ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
________________
________________
Trịnh Thị Hào
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH UNG THƯ
THÂN TỬ CUNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI MỘT SỐ TỈNH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hà Nội – 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
________________
________________
Trịnh Thị Hào
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH UNG THƯ
THÂN TỬ CUNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI MỘT SỐ TỈNH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
truyền Việt Nam đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập, hoàn thành luận văn.
Tôi xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn học viên,
sinh viên làm việc tại Phòng Proteomic thuộc phòng thí
nghiệm Trọng điểm Công nghệ Enzym và Protein, Khoa
Sinh học - Trờng Đại học Khoa học Tự nhiên, đã giúp đỡ và
cộng tác với tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình và bạn bè đã
khích lệ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
Học viên
Trịnh Thị Hào
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BV
BVĐK
BMI
CĐ
CI
CTC
ĐH
FHI
FIGO
Bệnh viện
Bệnh viện đa khoa
Body mass index chỉ số khối cơ thể
(International Agency for Research on Cancer)
Kế hoạch hóa gia đình
Lao động
Nội mạc tử cung
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Thành phố
Thân tử cung
Tỷ suất chênh (Odds Ratio)
Văn phòng trung ương
Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU.................................................................................4
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ UNG THƯ THÂN TỬ CUNG...........................4
1.1.1. Khái niệm về thân tử cung (TTC)............................................................4
1.1.2. Ung thư thân tử cung................................................................................5
1.1.3. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của ung thư TTC ...........................7
1.2. TÌNH HÌNH MẮC UNG THƯ THÂN TỬ CUNG......................................13
1.2.1. Ung thư thân tử cung trên thế giới .........................................................13
1.2.2. Ung thư thân tử cung ở Việt Nam..........................................................15
1.3. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN UNG THƯ THÂN TỬ CUNG.............16
1.3.1. Yếu tố môi trường liên quan đến ung thư thân tử cung..........................16
1.3.2. Một số yếu tố xã hội liên quan đến ung thư thân tử cung......................17
Chương 2.
3.3.4. Liên quan giữa việc nạo hút thai, sử dụng các biện pháp tránh thai với
ung thư thân tử cung.........................................................................................67
3.3.5. Liên quan giữa một số yếu tố khác với ung thư thân tử cung.................73
KẾT LUẬN VA KIÊN NGHI
̀
́
.̣ ........................................................................75
Thư nhât, vê phân lo
́ ́ ̀
ại và phân bố ung thư thân tử cung:..................................75
Thư hai, đ
́
ặc điểm của phụ nữ ung thư thân tử cung:.......................................75
Thư ba, môt sô y
́
̣ ́ ếu tố liên quan tới ung thư than tử cung:................................75
KIÊN NGH
́
Ị.....................................................................................................77
........................................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................78
41. Lucas W. E. (1981), “Estrogen a cause of gynecologic cancer”,
American Cancer Society National Conference Gynecologic Cancer, Vol 48,
Issue Supplement S1, pp.451–454..................................................................82
DANH MỤC BẢNG
lượng lao động, nhất là trong lao động nông nghiệp, chăn nuôi trồng trọt, dệt, thủ
công nghiệp,… Đa số điều kiện lao động các ngành nghề này chịu nhiều tác động
bất lợi do ngành nghề lao động nặng nhọc. Bên cạnh đó phải kể đến việc có một
tỷ lệ lớn phụ nữ hiện sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình như dùng
thuốc tránh thai, triệt sản bằng thắt vòi trứng và bằng thuốc Quinacrine đặt vào
buồng tử cung.
1
Một câu hỏi lớn đặt ra hiện nay là liệu các yếu tố môi trường và xã hội có
tác động đến sự gia tăng tỷ lệ mắc ung thư thân tử cung ở phụ nữ Việt Nam hay
không. Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích tình hình ung thư
thân tử cung ở phụ nữ Việt Nam và các yếu tố liên quan. Mới chỉ có một số ít
nghiên cứu tập trung vào việc ghi nhận ung thư thân tử cung tại các bệnh viện
hay tiến hành nghiên cứu sàng lọc tiền ung thư thân tử cung ở cộng đồng trong
địa bàn nhỏ.
Vì vậy, nghiên cứu bệnh ung thư phụ khoa nói chung, ung thư thân tử cung
nói riêng và những yếu tố liên quan đến nó nhằm tìm ra các giải pháp khả thi để
hạn chế các yếu tố nguy cơ gây ung thư, phát hiện sớm và điều trị kịp thời kéo
dài tuổi thọ cho người bệnh. Để góp phần có được cơ sở khoa học giải quyết
những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tình hình ung
thư thân tử cung và các yếu tố liên quan tại một số tỉnh Việt Nam”.
