BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
RA NƯỚC NGOÀI
Ngành: Kinh tế
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62.31.01.06
VŨ THỊ MINH NGỌC
ii
Hà Nội – 2016
LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Vũ Chí Lộc
2. TS. Nguyễn Thị Việt Hoa
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Anh
Trường Đại học Kinh tế ĐH Quốc gia HN
Quản trị doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế phục hồi, tại ĐH
KTQD tháng 10/2014.
5. Vũ Thị Minh Ngọc (2014d), Định hướng chính sách khuyến khích các
doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào ASEAN đến năm 2020, Chủ nhiệm để
tài NCKH cấp cơ sở, Trường ĐHKTQD, 2013 – 2014.
6. Đàm Quang Vinh, Nguyễn Quang Huy (chủ biên), Vũ Thị Minh Ngọc,
(thành viên), (2014), Giáo trình tài chính quốc tế, Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam
7. Hoàng Đức Thân (chủ nhiệm), Vũ Thị Minh Ngọc (thành viên), (2014),
Xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2013, Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp cơ sở trọng điểm, Đại học Kinh tế quốc dân.
8. Vũ Thị Minh Ngọc (2015a), Một số gợi ý về giải pháp hoàn thiện công
tác quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài đến năm 2020, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại No
73/2015.
9. Vũ Thị Minh Ngọc (2015b), Quan hệ đầu tư ASEAN – Việt Nam – Hoa
Kỳ: 20 năm hợp tác và phát triển, Kỷ yếu hội hảo khoa học (cấp quốc
gia): "ASEAN Việt Nam Hoa Kỳ: 20 năm hợp tác và phát triển", tại ĐH
Ngoại thương HN tháng 11/2015.
10. Vũ Thị Minh Ngọc (2015c), Tăng cường công tác giám sát hoạt động đầu
tư ra nước ngoài của Việt Nam thông qua hệ thống thông tin quốc gia,
Hội thảo quốc tế dành cho các nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực kinh tế và
kinh doanh lần thứ nhất (ICYREB 2015) (Hội thảo quốc tế): “Kinh tế,
quản lý, quản trị kinh doanh trong bối cảnh toàn cầu hóa”, tại ĐH KTQD
hoạt động đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài” với hy
vọng có thể phục vụ công tác xây dựng và hoạch định chính sách của nhà nước, đồng
thời góp phần giải quyết được một số vướng mắc của doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt
động đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài, qua đó, nâng cao
hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài
nước
2.1. Các nghiên cứu ngoài nước
Có nhiều công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) và quản lý
OFDI của các quốc gia trên thế giới, về cả lý luận lẫn thực tiễn áp dụng. Song chưa có đề
tài nào nghiên cứu về quản lý nhà nước của Việt Nam đối với hoạt động đầu tư ra
nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN).
Các lý thuyết về OFDI của Venon, mô hình OLI và IDP của Dunning, cũng như lý
thuyết về thể chế và các nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của nhà nước đối với hoạt
động OFDI ở một số thị trường mới nổi (của các tác giả như Peng, 2002; Wright,
Filatotchev, Hoskisson, & Peng, 2005 Boddewyn và Brewer, 1994; IMF, 2005; Helleiner
1997, p.9; UNCTAD 2005; Svetla Marinova, John Child and Marin Marinov, 2012 và
một số tác giả khác) sẽ được tiếp thu có chọn lọc trong Luận án.
Về đổi mới quản lý, tác giả dựa trên các quan điểm và phân tích của một số tác
giả như Abernathy & Utterback, 1978; Abernathy & Clark, 1985; Damanpour, Szabat &
Evan, 1989; Drucker, 1985; Nonaka & Takeuchi, 1995; Schumpeter, 1934, Birkinshaw,
Hamel & Mol, 2008; Hamel, 2006; Mol & Birkinshaw, 2007; 2009.
