học hiện nay, có thể thấy việc đào tạo của các trường
ĐH vẫn chưa thể hiện hiệu quả rõ nét.
Nhận thấy nhu cầu trang bị KNM cho sinh viên là vấn đề cấp bách nên nhiều trường ĐH,
hên cạnh việc giảng dạy các kiến thức chuyên môn đã có các chương trình đào tạo KNM để
sinh viên tự tin khi hước vào môi trường làm việc mới. PGS, TS Nguyễn Đông Phong, Phó
Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh cho rằng: "Đe xây dựng chuẩn đầu ra cho
sinh viên , ngoài phát huy nội lực hằng việc trang bị những kiến thức chuyên ngành thi ữong
quá trình giảng dạy, chúng ta nên phối hợp với các công ty tổ chức những chương trình hỗ trợ
thêm về KNM cho sinh viên".
Gần đây, Trường ĐH Kinh tế đã đưa chương trình huấn luyện KNM vào chương trình
học bắt buộc của sinh viên. Chương trình đào tạo này hao gồm kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải
quyết vấn đề, kỹ năng xây dựng hình ảnh cá nhân... Và ở từng ngành sẽ có những tiết huấn
luyện, giao lưu với các chuyên gia. Một trong những chương trình huấn luyện KNM thành
công mà nhà trường đã phối hợp với một số doanh nghiệp trong và ngoài nước thực hiện là
"Student Development Program". Thạc sĩ Đỗ Thanh Năm, giảng viên trực tiếp dạy sinh viên
ữong chương trình này cho biết: "sinh viên Việt Nam cũng rất tự tin, sáng tạo và chủ động khi
tham gia chương trình. Tuy nhiên, chỉ với những huổi tập huấn này là chưa đủ để trang bị đầy
đủ KNM cho họ. Trong các chương trình đào tạo ở trường, giảng viên nên lồng ghép KNM
vào để sinh viên nắm hắt nhanh hơn. Bên cạnh đó, việc nắm hắt thông tin các doanh nghiệp
đang có nhu cầu như thế nào để có những chương trình đào tạo KNM phù hợp là rất cần thiết
cho sinh viên".
Hiện nay, nhu càu học thêm về KNM từ phía sinh viên tăng lên rất nhanh kéo theo sự
xuất hiện của các đơn vị đào tạo ngày càng nhiều. Tuy nhiên, ông Trần Thiên Ân cho rằng ý
thức của sinh viên vẫn là điều chủ yếu để họ có thể trang bị kỹ năng hiệu quả nhất. Nếu họ tự

dựng nên một thế hệ xã hội mới mà tính nhân văn về con người được xem trọng.