Kết quả nghiên cứu của đề tài được mong đợi giúp ngành Y tế có được
các phát hiện mới về mối liên quan với ung thư thân tử cung của một số yếu tố
trước đây chưa được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ ở Việt Nam. Địa
bàn nghiên cứu gồm 12 tỉnh là một yếu tố đảm bảo các phát hiện của đề tài có
tính đại diện vùng miền cao, là cơ sở khoa học góp phần cho các nhà hoạch định
các chính sách xây dựng các giải pháp can thiệp phù hợp, nâng cao chất lượng
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân nói chung, phụ nữ nói riêng ở nước
khoảng 4,5cm, trọng lượng trung bình 50 gam (ở những người đẻ nhiều kích
thước tử cung có thể lớn hơn một chút) [4].
Cấu tạo mô học TTC: thành TTC được cấu tạo từ ngoài vào trong gồm ba
lớp: thanh mạc, cơ và nội mạc. Lớp thanh mạc là lớp phúc mạc phủ các mặt của
tử cung, lách xuống tận thành bên chậu hông và tạo nên dây chằng rộng [5]. Lớp
cơ gồm ba tầng: lớp ngoài gồm những sợi cơ dọc; Lớp giữa dày nhất, gồm những
sợi cơ đan chéo bao quanh các mạch máu. Sau khi đẻ, các sợi cơ này co rút lại,
chèn ép vào các mạch máu làm cho máu tự cầm; Lớp trong là cơ vòng. Các lớp cơ
thân tử cung tạo thành một hệ thống có tính chất vừa giãn vừa co. Trong cùng là
nội mạc tử cung, đó là lớp biểu mô tuyến gồm hai lớp: lớp đáy mỏng, ít thay đổi
theo chu kỳ kinh nguyệt, lớp nông thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt và bong ra khi
hành kinh [4].
4
Hình 1. Cấu tạo giải phẫu TTC
1.1.2. Ung thư thân tử cung
Ung thư TTC phát triển từ phần thân tử cung phổ biến gồm ung thư nội
mạc tử cung (NMTC), phát triển từ lớp nôi m
̣ ạc tử cung và hiếm hơn là ung thư
cơ tử cung. Trong nghiên cứu này chúng tôi đề cập 2 loại bao gồm ung thư nội
mạc tử cung và cơ tử cung.
Ung thư NMTC là bệnh ác tính đường sinh dục hay gặp nhất ở các nước
phát triển, hay gặp ở những phụ nữ từ 50 – 70 tuổi đã mãn kinh. Tuy nhiên, cũng
có tới 15 – 25% các trường hợp ung thư NMTC gặp ở phụ nữ trong thời kỳ tiền
mãn kinh, tiên lượng thường tốt nếu được phát hiện sớm và điều trị sớm. Với
triệu chứng diễn ra một cách âm thầm nhưng có khoảng 10% có cảm giác khó
chịu ở vùng bụng dưới và có thể đau do cổ tử cung bị xâm nhiễm, chít hẹp khiến
Trong khi đó ung thư cơ tử cung thường gặp ở những phụ nữ trẻ hơn, ở
tuổi tiền mãn kinh khoảng sau 40 tuổi, nhưng vẫn gặp ở cả phụ nữ trẻ 20 – 30
tuổi. Các triệu chứng lâm sàng thường rất rầm rộ, nhanh chóng và khá điển hình,
đó là ra máu bất thường ở âm đạo (khoảng 60% các trường hợp), bụng to nhanh
lên vì kích thước của tử cung tăng lên nhanh tạo thành một khối ở vùng tiểu
khung, kết quả là bệnh nhân thấy đau vùng bụng dưới do dãn và do chèn ép. Tiên
lượng bệnh rất tồi và nguyên nhân cũng không được rõ, nhưng mối liên quan về
nguy cơ của bệnh với việc chụp vùng tiểu khung đã được một số nghiên cứu ghi
nhân, với nguy cơ tăng đến 5,38 lần với thời gian ủ bệnh tử 10 – 20 năm [21]
[32] [46].
1.1.3. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của ung thư TTC
1.1.3.1. Đặc điểm lâm sàng
Các dấu hiệu chỉ điểm
Dấu hiệu thường gặp là chảy máu nhưng lượng máu không nhiều, không
rõ nguyên nhân, có trường hợp chảy máu khi cố rặn đi tiểu hay đại tiện gây chèn
ép vào tử cung. Chỉ cần một dấu hiệu chảy máu sau mãn kinh cũng đủ để báo
động vì không hiếm các trường hợp dấu hiệu này mất đi lại tái suất sau vài tuần
hay vài tháng, rồi trở nên thường xuyên hơn.
Ra khí hư lẫn mủ: thường do nhiễm khuẩn, mủ lẫn máu tạo thành một
chất dịch màu nâu rất nặng mùi, giai đoạn đầu chưa có nhiễm khuẩn có thể ra
dịch trong.
