Đặc điểm ngộ độc ở trẻ nhập khoa hồi sức tích cực – chống độc Bệnh viện Nhi Đồng 1 - Pdf 59

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018

Nghiên cứu Y học

ĐẶC ĐIỂM NGỘ ĐỘC Ở TRẺ NHẬP KHOA HỒI SỨC
TÍCH CỰC – CHỐNG ĐỘC BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1
Lê Phước Truyền*, Phùng Nguyễn Thế Nguyên**, Trần Diệp Tuấn**

TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm ngộ độc ở trẻ nhập khoa Hồi Sức Tích Cực – Chống Độc bệnh viện Nhi
Đồng 1 từ 01/01/2014 – 31/12/2016.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca.
Kết quả: Có 31 trẻ bị ngộ độc trong lô nghiên cứu, tỉ lệ nữ/nam là 4,2/1; phần lớn trẻ trên 10 tuổi và ở
TP.HCM. Ngộ độc nhiều nhất theo thứ tự là: paraquat (39%), paracetamol (19%), phospho hữu cơ (16%),
an thần – chống trầm cảm (13%). Phần lớn các trẻ được phát hiện sớm sau ngộ độc. Đa số là do tự tử, có 1
trường hợp bị đầu độc. Nguyên nhân tự tử thường do mâu thuẫn tình cảm trong gia đình (80%), bạn bè
(16%). Trẻ ngộ độc do vô ý thường nhỏ hơn 5 tuổi. Các tổn thương cơ quan tuỳ theo loại ngộ độc gồm gan,
thận, phổi, thần kinh. Có những trường hợp còn xử trí chưa thích hợp ở tuyến trước.Trong 3 trẻ tử vong
tại bệnh viện, có 1 trẻ ngộ độc paraquat, 1 trẻ ngộ độc phospho hữu cơ nặng, 1 trẻ ngộ độc thuốc bảo vệ thực
vật Hapmisu; ó 6 trẻ ngộ độc paraquat khi được cho về đã có suy thận.
Kết luận: Trong nghiên cứu này, các trường hợp tử vong thường do ngộ độc paraquat hay do đến bệnh
viện trễ, nguyên nhân thường do tự tử. Cần có biện pháp hỗ trợ từ nhiều phía: gia đình, xã hội, nhà trường
để giúp đỡ trẻ.
Từ khóa: Ngộ độc, trẻ em, paraquat, phospho hữu cơ, paracetamol.

ABSTRACT
THE FEATURES OFACUTE POISONING CHILDREN FROM INTENSIVE CARE UNIT – CHILDREN’S
HOSPITAL 1
Le Phuoc Truyen, Phung Nguyen The Nguyên, Tran Diep Tuan
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 22 - No 4- 2018: 109 – 117
Objective: To investigate the features ofacute poisoning children from Intensive Care Unit –

trường hợp trẻ < 6 tuổi, 10 trường hợp trẻ 6-12
Ngộ độc ở trẻ em là một vấn đề thường
tuổi và 61 trường hợp trẻ 13-19 tuổi tử vong
gặp với các bác sĩ cấp cứu. Hàng năm, hơn
do ngộ độc(7,9).
50.000 trẻ em dưới 5 tuổi đến khám tại các
Theo nghiên cứu của Bạch Văn Cam từ năm
phòng cấp cứu với lo lắng về việc tiếp xúc với
2003-2007 ở 83 trường hợp ngộ độc thuốc bảo vệ
thuốc không chủ ý và gần một nửa trong số tất
thực vật (TBVTV) nhập khoa cấp cứu bệnh viện
cả các cuộc gọi đến các trung tâm chống độc là
Nhi Đồng 1 (BVNĐ1) từ ngày 1/1/2003 dành cho trẻ em dưới 6 tuổi. Mặc dù các
31/12/2007. Tuổi trung bình 9,65 ± 5,19 tuổi, hầu
trường hợp uống nhầm ở trẻ em hiếm khi gây
hết ngộ độc qua đường miệng (97,6%). Bệnh nhi
tử vong, các thuốc thường gây ngộ độc và tử
ở tỉnh chiếm gần 3/4 số ca. Ngộ độc do tự tử
vong ở trẻ em bao gồm thuốc giảm đau dạng
chiếm tỷ lệ cao nhất 57,8%, tập trung ở nhóm 13 thuốc phiện, thuốc an thần/thuốc ngủ và thuốc
15 tuổi (79,2%), đặc biệt có 9 trẻ bị đầu độc do
tim mạch. Các y học chứng cớ trong đánh giá
cha/mẹ. Thời gian từ lúc ngộ độc đến BVNĐ1
và quản lý các trường hợp ngộ độc ở trẻ em
trung bình là 18,5 ± 44,3 giờ. Tần suất ngộ độc
thông thường bao gồm phần lớn các báo cáo
của thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột
trường hợp và các nghiên cứu hồi cứu(3).
theo thứ tự là 46,9%, 30%, 20,4%. Tác nhân gây
Nước ta đang trong giai đoạn kinh tế phát