2.2. Các nghiên cứu trong nước
Có một số đề tài nghiên cứu về OFDI và quản lý nhà nước về đầu tư của các tác
giả như Nguyễn Hữu Huy Nhựt, 2011; Nguyễn Hải Đăng, 2013; Đinh Trọng Thịnh,
2006; Võ Thanh Thu, Ngô Thị Ngọc Huyền, 2009; Phạm Tiến, 2011 ... (liên quan đến
hoạt động OFDI); Nguyễn Thị Mão, 2001; Ngô Hoài Anh, 2006; Ngô Văn Hiền, 2008;
hoạt động đầu tư trực tiếp của các DN VN ra nước ngoài theo sự thay đổi của hệ thống
chính sách pháp luật của Nhà nước, để thấy được tác động và mối tương quan giữa
quản lý nhà nước và hoạt động OFDI của doanh nghiệp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Luận án nghiên cứu hoạt động quản lý tại các cơ quan nhà nước
như: Chính phủ, Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, NHNN. Đồng thời Luận
án cũng nghiên cứu hoạt động đầu tư của một số DN VN, điển hình như: Viettel, BIDV,
Hoàng Anh Gia Lai, Tập đoàn dầu khí Việt Nam, và một số doanh nghiệp khác; các
quan điểm, định hướng, quy định, chính sách quản lý của Nhà nước điều tiết trong lĩnh
vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu hoạt động đầu tư ra nước ngoài của
các doanh nghiệp từ năm 1989 đến năm 2014, đồng thời nghiên cứu hệ thống quản lý
nhà nước về lĩnh vực OFDI từ năm 1999 cho đến nay. Năm 1999 là mốc thời gian bắt
đầu ban hành Nghị định 22/1999, là văn bản được coi là đặt nền móng cho hoạt động
quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Về nội dung nghiên cứu: Tác giả tiếp cận trên góc độ nội dung quản lý nhà nước
để phân tích hoạt động quản lý nhà nước và đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực
8
OFDI, từ đó, đưa ra các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với OFDI trong bối cảnh
kinh tế mới.
5. Phương pháp nghiên cứu, khung lý thuyết, nguồn thông tin và phương
pháp xử lý thông tin
5.1. Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, các phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh… để
phân tích, làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến cơ sở lý luận và thực trạng đổi mới
quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI.
Ngoài ra, tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp định tính trong nghiên cứu, trong đó,
Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan; Diễn đàn Thương mại và Phát
triển LHQ – UNCTAD... Bên cạnh đó, Luận án còn sử dụng dữ liệu thứ cấp thu thập
được từ Website của một số DN VN đầu tư ra nước ngoài.
Đối với dữ liệu sơ cấp: Số liệu thu thập được thông qua việc gửi phiếu điều
tra các DN OFDI và các cơ quan quản lý, kết hợp với phỏng vấn sâu chuyên gia.
Mẫu điều tra:
Đối với doanh nghiệp: Điều tra trực tiếp 50 cán bộ phụ trách hoạt động OFDI tại
các doanh nghiệp đã và đang thực hiện OFDI. Mẫu 46 doanh nghiệp đảm bảo được tính
đại diện, cả về tỷ lệ DN khảo sát trên tổng số DN đầu tư ra nước ngoài của VN; cả về
tỷ lệ vốn đầu tư; về cơ cấu DN Nhà nước và DN tư nhân; về lĩnh vực đầu tư.
Đối với nhà quản lý tại các cơ quan quản lý chuyên ngành : 50 nhà quản lý tại các
Bộ, ngành liên quan đến quản lý OFDI.
Đối với chuyên gia: Phỏng vấn điều tra 20 chuyên gia kinh tế: là các nhà nghiên
cứu, các GS, TS. tại các Vụ, Viện hoặc các cơ quan nghiên cứu về lĩnh vực đầu tư.
5.4. Phương pháp phân tích thông tin/dữ liệu đã thu thập được.
Phân tích số liệu, bảng biểu dựa trên phương pháp phân tích: Thống kê mô tả, So
sánh tỷ lệ, nhằm đánh giá sự thay đổi của các số liệu trong quá khứ, từ đó đưa ra các
nhận định và giải pháp phù hợp.
Sử dụng phần mềm EViews để phân tích các yếu tố thống kê cơ bản, nhằm
khẳng định lại các nhận định mà tác giả đưa ra trong Luận án.
