LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguy ễn Di ệu Hằng
1
LỜI CẢM ƠN
Công trình nghiên cứu này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu
tại trường đại học Kinh tế Huế mà bản thân đã lĩnh hội và thực hiên.
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, bản thân đã nhận được sự
giúp đỡ của nhiều tập thể, tổ chức và cá nhân. Với tất cả tấm lòng mình tôi xin
cảm ơn:
Thầy giáo, TS. Nguyễn Đình Hiền – người đã dành nhiều thời gian và trí
lực trực tiếp giúp đỡ tận tình và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Ban giám hiệu, phòng Khoa học Công nghê – Hợp tác quốc tế, Đào tạo
sau đại học, các thầy cô giáo, cán bộ, nhân viên trường Đại học Kinh tế Huế đã
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Lãnh đạo các phòng ban của UBND quận S ơn Trà, cùng toàn thể các
hộ gia đình trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu, tìm hiểu tình
hình thực tế của địa phương.
Đề tài : CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG Ở QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA.
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sơn Trà là một quận vừa có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, vừa là
địa bàn quan trọng về quốc phòng an ninh, có cảng Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ
kinh tế quốc tế không chỉ của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực. Đại hôi
VIII Đảng bộ của quận đã xác định : “Tiếp tục xây dựng quận Sơn Trà trở thành
một trong những quận có vai trò là trung tâm dịch vụ của thành phố Đà Nẵng,
phát triển mạnh về dịch vụ du lịch có chất lượng cao;….; đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành du lịchdịch vụ,… từng bước thực
hiện CNH, HĐH ….”. Để đạt được những mục tiêu này, ngoài việc phải phát
huy tối đa các thế mạnh, thành phố cần có sự đánh giá khách quan về quá trình
CDCCLĐ nhằm thúc đẩy CDCCKT theo hương CNH, HĐH . Xuất phát từ thực
tế trên, tác giả chọn đề tài: “ Chuyển dịch cơ cấu lao động ở quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm đề tài
nghiên cứu.
3
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác
Lênin, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thu thập thông tin, phương
pháp chọn mẫu kết hợp, phương pháp phỏng vấn chuyên gia.
3. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn về CCLĐ và
CDCCLĐ ; phân tích, đánh giá thực trạng CDCCLĐ ở quận Sơn Trà, thành phố
Đà Nẵng giai đoạn 2006 – 2011. Đồng thời, đề xuất những giải pháp nhằm thúc
đẩy quá trình CDCCLĐ trong thời gian tới.
CNKT:
Công nhân kĩ thuật
CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
GTSX:
Gía trị sản xuất
KTXH:
Kinh tế xã hội
LĐ:
Lao động
LLLĐ:
Lực lượng lao động
LLSX:
Lực lượng sản xuất
NSLĐ:
Số hiệu biểu đồ Tên biểu đồ
Trang
Tỷ lệ LĐ theo trình độ chuyên môn kĩ thuật giai đoạn 20062011..70
MỤC LỤC
6
7
MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chuyển dịch cơ cấu lao động (CDCCLD) là một bộ phận trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT). Trong những năm gần đây, cơ cấu lao động
(CCLD) ở Việt Nam đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực đó là tăng dần tỉ
lệ lao động phi nông nghiệp, đây trở thành một xu hướng tất yếu, và là một trong
những nội dung quan trọng có tính chiến lược và đột phá trong quá trình công
nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước nhằm phát huy mọi nguồn lực
cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tếxã hội (KTXH), cải thiện đời sống nhân
dân, tiến tới xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Sơn Trà nằm về phía Đông thành phố Đà Nẵng, trải dài theo hạ lưu phía hữu
ngạn sông Hàn, là một quận vừa có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, có đường
nội quận nối với quốc lộ 14B nối Tây Nguyên Lào, vừa là địa bàn quan trọng về
quốc phòng an ninh, có cảng nước sâu Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ kinh tế quốc tế
không chỉ của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực, có bờ biển đẹp, là khu vực tập
trung các cơ sở quốc phòng, có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh khu vực và
Và để tiếp tục thực hiên nhiêm vụ CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
ngoài việc phát huy tối đa các thế mạnh của địa phương, quận Sơn Trà cần có sự
nhìn nhận, đánh giá khách quan và đúng đắn về quá trình CDCCLĐ. Từ đó tạo ra
những cú hích nhằm tác động váo quá trình CDCCLĐ phù hợp với cơ cấu ngành
kinh tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của vùng, đồng thời góp phần
thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội của quận Sơn Trà nói
riêng cũng như của thành phố Đà Nẵng nói chung.