phospho hữu cơ và carbamat được cho atropin,
đáng kể ở trẻ em. Theo Bergen G, hàng năm có
trong đó có 4 trường hợp phối hợp với
hơn 1 triệu trường hợp ngộ độc ở trẻ nhỏ hơn
pralidoxim (PAM). Ngộ độc paraquat có 5 trẻ
6 tuổi, 130.000 đến 140.000 trường hợp ngộ
được thay huyết tương. Có 2 trường hợp viêm
độc ở trẻ 6-12 tuổi, 150.000 đến 160.000 trường
phổi hít sau rửa dạ dày và uống than hoạt tại
hợp ngộ độc ở trẻ từ 13-19 tuổi. Hơn 90% các
tuyến trước được cứu sống. Tử vong 8 trường
trường hợp ngộ độc sảy ra ở nhà. Theo Mowry
hợp chiếm tỉ lệ 9,6%, trong đó paraquat (4 ca),
JB, phần lớn các trường hợp ngộ độc ở trẻ nhỏ
phospho hữu cơ (1 ca), carbamat (1 ca), thuốc
là vô ý. Ngược lại, hơn một nửa ngộ độc ở trẻ

110


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018

Nghiên cứu Y học

diệt chuột Trung Quốc (1 ca), thuốc trừ sâu
không rõ loại (1 ca)(1).

Thu thập số liệu

Nghiên cứu này mô tả các đặc điểm của trẻ

nam chiếm 19%. Phần lớn trẻ ở thành phố Hồ
Chí Minh (10 trường hợp), Long An (4), Tiền
Giang (3); ngoài ra còn có Bến Tre, Bình
Phước, Khánh Hoà, Tây Ninh, Vĩnh Long (2),
và Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên Giang, Trà Vinh
(1). Trong 31 trẻ này, có 3 trẻ còn nhỏ (2 tuổi, 3
tuổi), 28 trẻ trong độ tuổi đi học. Trong 28 trẻ
này, có 3 trẻ đã nghỉ học vì học kém, điều kiện
gia đình. Trong 25 trẻ đang đi học, có 16 trẻ
đang học đúng lớp theo tuổi, 11 trẻ học học
kém hơn, vì học kém, ở lại lớp.

Phương pháp nghiên cứu

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát đặc điểm ngộ độc ở trẻ nhập khoa
Hồi Sức Tích Cực – Chống Độc Bệnh viện Nhi
Đồng 1 từ 01/01/2014 – 31/12/2016.

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca.
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhi được chẩn đoán ngộ độc
điều trị tại khoa Hồi Sức Tích Cực - Chống
Độc bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 01/01/2014
đến tháng 31/12/2016.

Tiêu chuẩn chọn mẫu
Tiêu chuẩn đưa vào

Tần suất (%)
12 (39%)
6 (19,3%)
5 (16,1%)
4 (12,8%)
2 (6,4%)
1 (3,2%)
1 (3,2%)
31 (100%)

111


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018

Nghiên cứu Y học
Bảng 2: Thời gian từ lúc ngộ độc đến khi phát hiện
Thời gian
< 6h
6-24 h
> 24h

N (%)
18 (58%)
10 (32%)
3 (10%)

Nhận xét: Phần lớn các trẻ được phát hiện
sớm sau khi ngộ độc. Các trẻ nhỏ khi ngộ độc khai
tự khai với gia đình hoặc được phát hiện khi có

khám có loét họng, chưa thở co kéo, creatinin
= 146 mcmol/l, x-quang ngực thẳng có hình
ảnh xơ phổi. Emm được cho về sau đó.
Trình độ học vấn ba mẹ trẻ
Trình độ học vấn của ba trẻ
Có 2 trường hợp ba trẻ có trình độ đại học,
nghề nghiệp là công nhân viên, 2 trẻ ngày ngộ
độ là do vô ý, một trường hợp là trẻ 3 tuổi
uống nhầm promethazine, trường hợp thứ hai
là trẻ nữ 8 tuổi, ngộ độc khí gas máy lạnh
chung với gia đình

112

Bảng 4: Trình độ học vấn ba mẹ trẻ
Trình độ học vấn
Cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Đại học