6. Những đóng góp mới của Luận án
Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Luận án có một số đóng góp mới, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Luận án đã tổng quan cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt
động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó nêu rõ các mục tiêu, phương pháp quản lý,
nội dung và mô hình quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI; các vấn đề về đổi mới
quản lý nhà nước như xác định mục tiêu, nội dung, cách thức đổi mới quản lý nhà nước,
trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam
Chương 3. Định hướng và giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CHỦ YẾU VÀ KINH NGHIỆM VỀ ĐỔI
MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA
NƯỚC NGOÀI
1.1. Các lý thuyết về OFDI và quản lý nhà nước đối với OFDI
11
1.1.1. Lý thuyết về OFDI
1.1.1.1.
Lý thuyết về chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm
Lý thuyết được Raymond Vennon xây dựng vào năm được Raymond Vennon xây dựng vào
năm 1966, trong đó đề cập đến yếu tố quyết định việc các doanh nghiệp phải thực hiện
đầu tư ra ngoài để chiếm lĩnh thị trường quốc tế là do chu kỳ phát triển của sản phẩm.
1.1.1.2. Lý thuyết về đầu tư của Dunning
Mô hình OLI: giải thích điều kiện tham gia đầu tư nước ngoài của một công ty
là từ 3 lợi thế: (1) Lợi thế về sở hữu (Ownership advantages viết tắt là lợi thế; (2) Lợi
thế về khu vực (Locational advantages viết tắt là lợi thế L) và (3) Lợi thế về nội bộ
hoá chi phí (Internalisation advantages viết tắt là lợi thế I). Lợi thế O và I tạo ra những
nhân tố “đẩy” và lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI.
Mô hình IDP Investment Development Path Các giai đoạn phát triển của đầu
tư. Đây là các giai đoạn mà mỗi nước thường phải trải qua. Mô hình này bao gồm 5 giai
đoạn. Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn thứ 2, trong đó, Nhà nước chú trọng nhiều
đến thu hút FDI vào trong nước hơn là đầu tư ra nước ngoài.
tự do hóa của một số nước mới nổi đối với hoạt động OFDI của các DN trong nước.
Khi OFDI phát triển đến mức góp phần làm chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế, các
chính phủ cũng cần phải thực hiện chính sách hỗ trợ các DN và cá nhân tại địa phương,
để đảm bảo sự phát triển ổn định và lâu dài trong hoạt động của họ trên thị trường
nước ngoài. Marinova S., Child J. and Marinov M., 2012, nghiên cứu vai trò của nhà
nước trong quá trình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tại một số nước như Nga, Trung
Quốc, và khẳng định sự liên tục hay gián đoạn trong các thể chế kinh tế và chính trị,
cũng như các cơ chế về môi trường kinh doanh sẽ tạo nên các mô hình quản lý đối với
OFDI khác nhau.
1.2. Các vấn đề chung về quản lý nhà nước và đổi mới quản lý nhà nước đối
với OFDI
1.2.1. Các vấn đề chung về quản lý nhà nước đối với OFDI
1.2.1.1. Mục tiêu quản lý nhà nước đối với OFDI
(i) Tạo điều kiện bình đẳng cho các thành phần kinh tế trong nước có cơ hội mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, thu lợi ích kinh tế trên cơ sở tuân thủ luật pháp
quốc gia và quốc tế; (ii) Tham gia sâu rộng vào phân công lao động quốc tế trên thế giới,
nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế; (iii) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng hiện đại, đổi mới công nghệ sản xuất, tăng năng lực sản xuất chung của nền
kinh tế; giảm khoảng cách với các nước khác trên thế giới; (iv) Tạo ra hành lang pháp lý
minh bạch, thuận lợi về OFDI, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các DN; kiểm
tra, giám sát nhằm phòng chống các hiện tượng gian lận trong hoạt động đầu tư, giảm
thiểu các rủi ro từ hoạt động đầu tư ra nước ngoài có tác động xấu đến sự phát triển
kinh tế xã hội ở trong nước.