Xuất phát từ thực tế nói trên, tác giả chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu
lao động ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trong tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong những năm qua ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu vấn
9
đề CDCCLĐ, hoặc những vấn đề liên quan đến CDCCLĐ trong tiến trình CNH,
HĐH đất nước. Tôi xin nêu một số công trình như sau:
Chuyển dịch cơ cấu lao động trong xu hướng hội nhập quốc tế. PGS.TS
Phạm Qúi Thọ NXB Lao động – xã hội, 2006.
Qúa trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta – Luận án Phó tiến sĩ kho học
kinh tế của Lê Doãn Khải – Học viện chính trị Hồ Chí Minh, năm 2001.
Luận văn PTS khoa học kinh tế “ Chuyển dịch cơ cấu lao động nông
thôn nhằm tạo việc làm, sử dụng hợp lí nguồn lao động vùng đông bằng Sông
Hồng” của Trần Thị Tuyết.
Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển kinh tế nông nghiệp Việt
Nam theo hướng CNH, HĐH từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI trong thời đại kinh tế
tri thức – Lê Quốc Sử NXB Thống kê, 2001
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn miền Đông Nam Bộ theo hướng
trong nước cũng như của một số quốc gia để rút ra kinh nghiệm cho quá trình
CDCCLĐ của quận Sơn Trà.
Ba là, Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình CDCCLĐ trên địa bàn quận
Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2007 – 2011
Bốn là, Phân tích những thành tựu và hạn chế cùng những vấn đề đặt ra
trong quá trình CDCCLĐ ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
Năm là, Đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm thú đẩy CDCCLĐ ở
quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước
4.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu CDCCLĐ ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trong
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
11
+ Về thời gian: Giai đoạn 2006 – 2011, định hướng giải pháp đến năm
2020
+ Về nội dung: Các nội dung chủ yếu của CCLĐ và CDCCLĐ theo hướng
CNH, HĐH.
5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận và lý luận kinh tế
chính trị của chủ nghĩa Mác – Lênin và dựa trên đường lối chính sách của Đảng
và Chính phủ. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả còn sử dụng một số
phương pháp chủ yếu sau: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẤU LAO
ĐỘNG
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG TRONG
TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
Một số khái niệm
Lao động
Học thuyết về LĐ của chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: Lao động chính
là hành động lịch sử vĩ đại mà con ngươì có được để tạo nên sự khác biệt bản
chất giữa con người với thế giới loài vật, là động lực thúc đẩy sự phát triển của
13
xã hội. C.Mác viết: “ Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con
người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng mọi hoạt động của chính mình,
con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự
nhiên. Bản thân con người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là một
lực lượng của tự nhiên…Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua
sự vận động đó, và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi
bản tính của chính nó.” [4, 274].
Rõ ràng lao động sản xuất ra của cải vật chất là quá trình biểu hiện mang
tính lịch sử của quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên và con người với
xã hội. Theo đó, chủ nghĩa Mác đã chỉ ra lao động của loài người có 2 đặc trưng sau
đây:
Thứ nhất, Lao động của con người là một hoạt động có mục đích,“ Con
người không chỉ làm biến đổi cái tự nhiên cung cấp; trong những cái do tự nhiên
cung cấp, con người cũng đồng thời thực hiện cái mục đích tự giác của mình,
trong độ tuổi lao động; những người không hoạt động kinh tế vì những lí do
khác.