7
Đau: thường xuất hiện mu ộn khi kh ối u lan tràn vào các bộ phận trong
hố chậu.
Khám lâm sàng
Nói chung, thăm khám lâm sàng sờ bụng và thăm âm đạo thấy hoàn toàn
thư thân tử cung phải lấy mẫu trực tiếp từ buồng tử cung.
Phiến đồ Papanicolaou [39]: Mặc dù phiến đồ Papanicolaou có hiệu quả
cao trong phát hiện ung thư cổ tử cung xong nó không có hiệu quả trong phát
hiện ung thư nội mạc tử cung vì tế bào nội mạc tử cung khó bong và có thể thoái
biến trong buồng tử cung và ống cổ tử cung. Nên khi lấy bệnh phẩm ở túi cùng
sau âm đạo số lượng tế bào NMTC rất ít.
Khi lấy bệnh phẩm ở túi cùng sau âm đạo [39] theo Gusberg tỷ lệ chính
xác là 47%, theo David là 45%, theo Mc Govan tỷ lệ này thay đổi từ 50%75%,
theo Averette H.E (1995) tỷ lệ chính sác là 6083%, có quá nhiều âm tính giả.
Theo tác giả nếu mẫu tê bào d
́
ương tính thì có giá trị chẩn đoán, mẫu tế bào âm
tính thì vẫn không thể loai tr
̣ ừ ung thư nội mạc tử cung.
Để khắc phục hạn chế của phương pháp này các phương pháp lấy mẫu
bệnh phẩm trực tiếp từ buồng tử cung được đề xuất và áp dụng.
+ Hút nội mạc: Do Carry (1943) đề xuất, dùng một canuyn đường kính 2
3mm bằng kim loại hoặc bằng chất dẻo đưa vào buồng tử cung và hút bằng 1
bơm tiêm, bơm lên phiến kính cố định và nhuộm. Theo Aex Ferenczy [35] độ
chính xác cũng khoảng 8889%. Theo Averette [35] việc hút nội mạc tử cung
bằng canuyn polyethylen tỷ lệ chính xác là 85%.
+ Rửa nội mạc tử cung: Dùng 26 ml nước muối sinh lý bơm vào buồng tử
cung sau hút trực tiếp ra đem ly tâm và làm phiến đồ. Theo Aex Ferenczy [35] độ
chính xác chẩn đoán là 82%. Nhưng chỉ định của phương pháp này rất nghiêm
ngặt, có thể xảy ra tai biến.
+ Chải nội mạc tử cung được Ayre đưa ra năm 1995 [30] ông dùng một
bàn chải nhỏ xoay tròn trong buồng tử cung để thu thập bệnh phẩm nhưng
phương pháp này thường gây chảy máu nhiều.
+ Rửa thành tia được Dowling & Gravlee mô tả năm 1964 [39].
chẩn đoán.
10
Ưu điểm: Đây là phương pháp đơn giản, rẻ tiền, có khả năng phổ cập
rộng rãi, các mẫu bệnh phẩm thu được có chất lượng tốt giúp cho việc phat hi
́ ện
các tổn thương ung thư và tiền ung thư dễ dàng, ngoài ra nó còn có tác dụng cầm
máu.
Tai biến: có thể gây thủng tử cung
Đôi khi cũng có những thất bại do cổ tử cung cứng, bệnh nhân đau. Cũng
có nhiều trường hợp phải nạo lại vài 3 lần mới chẩn đoán được.
Năm 1925 lần đầu tiên Kelly đã áp dụng phương pháp nạo sinh thiết
không cần gây mê từ đó đến nay đã có rất nhiều cải tiến.
Hofmeister[26] đã làm hơn 20.000 sinh thiết trong vòng 20 năm, với độ
chính xác chẩn đoán là 94%. Theo Kahl và cộng sự [38] độ chính xác là 96%.
Theo Hugent Hark có thể chẩn đoán sai 1520%.
Theo Alex Ferenczy [35] độ chính xác của phương pháp tới 97%.
Chụp buồng tử cung có thuốc cảm quang:
Chụp buồng tử cung đã được sử dụng từ lâu trong chẩn đoán ung thư tử
cung, dựa vào những hình ảnh gián tiếp trên phim như: hình khuyết bờ không
đều, bờ căng cưa, hình lỗ rỗ ruột bánh mì để chẩn đoán ung thư NMTC.
Ưu điểm của phương pháp này là tỷ lệ dương tính cao, dựa vào vị trí tổn
thương trên phim giúp lấy mẫu bệnh phẩm một cách chính xác.
Tai biến: có thể làm lan tràn các tế bào ung thư vào ổ bụng.
Theo Barry Anderson đã tiến hành chụp cho 1.500 trường hợp thì chỉ có 2
trường hợp dương tính giả [26].