13
1.2.1.2. Phương pháp quản lý nhà nước đối với OFDI
Với các mục tiêu xác định như trên, phương pháp quản lý Nhà nước đối với hoạt
động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp có thể sử dụng các phương
pháp quản lý trực tiếp và gián tiếp, Phương pháp cưỡng chế, Phương pháp kích thích
14
1.2.2.2. Mục tiêu của đổi mới quản lý nhà nước về OFDI
Mục tiêu của đổi mới luôn là để phát triển, bởi vậy, đổi mới quản lý nhà nước về
OFDI là nhằm mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, được đặt trong mối quan hệ hội
nhập với nền kinh tế thế giới. Song quản lý nhà nước cũng cần quan tâm đến lợi ích
chính đáng và hợp pháp của các chủ thể kinh tế trong nước, cụ thể là các nhà đầu tư
OFDI. Bởi vậy, mục tiêu của đổi mới quản lý nhà nước là nhằm hài hòa lợi ích của các
nhà đầu tư OFDI trong nước với sự phát triển kinh tế ổn định và bền vững, trong bối
cảnh hội nhập kinh tế thế giới.
1.2.2.3. Nội dung của đổi mới quản lý nhà nước về OFDI:
Đổi mới quản lý nhà nước về OFDI bao gồm sự đổi mới về: (i) Tư duy và quan
điểm quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI; (ii) Đổi mới phương pháp quản lý nhà
nước đối với OFDI; (iii) Đổi mới các cơ chế chính sách quản lý OFDI; (iv) Các đổi mới
khác để đảm bảo tăng cường tính thực thi của pháp luật về quản lý OFDI
1.2.2.4. Cách thức đổi mới quản lý nhà nước về OFDI
Khi tiến hành đổi mới quản lý nhà nước về OFDI, Chính phủ các nước có thể thực
hiện bằng các cách thức như: (i) Sửa chữa, thay đổi về tư duy và quan điểm, phương
pháp hay các cơ chế chính sách về quản lý trong lĩnh vực OFDI và các chính sách liên
quan cho phù hợp với tình hình kinh tế chính trị xã hội của quốc gia và quốc tế; (ii)
Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực OFDI, rà soát và ban hành mới các chính sách,
sắp xếp lại tổ chức quản lý về OFDI theo hướng minh bạch và khoa học, dễ dự đoán và
tuân thủ các cam kết quốc tế; (iii) Sáng tạo các cơ chế, phương pháp, phương tiện mới
để quản lý nhà nước về OFDI theo hướng hiện đại nhưng vẫn đảm bảo theo đúng mục
tiêu của đổi mới.
1.2.3. Các yếu tố tác động đến đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI
Các yếu tố tác động đến đổi mới quản lý nhà nước được chia thành hai nhóm:
khách quan và chủ quan. Ở đây, sự phân chia khách quan và chủ quan đứng trên góc độ
của Nhà nước. Các yếu tố chủ quan là các yếu tố thuộc về Nhà nước, còn các yếu tố
Lợi thế về công nghệ; (iii) Lợi thế về nhân lực và trình độ quản lý; (iv) Sở hữu các
TNCs lớn, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu
1.3.1.3. Bài học 3 – Đổi mới quản lý OFDI phải gắn với bối cảnh thay đổi của
nền kinh tế trong nước và thế giới
Tùy theo từng giai đoạn phát triển kinh tế, và năng lực của các doanh nghiệp trong
nước, chính phủ các nước định hướng doanh nghiệp đầu tư sang từng khu vực thị
trường cụ thể. Ban đầu là các thị trường có quan hệ gần gũi và có trình độ phát triển
kém hơn trong khu vực, phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ; sau đó là các thị
trường phát triển năng động và có trình độ phát triển ngang bằng hoặc cao hơn, các thị
trường này phù hợp với các doanh nghiệp hoặc các tập đoàn lớn
16
1.3.1.4. Bài học 4 – Đổi mới thông qua việc đa dạng hóa và linh hoạt các cơ chế
chính sách quản lý OFDI
Để thực hiện đổi mới thành công, không thể thiếu các cơ chế chính sách quản lý OFDI.