Tần suất (%)
17 (55%)
5 (16%)
7 (22.5%)
2 (6.5%)

Có 17 trường hợp cha mẹ trẻ chỉ học hết cấp
1, cha mẹ trẻ làm nông, công nhân, thợ, lao động
tự do. Các trường hợp trẻ tự tử có cha mẹ học

này được phát hiện trễ sau 5 ngày, nhập viện
trong tình trạng lơ mơ, đã được đặt nội khí
quản, xét nghiệm paraquat máu dương tính,
creatinin máu là 582 mcmol/l, X-Quang xơ
phổi. Trẻ tử vong sau đó. Một trẻ còn lại cũng


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018
là trẻ nam, nhưng là đồng tính nam, đang yêu
đương với bạn trai cùng lớp, bị gia đình ngăn
cấm, em bỏ đi chơi với bạn trai, bị gia đình
ngăn cấm, em tự tử bằng uống paraquat. Trẻ
này đã tự tử nhiều lần trước đó, nhưng được
cứu. Lần này trẻ pha paraquat với nhớt xe
máy bởi trẻ biết được nếu pha paraquat với
nhớt xe máy trẻ sẽ không được rửa dạ dày. Em
nhập viện 9h sau khi uống paraquat trong tình
trạng tỉnh. Chưa suy hô hấp, nhưng creatinin
máu là 120 mcmol/l, x-quang ngực có hình ảnh
xơ phổi, em được cho về sau đó.
20 trẻ còn lại tự tử do mâu thuẫn trong gia
đình. Trong đó, có trẻ do bị ba la, mẹ la, ông
nội la, bà nội la. Nguyên nhân bị la có thể do
học kém, cúp học, bỏ đi chơi với bạn, nuôi gà
đá. Có những trường hợp trẻ không do bị la
mà do ba mẹ mâu thuẫn, trẻ buồn nên tự tử,
hay do trẻ sợ ba hay mẹ rời xa trẻ. Mỗi trẻ có
một hoàn cảnh khác nhau. Do trẻ còn nhỏ, tâm
lý chưa ổn định, nhưng tác động dù nhỏ ở gia
đình kèm theo tâm lý của trẻ có thể làm cho

này bị suy hô hấp được đặt nội khí quản, rửa
dạ dày, sử dụng atropin, PAM, trẻ tỉnh dần,
được rút nội khí quản và xuất viện sau 1 tuần.
Còn 3 trẻ uống thuốc gồm thuốc paracetamol
(acetaminophen),
promethazine,
phenobarbital. Các thuốc này có sẵn trong gia
đình. Do không được cất cẩn thận nên trẻ lấy
uống và bị ngộ độc. Trẻ ngộ độc paracetamol
được điều trị với N-acetylcysteine (NAC), 2 trẻ
còn lại được điều trị hỗ trợ. Cả 3 trẻ này đều
được xuất viện sau đó.
Tất cả các trẻ ngộ độc vô ý đều sống.
Cơ quan tổn thương
Cơ quan tổn thương ghi nhận gồm gan, thận,
phổi, thần kinh.
Có 5 trường hợp có tổn thương gan. Tổn
thương gan là tăng men gan AST, ALT, không
có trường hợp nào tăng bilirubin máu. Trong 5
trường hợp đó, có 3 trường hợp tăng men gan
là do ngộ độc paracetamol, 2 trường hợp còn
lại, một trường hợp là ngộ độc paraquat giai
đoạn trễ, một trường hợp là ngộ độc thuốc bảo
vệ thực vật hapmisu nhập viện trong giai
đoạn trễ, bệnh nhân bị sốc kéo dài, lactate =
25, 97 tổn thương đa cơ quan, tổn thương gan
trong bệnh cảnh tổn thương đa cơ quan.
Có 8 trường hợp tổn thương thận,
creatinin tăng cao. Trong 8 trường hợp đó, có
7 trường hợp là do ngộ độc paraquat, trường