Dân số hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi địa phương có thể bao
gồm cả những người ngoài độ tuổi lao động, song phần lớn vẫn là những người
trong độ tuổi lao động. Do đó, đối tượng nghiên cứu chính của những nhà kế
hoạch nghiên cứu về lao động việc làm vẫn là bộ phận dân số hoạt động kinh tế
trong độ tuổi lao động. Đó chính là lực lượng lao động.
Như vậy, LLLĐ (Lực lượng lao động) của một quốc gia hay một địa
phương là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia lao
động, có mong muốn lao động, đang có việc làm hoặc đang tìm việc làm. LLLĐ
bao gồm những người có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng đang
tìm việc làm (gọi là những người thất nghiệp).
Nguồn lao động (nguồn nhân lực)
Theo ILO, Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong
độ tuổi có khả năng tham gia lao động .
Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa:
15
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản
xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân
lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn
lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao
động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá
nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí
lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Theo tổng cục thống kê Việt Nam, Nguồn lao động gồm những người đủ
15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng
phải quan tâm đến chất lượng lao động cần phải biết được những thông tin: Họ
tên, tuổi, giới tính, tình trạng sức khoẻ, chỗ ở; trình độ đào tạo, khả năng và sở
thích của mỗi người lao động; nhu cầu làm việc, đây là vấn đề quyết định đến
năng suất lao động, hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
Cơ cấu cầu lao động được xác định bằng các tỷ lệ lao động theo ngành,
vùng, khu vực, thành phần kinh tế, tình trạng việc làm,...
Khi xác đinh cơ cấu cầu lao động chúng ta sẽ xác định được: các đơn vị
hành chính từ cấp xã phường thị trấn; các đơn vị sử dụng lao động như các doanh
nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động số việc làm trong nền kinh tế
quốc dân và lao động làm việc trong các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế
giúp cho việc hoạch định phát triển các vùng kinh tế, các ngành kinh tế, không bị
cản trở bởi vấn đề nguồn lao động bị mất cấn đối. Đồng thời tạo ra sự chuyên
môn hoá cao giữa các ngành, các vùng, thực hiện sự phân công lao động hợp lý.
Mặt khác, cơ cấu cầu lao động xác định được: số lao động đang được sử dụng,
số chỗ làm việc còn trống và yêu cầu đối với người lao động khi đảm đương
công việc ở chỗ làm việc trống đó, số lượng người thất nghiệp và có việc làm
định hướng để có các chính sách phát triển, đầu tư hợp lý với cơ cấu lao động,
làm cho cơ cấu kinh tế phù hợp với cơ cấu lao động, giảm số người thất nghiệp,
tăng thu nhập cho người lao động.
17
Dưới cơ chế nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ cấu lao động hình
thành chủ yếu là do sự áp đặt của nhà nước thông qua phân công bố trí lao động
xã hội, theo kế hoạch sản xuất từ trên giao xuống. Trong cơ chế thị trường thì cơ
cấu lao động được hình thành chủ yếu thông qua quan hệ cung cầu lao động trên
thị trường lao động tổng thể và khu vực. Tuy vậy, vai trò của Nhà nước có ý
nghĩa hết sức quan trọng và điều tiết thông qua những chính sách phát triển kinh
tế, để có được cơ cấu lao động hợp lý, phủ hợp với cơ cấu kinh tế và mục tiêu
dịch chuyển cơ cấu chất lượng lao động là vấn đề hết sức cấp thiết và quan
trọng. Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là đưa đất nước từ tình trạng lạc
hậu với nền kinh tế tự cung tự cấp, chủ yếu dựa vào nông nghiệp là chủ yếu
sang nền kinh tế mở với thế mạnh là công nghiệp và dịch vụ. Để thực hiện
được cần phải có một đội ngũ lao động với trình độ chuyên môn cao, do đó cần
thực hiện chuyển dịch cơ cấu chất lượng lao động, nâng cao trình độ chuyên
môn cho người lao động là vấn đề hàng đầu cần được sự định hướng trong
chiến lược phát triển kinh tế của nhà nước.