Việc xây dựng và ban hành các chính sách cũng cần phải đầy đủ, việc áp dụng , thực thi các
chính sách cần linh hoạt mới nâng cao hiệu quả trong đổi mới quản lý.
1.3.1.5. Bài học 5 – Đổi mới trong phương pháp quản lý đối với hoạt động OFDI
Có thể nhận thấy, hầu hết Chính phủ các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc,
Singapore hiện nay hầu như không can thiệp nhiều bằng các biện pháp hành chính mệnh
lệnh, mà chủ yếu thực hiện quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thông qua
các định chế tài chính và các công ty nhà nước. Đây cũng là một cách thức quản lý mềm
dẻo, linh hoạt và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước khi đầu tư kinh doanh
trên thị trường nước ngoài.
1.3.2. Những bài học kinh nghiệm chưa thành công cần tránh trong đổi mới
quản lý OFDI
1.3.2.1. Bài học 1 Đốt cháy giai đoạn trong đổi mới quản lý nhà nước
Đốt cháy giai đoạn trong đổi mới thể hiện ở việc vội vàng mở cửa nhằm tự do
hóa OFDI khi chưa có điều kiện chín muồi. Bài học từ Thái Lan cho thấy sự vội vàng
Giai đoạn 2: (từ năm 1999 2005) giai đoạn phát triển : Tính hợp pháp của
hoạt động OFDI đượ c thừa nhận bằng Nghị định 22/1999 và các văn bản hướ ng dẫn
thi hành. Hoạt động OFDI bắt đầu khởi sắc. Quy mô bình quân của mỗi dự án đạ t
trên 4 triệu USD.
Giai đoạn 3: (từ năm 2006 2014) giai đoạn bùng nổ: Luật Đầu tư 2005 ra đời, các
quy định về quản lý ngoại hối được nới lỏng. Lĩnh vực đầu tư được mở rộng, quy mô vốn
đầu tư trong cả giai đoạn này tăng khoảng 11 lần so với giai đoạn trước đó.
2.1.3. Thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo lĩnh vực:
Hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam tập trung đầu tư vào ngành khai khoáng là
nhiều nhất (111 dự án và 5,1 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 11,5% tổng số dự án và 34%
tổng vốn đầu tư); tiếp theo là ngành nông, lâm, ngư nghiệp (125 dự án và 2,7 tỷ USD
vốn đầu tư, chiếm 13% tổng số dự án và 18% tổng vốn đầu tư). Ngoài ra, các DN VN
còn đầu tư sang nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác như thông tin, truyền thông, sản xuất
điện, bất động sản, hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, các lĩnh vực đầu tư mang
tính xã hội hóa như giáo dục, y tế, dịch vụ hỗ trợ hành chính, xây dựng cơ sở hạ tầng,
nghệ thuật, giải trí...
18
2.1.4. Thực trạng OFDI theo hình thức đầu tư tại nước ngoài và theo hình
thức sở hữu của công ty mẹ ở VN
2.1.4.1. OFDI theo hình thức đầu tư tại nước ngoài
Các hình thức đầu tư tại nước ngoài trong các dự án đầu tư của VN khá đa dạng,
bao gồm cả việc thành lập một tổ chức kinh tế (như công ty 100% vốn của Việt Nam ,
công ty Liên doanh – chiếm khoảng 96% về tổng dự án OFDI và 92% về tổng vốn đầu
tư); đầu tư theo hình thức BCC (chiếm khoảng 1,2% tổng vốn đầu tư). Ngoài ra, các
DA của VN cũng được đầu tư theo hình thức BOT; hợp doanh; mua lại; hoặc mua cổ
phần trên thị trường tài chính của nước tiếp nhận đầu tư.