• Đổi với cá nhân sinh viên
Phân tích kết quả khảo sát 5.000 sinh viên từ các nguồn thông tin của ĐH Quốc gia
TPHCM, ĐH Sư phạm kỹ thuật, ĐH Nông Lâm và khảo sát của Trung tâm Dự báo nhu cầu
nhân lực và thông tin thị trường lao động TPHCM cho thấy, sinh viên đã nhận thức được
những vấn đề về kỹ năng mềm đối với thị trường lao động nhưng chưa rõ nét. Cụ thể, với câu
hỏi: Đe được tuyển dụng và làm việc có hiệu quả, sinh viên cần trang bị những gì? 54% sinh
viên cho rằng, doanh nghiệp cần kiến thức chuyên môn; 29% cho rằng cần kiến thức ngoại
ngữ, tin học; 10% cho rằng cần kỹ năng mềm và 7% cho rằng cần kỹ năng thực hành. Với câu
hỏi “Kỹ năng mềm nào cần thiết nhất để tham gia thị trường lao động?”, 53% trả lời cần kỹ
năng giao tiếp, 26% cho rằng ý thức tổ chức kỷ luật, 12% cần kỹ năng ữình bày thông tin, 9%
cần kỹ năng làm việc nhóm... Mặc dù qua khảo sát, 89% cho rằng cần thiết phải có kỹ năng
mềm, tuy nhiên khi được hỏi nâng cao kỹ năng mềm bằng cách nào thì 43% không có ý kiến,
10% cho rằng thông qua tổ chức Đoàn - hội và các huổi ngoại khóa, 18% cho biết học từ kinh
nghiệm đi làm thêm và 29% cho rằng rèn luyện qua các khóa học - tài liệu.
Chính vì thiếu KNM mà khi tốt nghiệp, mặc dù có điểm số học tập rất cao nhưng các hạn
sinh viên vẫn không vượt qua "lưới" của các nhà tuyển dụng. Rất nhiều nhà doanh nghiệp
than phiền rằng, khi tuyển dụng được nhân viên, họ lại tiếp tục phải đào tạo thêm nhiều kỹ
năng cho nhân viên mói. Theo điều toa của Bộ LĐ-TB và XH, có hơn 13% sinh viên phải
được đào tạo lại hoặc bổ sung kỹ năng, gần 40% phải được kèm cặp lại tại nơi làm việc, 41%
cần thời gian làm quen với công việc. Ông Trần Thiên Ân, Phó Giám đốc Ngân hàng Thương
mại cổ phần Sài Gòn cho biết: "Dưới góc độ là một nhà kinh doanh, tôi thấy sinh viên được
toang bị khá kỹ lưỡng và đầy đủ những kiến thức chuyên ngành. Tuy nhiên, họ vẫn chưa đáp
ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng là do thiếu các KNM. Nhiều sinh viên chưa nhận ra
được vai trò, vị trí của mình toong công việc, họ chưa có kỹ năng xây dựng hình ảnh cá nhân,
vì vậy họ không phát huy được hết năng lực của mình để trở thành người thành đạt".
Một trong những KNM quan trọng nhất là làm việc nhóm, nhưng phần lớn sinh viên hiện
nay mang tính cá nhân quá cao. Thạc sĩ Đỗ Thanh Năm, Giám đốc Công ty

(b8): Thái độ sống (b9):
Sự tự tin (blO): nắm bắt
cơ hội (bl 1): kỹ năng
mềm cần (bl2): ứng dụng

Hình 2.1. Mô hình đề xuất trong nghiên cứu

của củ mềm


2.6. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu định tính:

2.6.1.

Nghiên cứu định tính thep phương pháp thảo luận nhóm, số thành viên trong nhóm
là 8
2.6.1.1.

Chọn mẫu:

Mầu được chọn gồm 8 sinh viên đại học, ữong đó tỷ lệ (nam / nữ) và tỷ lệ giữa các
năm học là bằng nhau (bảng 6.la)
Bảng 2.1. Cấu trúc nhóm thảo luận
Đại lượng
thống kê

Năm 1

Năm 2


1
12.5%

1
12.5%

1
12.5%

1
1
12.5% 12.5%

Nam

Ghi chú

Nữ
1
12.5%

Mau
thuận tiện

2.6.I.2. Thu thập dữ liệu:
Thảo luận nhóm tập trung vào các yếu tố đến nhu cầu học kỹ năng mềm của sinh
viên và mức độ ảnh hưởng khác nhau của các yếu tố này nếu chia ra làm 3 mức độ (cao,
trung bình, thấp).
Không gian thảo luận là ngoài ữời để tạo cảm giác thoải mái.

3
4
5

Sinh viên học hỏi được nhiều điều mới mẻ thông qua kỹ
năng mềm
Kỹ năng mềm phù hợp với sở thích
Kỹ năng mềm làm cho việc học trở nên thú vị và hiệu quả

Ghi chú

Trung bình
Thấp
Cao

Thêm mới

hơn.
6

Kỹ năng mềm có thế được áp dụng vào cuộc sống một

Cao

cách hiệu quả.
7
8
9
10


nghĩ cũng như giọng văn của đối tượng là sinh viên. Các biến quan sát được đo lường trôn
thang đo Likert 5 điểm, mức độ đồng ý tăng dần từ 1 đến 5, với 1 = “rất không đồng ý” và
5 - “rất đồng ý”