Chuyển dịch cơ cấu cầu lao động (hay chuyển dich cơ cấu việc làm) bao
gồm: Sự thay đổi về cơ cấu lao động theo ngành nghề, theo vùng, sự thay đổi các
loại lao động (chủ thợ, tự làm việc), sự thay đổi cơ cấu lao động theo các hình
thức sở hữu (hoặc thành phần kinh tế). Tất cả các hình thức chuyển dịch cơ cấu
sử dụng lao động trên đều góp phần làm cho cơ cấu lao động phù hợp với cơ
cấu nền kinh tế, phát huy được tiềm năng của lực lượng lao động, thúc đẩy sự
phát triển nền kinh tế lành mạnh, bền vững. Tận dụng được lợi thế của lao
động góp phần thoàn thiện việc phân công lao động trong quá trình phát triển nền
kinh tế.
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu lao động là một khái niệm nêu ra trong một
không gian và thời gian nhất định, làm thay đổi chất lượng lao động. Cơ cấu lao
động được chuyển dịch tuỳ theo sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế, phục vụ và
đáp ứng cho chuyển dịch của cơ cấu kinh tế. Ngoài ra, cơ cấu lao động được
chuyển dịch nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự hấp dẫn của
nghề nghiệp, điều kiện làm việc, hưởng thụ của ngành nghề mới sẽ chuyển
dịch sang làm việc; sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thông qua các cơ chế,
chính sách cụ thể... Tuy nhiên, khi cơ cấu lao động được chuyển dịch thuận lợi,
19
lại tạo điều kiện cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế thuận lợi và đòi hỏi phải
nghiệp dư thừa. Đây là tiền đề cơ bản chuyển LĐ từ nông nghiệp sang hoạt động
phi nông nghiệp.
Nông nghiệp có vị trí quan trọng trong sự phát triển của nước ta, chiếm tỉ
trọng lớn trong GDP đặc biệt là việc cung cấp lương thực trong nước và xuất
khẩu ra nước ngoài. Sản phẩm nông nghiệp Việt Nam sản xuất hơn 20 năm qua
đã đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản
trong cả nước Sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa quan trọng
đối với các ngành công nghiệp dịch vụ và sự nghiệp CNH, HĐH nền kinh tế
quốc dân. Như vậy, việc giải quyết vấn đề đáp ứng nhu cầu lương thực trong
nước, nâng cao hiệu quả xuất khẩu là nền tảng cho sự phát triển ổn định đất
nước, thúc đẩy CDCCKT và CDCCLĐ nông thôn.
Thứ hai, là sự phát triển của các ngành công nghiệp dịch vụ đã thu hút
lượng LĐ dư thừa từ nông nghiệp giúp phân công hợp lí lao động trong xã hội,
giải quyết vấn nạn thất nghiệp cũng như các vấn đề xã hội.
Trong học thuyết về tái sản xuất tư bản xã hội, vấn đề chuyển dịch cơ
cấu lao động được các nhà kinh tế học mácxít nghiên cứu thông qua quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân.
Do tốc độ phát triển khác nhau nên quy mô và trình độ sản xuất của các
ngành sẽ dần thay đổi, tạo ra sự chuyển dịch c ơ c ấu kinh t ế ngành và chuyển
dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch nói trên chỉ có thể xảy
ra khi nền s ản xu ất xã hội đã phát triển tới một trình độ nhất định. Trong đó
những tiền đề vật chất để đảm bảo cho quá trình chuyển dịch này như: Quy
mô tích tụ và tập trung vốn, mức năng suất lao động trong khu vực sản xuất
tư liệu tiêu dùng… phải đạt đượ c ở mức độ cho phép.
Ở giai đoạn hướng tới có việc làm đầy đủ: Lao động nông nghiệp bắt
đầu có sự chuyển dịch sang các ngành nghề khác, như: chế biến lương thực,
thực phẩm hoặc các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp.
21
động của ngành đó sẽ tăng lên. Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một định
hướng cho chuyển dịch cơ cấu lao động.