2.1.4.2. OFDI theo hình thức sở hữu của công ty mẹ ở VN
Trong năm 2014, có 12,5% số dự án đầu tư của các nhà đầu tư Việt Nam là nhà
nguồn vốn đầu tư trong nước, đầu tư nướ c ngoài, đầu tư ra nướ c ngoài đượ c quy
định thống nhất trong Luật đầu tư chung của Việt Nam (năm 2005). Điều này cho
thấy Việt Nam đã có bướ c tiến quan trọng, đến gần với luật pháp quốc tế, khi dựa
trên nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các nguồn vốn trong và ngoài nướ c,
nguồn vốn chuyển vào và chuyển ra khỏi Việt Nam
2.2.3. Thay đổi cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp
của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài
2.2.3.1. Thay đổi các quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
a, Mở rộng quy định về thủ tục đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Mở rộng về đối tượng được đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Mở rộng về lĩnh vực
đầu tư. Quy định này cũng phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế, đưa hệ thống
luật pháp Việt Nam tiếp cận dần với hệ thống luật pháp quốc tế trong bối cảnh hội
nhập kinh tế. Song, quy định này cũng chỉ mới dừng ở việc liệt kê các lĩnh vực khuyến
khích đầu tư, chưa có lộ trình cũng như hướng dẫn thực hiện và các hoạt động khuyến
khích cụ thể đối với các lĩnh vực này (ngoại trừ trong lĩnh vực dầu khí).
b, Thay đổi quy định về thuế và tài chính:
Cho phép các DN được khấu trừ phần thuế trên thu nhập đã chịu thuế ở nước tiếp
nhận đầu tư. Đồng thời, với các hàng hóa XNK theo dự án OFDI, các DN được miễn
thuế theo Luật thuế XNK hiện hành.
Các quy định về thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa liên quan đến
hoạt động OFDI, mặc dù đã có tính ưu đãi, song chưa thực sự tạo ra nhiều tác động
khuyến khích cho các DN.
c, Thay đổi trong quy định quản lý ngoại hối
Mở rộng nguồn cung cấp vốn ngoại tệ để chuyển ra nước ngoài cho các DN, song
các quy định về chuyển tiền ra nước ngoài và vay vốn ngoại tệ để đầu tư ra nước ngoài
còn khá chặt chẽ, mức độ nới lỏng trong các quy định của NHNN còn khá dè dặt, chưa
tạo ra nhiều khuyến khích cho DN OFDI.
20
quyền, trong đó có phân loại các DA cần có sự chấp thuận về chủ trương từ Quốc hội,
để đảm bảo các dự án đặc biệt quan trọng với quốc gia sẽ được sự đánh giá và giám sát
của cả xã hội.
21
b2. Thay đổi về quy trình cấp GCNĐT và thời gian cấp GCNĐT:
Có sự thay đổi từ Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 78/2006 với 2 quy trình: đăng ký
cấp GCNĐT và thẩm tra cấp GCNĐT, sang thành 3 quy trình theo thẩm quyền cấp
GCNĐT. Thủ tục và thời gian cấp GCN đăng ký ĐT với các dự án cần sự chấp thuận về
chủ trương của Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội thì thời gian dài hơn và cần quy trình
phức tạp hơn.
2.2.4.2. Mở rộng các hoạt động hỗ trợ liên quan đến OFDI
a, Thực hiện xúc tiến đầu tư
Các hoạt động xúc tiến đầu tư ngày càng được tổ chức một cách quy mô, đa dạng
hơn. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện một số biện pháp như: Hợp tác đầu tư ở cấp
Chính phủ với các nước; Cung cấp thông tin về thị trường đầu tư nước ngoài cho các
nhà đầu tư Việt Nam.
b, Thực hiện các hỗ trợ và ưu đãi khác
Các hỗ trợ này được thực hiện trên các khía cạnh như tín dụng, pháp lý và ngoại
giao. Tuy nhiên, ít có DN được tiếp cận với các khoản hỗ trợ này. Các cơ quan đại diện
ngoại giao VN ở nước ngoài chưa trở thành đầu mối thông tin với các cơ quan quản lý
trong nước.