cho ói, những trường hợp còn lại trẻ được
nhanh chóng đưa đến bệnh viện. Cho đến
hiện nay, để xử trí các ngộ độc tại hiện trường
chủ yếu là nhanh chóng đưa nạn nhân ra khỏi
khu vực nguy hiểm, nếu các thuốc không gây
hít sặc có thể mọc họng cho ói, sau đó nhanh
chóng đưa nạn nhân đến bệnh viện.
Xử trí tại tuyến trước
27 trường hợp có xử trí tại tuyến trước, có
3 trường hợp xử trí không thích hợp, bao gồm:
một trường hợp trẻ được chẩn đoán ngộ độc
phospho hữu cơ, không rửa dạ dày, một
trường hợp trẻ được chẩn đoán ngộ độc
phospho hữu cơ, có rửa dạ dày, không cho
atropin, một trường hợp trẻ được chẩn đoán
ngộ độc paraquat, thở oxy cannula, chuyển
bệnh viện Nhi Đồng 1.
Các xử trí tại tuyến trước chủ yếu gồm rửa
dạ dày, than hoạt, atropin - PAM (ngộ độc
phospho hữu cơ), N-acetylcysteine (NAC)
(ngộ độc paracetamol), nhanh chóng chuyển
đến bệnh viện Nhi Đồng 1 để thay huyết
tương (ngộ độc paraquat).

114

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018
Xử trí tại cấp cứu
Các xử trí tại cấp cứu gồm đặt nội khí quản
cho trẻ có suy hô hấp. Tất cả các trẻ không có

adenosine
dinucleotide
phosphate (NADPH) tạo ra các gốc tự do có
hoạt tính cao, bao gồm các ion âm superoxide
dẫn đến chết tế bào và phá huỷ mô. Paraquat
gắn kết chọn lọc với các tế bào phế nang và
dẫn đến hoại tử, chết tế bào và tăng sinh mô
liên kết và xơ hoá phổi sau đó. Paraquat được
hấp thu nhanh chóng qua đường tiêu hoá và
đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng
2h sau uống. BN uống sau khi ăn no làm chậm


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 22 * Số 4 * 2018
quá trình hấp thu đáng kể. Mặc dù được hấp
thu rất ít qua da lành, paraquat có thể được
hấp thu qua da bị tổn thương hay tiếp xúc
nồng độ cao trong thời gian dài. Tử vong
thường do uống nhưng cũng có thể qua
đường tiêm bắp, qua âm đạo, qua da hay hiếm
hơn là qua đường hít(8,13) .
Các trẻ ngộ độc paraquat do tự tử ở lứa tuổi
thiếu niên, tâm lý giai đoạn này chưa ổn định, dễ
bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài, ngoài ra trẻ
còn phải chịu nhiều áp lực từ gia đình, nhà
trường và xã hội, đặc biệt các trẻ có hoàn cảnh
gia đình phức tạp. Do đó, xã hội cần có biện
pháp hỗ trợ cho các trẻ này. Có 1 trường hợp bé
gái bị ngộ độc paraquat do bị đầu độc, do chính
bạn trai của em đầu đầu sau khi bản thân cũng

than hoạt hoặc Fuller’s Earth và cho thở oxy
(chất xúc tác cho quá trình xơ phổi diễn ra nhanh
hơn). Tại tuyến trước, xử trí đầy đủ nhất là rửa
dạ dày (đối với trẻ có thời gian ngộ độc dưới 24
giờ), cho trẻ uống Fuller’s Earth, nếu không có
Fuller’s Earth có thể dùng than hoạt, truyền dịch
tăng thải paraquat qua đường thận, không cho
trẻ thở oxy (trừ khi có biểu hiện tụt oxy máu) và
nhanh chóng chuyển lên tuyến trên nếu không
có các phương tiện lọc máu, thay máu. Phù hợp
với nghiên cứu của Bùi Quốc Thắng và cộng sự
trước đó(2).
Trong nghiên cứu của Hà Trần Hưng và
cộng sự, tiên lượng bệnh nhân phụ thuộc vào
lượng uống, bệnh nhân nhỏ tuổi nhất chỉ 9 tuổi
do uống nhầm một ngụm thuốc paraquat đã tử
vong. Triệu chứng tiêu hoá thường gặp, các bệnh
nhân nhập viện trong tình trạng tỉnh táo(6). Tổn
thương gan, thận và xơ phổi là thường gặp, phù
hợp với nghiên cứu của chúng tôi.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồng Trường,
Vũ Đình Thắng, Đỗ Quốc Huy về ứng dụng lọc
máu hấp phụ bằng cột than hoạt tính trong điều
trị ngộ độc paraquat ở 30 bệnh nhân ngộ độc
paraquat nhập viện trong thời gian 2 năm
(03/2009 - 03/2011) được điều trị bằng các biện
pháp kinh điển kết hợp với lọc máu hấp phụ cho
kết quả: 13 (43%) bệnh nhân sống, nồng độ
paraquat/nước tiểu sau lọc máu hấp phụ giảm có
ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Biến chứng thường