Mặt khác, khi cơ cấu lao động được chuyển dịch thuận lợi, lại tạo điều
kiện cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh chóng và đòi hỏi phải chuyển
dịch nhanh cơ cấu kinh tế. Lao động, hay cụ thể hơn là nguồn nhân lực, là yếu tố
then chốt, đóng vai trò quyết định tới sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa.
Do đó, chuyển dịch cơ cấu lao động là điều kiện tiên quyết cho chuyển dịch cơ
cấu kinh tế thành công.
Bởi thế nên khi xem xét quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động của một
vùng, một địa phương, nhất thiết phải đặt nó trong mối quan hệ với chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế như một trong những tiêu chí để
đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu lao động.
Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu cung lao động và chuyển dịch
cơ cấu cầu lao động.
Các loại chuyển dịch lao động có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau
rất chặt chẽ. Nhìn chung thì muốn chuyển dịch cơ cấu cầu lao động đòi hỏi phải
có sự chuyển biến về cơ cấu chất lượng lao động đến một mức độ cần thiết.
Ngược lại chuyển dịch thích hợp về cơ cấu lao động, tức là đạt tới sự phân công
lao động hợp lý là điều kiện để tăng trưởng kinh tế và sự tăng trưởng này đến
lượt nó lại đặt ra những nhu cầu chuyển dịch mới về chất lượng lao động.
Ngay trong bản thân sự chuyển dịch về cơ cấu chất lượng hay cơ cấu sử
dụng lao động cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cơ cấu theo trình độ học
vấn là tiền đề không thể thiếu được để tạo nghề nghiệp, tiếp thu kỹ thuật công
nghệ mới. Thể lực của người lao động tạo điều kiện để phát triển trí lực, tức là
có ảnh hưởng tới văn hoá, đào tạo nghề nghiệp.
Tính tất yếu của CDCCLĐ đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Các nước trong khu vực bước vào thời kỳ công nghiệp hoá từ rất sớm.
Malaixia đẩy mạnh công nghiệp hoá từ năm 1981. Singapo thúc đẩy công nghiệp
Ở nước ta, theo nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VII: Xúc tiến công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá là yêu cầu cấp bách
24
nhằm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu kinh tế, đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế
một cách vững chắc, có hiệu quả [15]. Vì thế phải có sự chuyển dịch tương ứng
về cơ cấu lao động và đổi mới cơ cấu lao động theo ngành, theo vùng, theo nghề,
theo thành phần kinh tế, cơ cấu chất lượng lao động một cách hợp lý là điều
kiện để thúc đẩy công nghiệp hoá đất nước.
Ý nghĩa của CDCCLĐ trong nền kinh tế ở Việt Nam
Chuyển dịch cơ cấu lao động tạo ra điều kiện thực hiện chuyển dịch cơ
cấu kinh tế hợp lí, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Chuyển dịch cơ cấu lao động góp vào sự phân bố lại hợp lý giữa các
vùng, các ngành nghề, tạo điều kiện cho người lao động lựa chọn được nghề
phù hợp, mang lại thu nhập cao hơn, tăng cơ hội tìm được việc làm.
Chuyển dịch cơ cấu lao động góp phần làm cung và cầu lao động xích
lại gần nhau và do đó được coi là một giải pháp tạo việc làm tích cực
Chuyển dịch cơ cấu lao động làm tăng tỷ trọng lao động có đào tạo, đây
là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, và là yếu tố quyết định cho sự hội nhập quốc tế thắng lợi.
Ở nông thôn nước ta chuyển dịch c ơ c ấu lao động theo nghề để tăng
dần tỷ trọng lao động phi nông nghiệp, thực hiện đa dạng hoá nông nghiệp là
giải pháp duy nhất để hạn chế thiếu việc làm, thực hiện chính sách xoá đói
giảm nghèo. Đặc biệt, dịch chuy ển c ơ cấu ch ất l ượng lao động làm tăng tỷ
trọng lao động có đào tạo là điều kiện bảo đảm thực hiện thành công yêu cầu
của công nghiệp hoá hiện đại hoá.
1.2.CDCCLĐ TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở VIỆT NAM