1.1.3.2.4. Siêu âm bằng đầu dò âm đạo
nay nó đã được cải tiến nhờ máy nội soi hiện đại Microhysteroscopy.
Phương pháp này cho phép quan sát trực tiếp buồng tử cung, đánh giá tôn
̉
thương và sinh thiết đúng chỗ.
Kỹ thuật làm phồng buồng tử cung bằng nước muối sinh lý, đưa ống soi
với hệ thống thấu kính phóng đại. Qua soi có thể quan sát trực tiếp buồng tử
12
cung đánh giá bản chất bệnh lý trong buồng tử cung, các tổn thương sùi, loét,
chợt, các polip, u xơ niêm mạc và tình trạng ủa niêm mạc tử cung.
1.2. TÌNH HÌNH MẮC UNG THƯ THÂN TỬ CUNG
1.2.1. Ung thư thân tử cung trên thế giới
Trong ung thư TTC khoảng 95% có nguồn gốc từ biểu mô tuyết của nội
mạc tử cung. Ung thư xuất phát từ biểu mô liên kết thân tử cung rất hiếm (1
3%), tiến triển nhanh, tiên lượng xấu.
Ung thư nội mạc tử cung: là loại bệnh thường gặp ở người lớn tuổi với
7580% sau man
̃ kinh, tuổi trung bình là 60 tuổi. Tuy nhiên, có khoảng 20%
trường hợp gặp ở những phụ nữ tiền man kinh, 5%
̃
ở phụ nữ dưới 40 tuổi; là
bệnh ác tính đường sinh dục hay gặp nhất ở các nước phát triển. Tại Mỹ nguy
cơ ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ da trắng là 2,4% so với 1,3% các phụ nữ
da đen.
Tỷ lệ mắc ung thư NMTC rất khác nhau tùy theo từng quốc gia, từng
chủng tộc. Trên thế giới ung thư NMTC có tỷ lệ cao nhất ở Bắc Mỹ và Châu Âu,
thấp hơn ở Nam Mỹ, hiếm gặp ở Châu Á và Châu Phi [24].
14
1.2.2. Ung thư thân tử cung ở Việt Nam
Ở Việt Nam ung thư nội mạc tử cung đứng sau ung thư cổ tử cung (tỷ lệ
1/9). Tuổi bệnh nhân thường lớn hơn ung thư cổ tử cung: 75% ung thư nội mạc
tử cung ở thời kỳ đã mãn kinh, chỉ có 4% tuổi trước 40. Mặc dù chưa tìm thấy
gen gây ung thư nhưng từ 1228% trường hợp có tính chất gia đình, điều này
tương tự như trong ung thư vú, ung thư buồng trứng [23].
Nghiên cứu về tình hình ung thư thân tử cung tại bệnh viện phụ sản trung
ưng năm 20072008 cho thấy: trong số 95 bệnh nhân ung thư TTC thì có tới 90
bệnh nhân (94,7%) ung thư nội mạc tử cung với độ tuổi trung bình là 57± 7,68%,
đa số các phụ nữ đã mãn kinh với 75/90 bệnh nhân (82,2%). Còn lại 5 (5,3%)
bệnh nhân ung thư cơ tử cung có tuổi trung bình 48,60± 16,41%. Như vậy có sự
khác biệt về tuổi trung bình giữa hai nhóm bệnh khoảng 10 tuổi [15].
Theo nghiên cứu so sánh đặc điểm giải phẫu bệnh lâm sàng ung thư nội
mạc tử cung ở hai nhóm tuổi 45 tuổi hoặc trẻ hơn và trên 45 tuổi, năm 1998 cho
thấy: trong số 80 bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung thì chủ yếu hay gặp ở
những bệnh nhân trên 45 tuổi với 68/80 bệnh nhân (85%), phụ nữ dưới 45 tuổi bị
bệnh chiếm 15% trong tổng số các trường hợp, trong đó đa số là các bệnh nhân
vô sinh với 9/12 chiếm 75%. Triệu chứng báo hiệu có ý nghĩa là rong kinh, rong
huyết hoặc ra máu bất thường. Ung thư nội mạc tử cung ở những phụ nữ trẻ
thường là ung thư biểu mô tuyến biệt hóa, có phối hợp quá sản nội mạc tử cung
10/12 (83%) và tiên lượng tốt. Ở bệnh nhân trên 45 tuổi ung thư biểu mô kém
biệt hóa, xâm nhập sâu vào cơ tử cung do đó có tiên lượng xấu hơn [9].
Theo báo cáo của Phạm Thị Hoàng Anh [1] năm 19951996 tỷ lệ ung thư
NMTC ở Hà Nội là 1,6/100.000 dân và ở thành phố Hồ Chí Minh là 2,7/100.000.
Cả nước ước tính năm 2000 là 2,4/100.000 trường hợp.