mức độ ngộ độc, men cholinesterase thường
giảm tuy không tương xứng với mức độ lâm
sàng, nguyên nhân tử vong thường do suy hô
hấp, đặc biệt là suy hô hấp sớm trong 6 giờ
đầu(11). Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn
các bệnh nhân ngộ độc phospho hữu cơ do uống
nhầm, nên lượng phospho hữu cơ uống vào ít,
mức độ ngộ độc nhẹ. Tuy nhiên, cũng có các
trường hợp ngộ độc phospho hữu cơ do tự tử,
lượng uống nhiều, suy hô hấp sớm, mức độ ngộ
độc nặng, phải sử dụng atropin liều cao và
pralidoxim kéo dài. Đặc biệt, có một trường hợp
bệnh nhân tự tử bằng phospho hữu cơ, uống
lượng nhiều và nhập viện trễ, bệnh nhân này tử
vong dù được điều trị tích cực.
Trong nghiên cứu của Nghiêm Phương Thảo
ở 46 trường hợp ngộ độc paracetamol tại bệnh
viện Nhi Đồng 1, nguyên nhân thường gặp nhất
là tự tử (41,3%) và tò mò (30,4%). Phần lớn các
trường hợp đến từ thành phố Hồ Chí Minh
(82,6%). Triệu chứng tiêu hoá thường gặp nhất
(32,6%), các thay đổi sinh hóa quan trọng là:
giảm TP(26,1%), kéo dài TCK (13%), giảm
fibrinogen (4,3%), tăng SGOT (5,3%), tăng SGPT
(7,9%), hạ đường huyết (14%), tăng Ammoniac
máu (77,8%). Đa số các trường hợp này không
được xử trí tại nhà (73,9%) và không được xử trí
đúng và đầy đủ tại tuyến trước. Tại bệnh viện
Nhi Đồng, phần lớn các trường hợp được rửa dạ
dày sớm (46% trước 3 giờ sau ngộ độc) và uống

vong thường do ngộ độc paraquat hay do đến
bệnh viện trễ, nguyên nhân thường do tự tử.
Cần có biện pháp hỗ trợ từ nhiều phía: gia đình,
xã hội, nhà trường để giúp đỡ trẻ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

2.

3.

4.
5.

6.

Bạch Văn Cam, Phạm Thị Thanh Thủy (2009) "Khảo Sát Đặc
Điểm Ngộ Độc Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Ở Trẻ Em Tại Bệnh
Viện Nhi Đồng 1 Trong Năm Năm 2003-2007". Tạp chí Y học
thành phố Hồ Chí Minh, 13 (5), tr.46.
Bùi Quốc Thắng, Tô Phúc Châu (2009) "Đặc Điểm Ngộ Độc
Paraquat Ở Trẻ Em Nhập Khoa Cấp Cứu Bệnh Viện Nhi
Đồng 1 Năm 1998 - 2007". Tạp chí Y học TPHCM, 13 (1), tr.2227.
Calello DP, Henretig FM (2014) "Pediatric toxicology:
specialized approach to the poisoned child". Emerg Med Clin
North Am, 32 (1), p.29-52.
Glenn L (2015) "Pick your poison: what's new in poison
control for the preschooler". J Pediatr Nurs, 30 (2), p.395-401.
Hà Trần Hưng, Hà Thị Bích Vân (2015) "Nguyên Nhân Gây

Dịch Tễ Ngộ Độc Paracetamol Tại Khoa Cấp Cứu Bệnh Viện
Nhi Đồng I Từ 01/01/2003 Đến 31/05/2009". Tạp chí Y học thành
phố Hồ Chí Minh, 14 (1), tr.35.
Nguyên Đức Lư, Hồ Ngọc Ánh (2011) "Nghiên Cứu Tình
Trạng Ngộ Độc Hoá Chất Trừ Sâu Phospho Hữu Cơ Tại Một

Nghiên cứu Y học

12.

13.

Số Tỉnh Miền Trung - Tây Nguyên". Y Học Thực Hành, 798
(12), tr.27.
Nguyễn Hồng Trường, Vũ Đình Thắng. (2011) "Nghiên Cứu
Ứng Dụng Lọc Máu Hấp Phụ Bằng Cột Than Hoạt Tính
Trong Điều Trị Ngộ Độc Paraquat". Tạp chí Y học thành phố Hồ
Chí Minh, 15 (Supplement of No 4 - 2011), tr. 33-37.
Sandhu JS, Dhiman A (2003) "Outcome of paraquat poisoning
- a five year study". Indian Journal of Nephrology, 13 (2), p.64-64.

Ngày nhận bài báo:

09/03/2018

Ngày phản biện nhận xét bài báo:

11/05/2018

Ngày bài báo được đăng:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status