Thang đo “niềm tin” của sinh viên
Niềm tin của sinh viên đại học về tầm quan họng của việc học kỹ năng mềm là do tác
động từ 2 yếu tố “môi trường xã hội” và “yếu tố cá nhân”. Theo Fishbein & Ajzen (1975
theo Kades, 2002, te,83) thì có 3 loại niềm tin. Niềm tin mô tả (descriptive belief) có được
là do thông tin người dùng thu được trực tiếp từ sản phẩm, niềm tin thông tin
(informational belief) có được từ các thông tin người dùng thu được gián tiếp và niềm tin
suy luận (inferential belief) có được từ sự suy luận từ những thông tin khác. Thang đo
niềm tin có thể dùng sáu hiến quan sát sau:
(al): Bạn tin rằng kỹ năng mềm sẽ giúp bạn kiếm được công việc tốt sau khi ra trường
(a2): Bạn tin rằng các công ty, doanh nghiệp rất cần các sinh viên có kỹ năng mềm tốt
(a3): Bạn tin rằng bạn học được nhiều điều mới mẻ qua các kỹ năng mềm
(a4): Bạn tin rằng các kỹ năng mềm phù hợp với sở thích của hạn
(a5): Bạn tin rằng các kỹ năng mềm làm cho việc học của hạn thú vị hơn
(a6): Bạn tin rằng học nhóm và làm việc theo nhóm có ảnh hường tích cực đến
việc học các kỹ năng mềm
Thang đo “sự đánh giá” của sinh viên:
Sự đánh giá hao gồm 6 phần thể hiện cả sự đánh giá theo lý ưí và cảm xúc. Nghiên cứu dùng
tám biến quan sát sau trong thang đo “sự đánh giá”:
(bl): Bạn cho rằng kiến thức học ở trường tạo nên sự thành công trong cuộc sống
(b2): Bạn cho rằng các kỹ năng mềm tạo nên sự thành công trong cuộc sống (b3): Bạn
cho rằng nguồn lực tài chính tạo nên sự thành công trong cuộc sống (b4): Bạn cho
rằng ngoại hình tạo nên sự thành công trong cuộc sống (b5): Bạn cho rằng kinh
nghiệm tạo nên sự thành công toong cuộc sống (b6): Bạn cho rằng mối quan hệ rộng
tạo nên sự thành công toong cuộc sống (b7): Bạn cho rằng nền tảng gia đình tốt tạo
nên sự thành công toong cuộc sống (b8): Bạn cho rằng thái độ sống tạo nên sự thành

Yếu tố ảnh hưởng khác:
(fl): Có bạn bè và người thân đã từng học kỹ năng mềm
(f2): Giảng viên ở trường giới thiệu về kỹ năng mềm


2.Ó.2.2. Mấu nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin:
Thông tin trong nghiên cứu là thông tin sơ cấp, với phương pháp thu thập là bảng câu
hỏi trực tiếp (phụ lục pl.l). Mầu tíong nghiên cứu được chọn là mẫu ngẫu nhiên trên cơ sở
74 trường Đại học tại Tp.HCM (phụ lục pl.4) chọn ra 5 trường khá quen thuộc với sinh
viên có kích thước mẫu là 300. số bảng câu hỏi dự kiến phát ra là 400. Trước khi phát
bảng câu hỏi chính thức (phụ lục pl.2), bảng câu hỏi sẽ được chỉnh sửa qua khảo sát thử
ngẫu nhiên. Thời gian dự kiến thực hiện khảo sát là tháng 3/2012


Đối tuợng khảo sát: sinh viên trường ĐH Tài chính - Marketing, sinh viên
trường ĐH HUFLIT, sinh viên ĐH Ngoại Thương, sinh viên trường ĐH Kinh
tế, sinh viên trường ĐH Lao động xã hội. Mầu nghiên cứu sẽ tiến hành khảo
sát sinh viên khối ngành Kinh doanh và Quản lý.



Số lượng bảng câu hối:300 bảng



Phương thức điều tra: Điều tea trực tiếp (face-to-face), gởi bảng câu hỏi trực
tiếp đến người được phỏng vấn




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status