2.2.5. Công tác kiểm tra, giám sát sau cấp GCNĐT
Nhà đầu tư phải thực hiện các báo cáo về dự án với Bộ KH&ĐT, NHNN, các Bộ
chủ quản trong vòng 6 tháng kể từ khi kết thúc năm tài chính. Sự phối hợp chưa tốt từ
các cơ quan quản lý và nguyên nhân chậm trễ từ phía DN khiến công tác hậu kiểm
chưa có hiệu quả. Mặc dù Luật Đầu tư năm 2014 vừa ban hành, nhấn mạnh đến việc sử
dụng Hệ thống thông tin quốc gia trong việc giám sát, kiểm tra hoạt động của các DN đầu
tư vào trong nước và đầu tư ra nước ngoài, song việc triển khai hệ thống này cũng còn
Nguyên nhân thứ tư là vấn đề phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý
b, Nguyên nhân khách quan (ngoài Nhà nước)
b1. Nguyên nhân khách quan bên ngoài doanh nghiệp
Sự bất ổn trong nền kinh tế trong nước và nước ngoài dẫn đến đổi mới và thực thi
đổi mới trong quản lý nhà nước trong nhiều thời điểm là mâu thuẫn với nhau
b2. Nguyên nhân về phía doanh nghiệp
Nguyên nhân thứ nhất là, thiếu sự hợp tác chặt chẽ của DN với cơ quan chức
năng trong quá trình thực hiện đầu tư ở nước ngoài
Nguyên nhân thứ hai là, sự yếu kém về năng lực của DN OFDI Việt Nam
Nguyên nhân thứ ba là, sự thiếu liên kết giữa các DN OFDI Việt Nam ở nước
ngoài
23
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
3.1. Quan điểm, định hướng của Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp của Việt
Nam ra nước ngoài đến năm 2020
3.1.1. Ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế, trong nước và xu hướng OFDI của
doanh nghiệp Việt Nam đến việc đổi mới quản lý nhà nước đối với đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
3.1.1.1. Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước
Bối cảnh kinh tế quốc tế, khu vực và trong nước trong năm 2014 và những năm
tiếp theo, có những dấu hiệu lạc quan, mặc dù vẫn còn nhiều bất ổn tồn tại.
3.1.1.2. Xu hướng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam
DN VN có xu hướng đầu tư chọn lọc về lĩnh vực đầu tư, liên kết và đa ngành, gia
tăng hàm lượng công nghệ trong các hoạt động OFDI, gia tăng chậm do có sự điều
chỉnh trong doanh nghiệp nhằm tăng hiệu quả đầu tư. ASEAN vẫn là khu vực chính
được nhiều DN VN lựa chọn đầu tư.
Xu hướng thắt chặt trong quản lý do hiệu quả của các dự án đầu tư trong giai
đoạn từ 2006 đến nay chưa cao, đặc biệt là các dự án sử dụng vốn nhà nước.
3.1.2. Định hướng của Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra
nước ngoài đến năm 2020
Trong Luật Đầu tư năm 2014, Chính phủ Việt Nam khẳng định “khuyến khích nhà
đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài”.
3.2. Giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài của DNVN
3.2.1. Đổi mới tư duy và quan điểm quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI
của DNVN
Thứ nhất, OFDI phải gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân
Thứ hai, hoạt động OFDI phải đi theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của
quốc gia, đưa Việt Nam hội nhập thành công vào nền kinh tế thế giới
Thứ ba, OFDI góp phần tăng khả năng VN tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
Thứ tư, OFDI phải dựa trên lợi thế so sánh và điều kiện phát triển trong nước
Thứ năm, OFDI cũng là một kênh thúc đẩy xuất khẩu bền vững
25
Thứ sáu, OFDI làm tăng tính chủ động của doanh nghiệp, giúp nền kinh tế tránh
lệ thuộc vào bên ngoài và tăng trưởng bền vững
3.2.2. Đổi mới phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI
Thứ nhất, giảm quản lý trực tiếp, tăng cường quản lý nhà nước gián tiếp, tạo
điều kiện tự do hóa quản lý hoạt động OFDI trong tương lai.
Thứ hai, chuyển dần phương pháp quản lý hành chính sang cơ chế quản lý theo
tín hiệu thị trường.
Thứ ba, áp dụng phương pháp quản lý hiện đại dựa trên các phương tiện truyền
thông.
Thứ tư, cần thay đổi phương pháp quản lý, từ phương pháp quản lý từ trên
xuống như hiện nay, thay bằng phương pháp quản lý từ dưới lên