CHUYỂN DỊCH cơ cấu LAO ĐỘNG ở QUẬN sơn TRÀ, THÀNH PHỐ đà NẴNG TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa - Pdf 39

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc.

Tác giả

Nguyễn Diệu Hằng

1 1


LỜI CẢM ƠN

Công trình nghiên cứu này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu tại
trường đại học Kinh tế Huế mà bản thân đã lĩnh hội và thực hiên.
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, bản thân đã nhận được sự giúp
đỡ của nhiều tập thể, tổ chức và cá nhân. Với tất cả tấm lòng mình tôi xin cảm ơn:
- Thầy giáo, TS. Nguyễn Đình Hiền – người đã dành nhiều thời gian và trí
lực trực tiếp giúp đỡ tận tình và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
- Ban giám hiệu, phòng Khoa học Công nghê – Hợp tác quốc tế, Đào tạo sau
đại học, các thầy cô giáo, cán bộ, nhân viên trường Đại học Kinh tế Huế đã nhiệt
tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
- Lãnh đạo các phòng ban của UBND quận Sơn Trà, cùng toàn thể các hộ
gia đình trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu, tìm hiểu tình hình
thực tế của địa phương.
- Đảng ủy, Ban giám hiệu, Lãnh đạo bộ môn Lí luận chính trị trường Cao

HIỆN ĐẠI HÓA.
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sơn Trà là một quận vừa có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, vừa là địa
bàn quan trọng về quốc phòng - an ninh, có cảng Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ kinh
tế quốc tế không chỉ của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực. Đại hôi VIII Đảng
bộ của quận đã xác định : “Tiếp tục xây dựng quận Sơn Trà trở thành một trong
những quận có vai trò là trung tâm dịch vụ của thành phố Đà Nẵng, phát triển mạnh
về dịch vụ du lịch có chất lượng cao;….; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng ngành du lịch-dịch vụ,… từng bước thực hiện CNH, HĐH ….”.
Để đạt được những mục tiêu này, ngoài việc phải phát huy tối đa các thế mạnh,
thành phố cần có sự đánh giá khách quan về quá trình CDCCLĐ nhằm thúc đẩy
CDCCKT theo hương CNH, HĐH . Xuất phát từ thực tế trên, tác giả chọn đề tài: “
Chuyển dịch cơ cấu lao động ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trong tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm đề tài nghiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa MácLênin, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thu thập thông tin, phương
pháp chọn mẫu kết hợp, phương pháp phỏng vấn chuyên gia.
3. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp của luận văn
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn về CCLĐ và
CDCCLĐ ; phân tích, đánh giá thực trạng CDCCLĐ ở quận Sơn Trà, thành phố Đà
Nẵng giai đoạn 2006 – 2011. Đồng thời, đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy
quá trình CDCCLĐ trong thời gian tới.

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCKT:

Cơ cấu kinh tế
3 3



Chủ nghĩa xã hội

GTSX:

Gía trị sản xuất

KT-XH:

Kinh tế - xã hội

LĐ:

Lao động

LLLĐ:

Lực lượng lao động

LLSX:

Lực lượng sản xuất

NSLĐ:

Năng suất lao động

PCLĐ:

Phân công lao động


Trang

Tỷ lệ LĐ theo trình độ chuyên môn kĩ thuật giai đoạn 2006-2011....70

MỤC LỤC

6 6


MỞ ĐẦU
1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chuyển dịch cơ cấu lao động (CDCCLD) là một bộ phận trong chuyển dịch
cơ cấu kinh tế (CDCCKT). Trong những năm gần đây, cơ cấu lao động (CCLD) ở
Việt Nam đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực đó là tăng dần tỉ lệ lao động phi
nông nghiệp, đây trở thành một xu hướng tất yếu, và là một trong những nội dung
quan trọng có tính chiến lược và đột phá trong quá trình công nghiệp hóa (CNH),
hiện đại hóa (HĐH) đất nước nhằm phát huy mọi nguồn lực cho sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), cải thiện đời sống nhân dân, tiến tới xây dựng xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Sơn Trà nằm về phía Đông thành phố Đà Nẵng, trải dài theo hạ lưu phía hữu
ngạn sông Hàn, là một quận vừa có vị trí thuận lợi về phát triển kinh tế, có đường nội
quận nối với quốc lộ 14B nối Tây Nguyên - Lào, vừa là địa bàn quan trọng về quốc
phòng - an ninh, có cảng nước sâu Tiên Sa là cửa khẩu quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ
của thành phố Đà Nẵng mà của cả khu vực, có bờ biển đẹp, là khu vực tập trung các cơ
sở quốc phòng, có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh khu vực và quốc gia.
Trước đây, mỗi khi nhắc đến Sơn Trà là người ta nghĩ ngay đến một vùng
đất cách trở đò giang, những xóm chài ven sông, biển nghèo nàn và lạc hậu, những
khu nhà chồ nhếch nhác tồn tại nhiều thập niên trong điều kiện môi sinh ô nhiễm.
Cùng với việc mở đường, các công trình hạ tầng khác như điện, hệ thống thoát
nước, thông tin liên lạc, trường học, bệnh viện cũng được đầu tư xây dựng. Tốc độ

động ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
2.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong những năm qua ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề
CDCCLĐ, hoặc những vấn đề liên quan đến CDCCLĐ trong tiến trình CNH, HĐH
đất nước. Tôi xin nêu một số công trình như sau:
- Chuyển dịch cơ cấu lao động trong xu hướng hội nhập quốc tế. PGS.TS
Phạm Qúi Thọ - NXB Lao động – xã hội, 2006.
- Qúa trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta – Luận án Phó tiến sĩ kho học kinh tế
của Lê Doãn Khải – Học viện chính trị Hồ Chí Minh, năm 2001.

8


- Luận văn PTS khoa học kinh tế “ Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn
nhằm tạo việc làm, sử dụng hợp lí nguồn lao động vùng đông bằng Sông Hồng” của
Trần Thị Tuyết.
- Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam
theo hướng CNH, HĐH từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI trong thời đại kinh tế tri thức –
Lê Quốc Sử - NXB Thống kê, 2001
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn miền Đông Nam Bộ theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa – TS.Phạm Hùng – NXB Nông nghiệp Hà Nội, 2002
Và một số bài viết có liên quan đến vấn đề này.
Những nghiên cứu trên đã ít nhiều đề cập đến những cơ sở lí luận của
CDCCLĐ, do đó nó có giá trị cung cấp những tư liệu quan trọng cho tác giả nghiên
cứu những vấn đề lí luận chung. Tuy nhiên, các công trình trên hoặc chỉ đi sâu xem
xét riêng từng vấn đề trong CDCCLĐ, chuyển dịch CCKT, hoặc chỉ giới hạn lại
trong phạm vi nghiên cứu đã định, chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề CDCCLĐ trong
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang diễn ra ở quận Sơn Trà, thành

4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu CDCCLĐ ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trong
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

4.2. Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
+ Về thời gian: Giai đoạn 2006 – 2011, định hướng giải pháp đến năm 2020
+ Về nội dung: Các nội dung chủ yếu của CCLĐ và CDCCLĐ theo hướng
CNH, HĐH.
5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận và lý luận kinh tế
chính trị của chủ nghĩa Mác – Lênin và dựa trên đường lối chính sách của Đảng và
Chính phủ. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả còn sử dụng một số phương
pháp chủ yếu sau: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử,
phương pháp thu thập tài liệu. Ngoài ra, trong quá trình xử lí tư liệu chúng tôi còn
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành như: so sánh,
đối chiếu, thống kê, phân tích, tổng hợp.
Về tư liệu sơ cấp, tác giả lựa chọn các phương pháp: chọn mẫu kết hợp, phân
tổ, phân tích số liệu thống kê, phỏng vấn chuyên gia.

10


6.Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

6.1.Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về CCLĐ và
CDCCLĐ, khẳng định những xu hướng của quá trình CDCCLĐ trong tiến trình
CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay.


nhiên, một quá trình trong đó, bằng mọi hoạt động của chính mình, con người làm
trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên. Bản thân con
người đối diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tự
nhiên…Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó, và
làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính
nó.” [4, 274].
Rõ ràng lao động sản xuất ra của cải vật chất là quá trình biểu hiện mang tính
lịch sử của quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên và con người với xã hội.
Theo đó, chủ nghĩa Mác đã chỉ ra lao động của loài người có 2 đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, Lao động của con người là một hoạt động có mục đích,“ Con
người không chỉ làm biến đổi cái tự nhiên cung cấp; trong những cái do tự nhiên
cung cấp, con người cũng đồng thời thực hiện cái mục đích tự giác của mình, mục
đích ấy quyết định phương thức hành động của họ giống như một quy luật và bắt ý

12


chí của họ phải phục tùng nó...”[5, 275] Con người vận dụng công cụ LĐ để tác
động cải biến tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho con người.
Thứ hai, Việc sử dụng và sáng tạo những tư liệu lao động kết hợp với đối
tượng lao động tạo ra các sản phẩm theo một mục đích đã được định sẵn là một nét
đặc trưng riêng trong quá trình lao động của con người.
Tóm lại, ta có thể khái quát: Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức
của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu trong đời sống con
người. Hay LĐ là hoạt động hữu ích của con người nhằm sáng tạo ra của cải vật
chất và tinh thần cần thiết để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, của một nhóm người, của
cả doanh nghiệp, của toàn xã hội.
1.1.1.2. Lực lượng lao động
Dân số của một quốc gia bao gồm dân số trong độ tuổi lao động và dân số
ngoài độ tuổi lao động. Theo Luật lao động Việt Nam thì tuổi lao động là độ tuổi từ

Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản
xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực
bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn
lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao
động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá
nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực
của họ được huy động vào quá trình lao động.
Theo tổng cục thống kê Việt Nam, Nguồn lao động gồm những người đủ 15
tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao
dộng nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình,
không có nhu cầu làm việc, những người thuộc tình trang khác (bao gồm cả những
người nghỉ hưu trước tuổi theo qui định của Luật Lao Động).
Như vậy, khái niệm nguồn lao động rộng hơn khái niệm LLLĐ, nó không
những bao gồm LLLĐ mà còn bao gồm cả một bộ phận dân số từ 15 tuổi trở lên có
khả năng lao động, kể cả những người đang học, nội trợ gia đình, không có nhu
cầu làm việc hoặc trong tình trạng khác.
1.1.1.4. Cơ cấu lao động
Theo quan niệm của một số nhà nghiên cứu cho rằng: Cơ cấu biểu thị cấu

14


trúc của một hệ thống, gồm nhiều bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; cơ cấu
biểu hiện mối quan hệ về tỷ trọng giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể hoặc là
tỷ lệ giữa các bộ phận với nhau, bộ phận này tăng thì bộ phận kia giảm và ngược lại.
[1]
Như vậy, vận dụng quan điểm trên ta có thể đưa ra khái niệm: Cơ cấu lao
động là một phạm trù kinh tế, thể hiện tỷ trọng của từng yếu tố lao động theo các

số lượng người thất nghiệp và có việc làm định hướng để có các chính sách phát
triển, đầu tư hợp lý với cơ cấu lao động, làm cho cơ cấu kinh tế phù hợp với cơ cấu
lao động, giảm số người thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động.
Dưới cơ chế nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cơ cấu lao động hình thành
chủ yếu là do sự áp đặt của nhà nước thông qua phân công bố trí lao động xã hội,
theo kế hoạch sản xuất từ trên giao xuống. Trong cơ chế thị trường thì cơ cấu lao
động được hình thành chủ yếu thông qua quan hệ cung cầu lao động trên thị trường
lao động tổng thể và khu vực. Tuy vậy, vai trò của Nhà nước có ý nghĩa hết sức
quan trọng và điều tiết thông qua những chính sách phát triển kinh tế, để có được cơ
cấu lao động hợp lý, phủ hợp với cơ cấu kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội. Về nguyên tắc, cơ cấu lao động phải phù hợp với cơ cấu kinh tế vì nó phản ánh
trình độ phát triển của nền kinh tế và trình độ văn minh của xã hội. Vì thế, theo quy
luật phát triển không ngừng của xã hội mà cơ cấu lao động luôn biến đổi, đó là sự
chuyển dịch cơ cấu lao động.
1.1.1.5. Chuyển dịch cơ cấu lao động
Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi về lượng các thành phần trong lực
lượng lao động để tạo nên một cơ cấu mới. Là sự chuyển dịch nguồn lao động từ
ngành này sang ngành khác, từ khu vực này đến khu vực khác, sự thay đổi lao động
giữa các nghề, giữa các cấp trình độ,...hay chuyển dịch cơ cấu lao động chính là sự
chuyển hoá từ cơ cấu lao động cũ sang cơ cấu lao động mới phù hợp hơn với quá
trình phát triển kinh tế xã hội và trình độ phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Thực chất của chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình tổ chức và phân công
lại lực lượng lao động qua đó làm thay đổi quan hệ tỷ trọng giữa các bộ phận của
tổng thể.
Do đặc điểm của nguồn lao động ở Việt Nam, nên chuyển dịch cơ cấu lao
động ở nước ta chủ yếu theo hướng chuyển lao động nông nghiệp, nông thôn sang

16



cơ cấu kinh tế thuận lợi và đòi hỏi phải chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế.
1.1.2. Tính tất yếu của CDCCLĐ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
17


1.1.2.1. Những tiền đề cần thiết cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động
Thứ nhất, NSLĐ trong nông nghiệp ngày càng tăng nhờ sự phát triển của
khoa học- công nghệ, đảm bảo vấn đề an ninh lương thực của quốc gia.
Trong học thuyết về phân công lao động xã hội, các nhà kinh tế học Mác-xít
không chỉ nêu rõ những tiền đề vật chất mà còn khẳng định vai trò quan trọng của
môi trường thể chế đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Những tiền đề
vật chất được đề cập ở đây đó là có sự tách rời giữa thành thị và nông thôn; quy mô
và mật độ của dân số; mức năng suất lao động trong nông nghiệp.[6,157]
Về nguyên tắc, mức năng suất lao động nói trên phải có khả năng đáp ứng
được đầy đủ nhu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội. Còn môi trường thể
chế đóng vai trò ''bà đỡ” cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động chính là sự phát
triển của cuộc cách mạng công nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
Do đó, tiền đề đầu tiên của CDCCLĐ đó là tăng năng suất lao động trong
nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, có tích lũy trong nông nghiệp.
Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế đi lên từ nông nghiệp, lao động nông
nghiệp chiếm 60% tổng lao động xã hội. Thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp làm đổi
mới PTSX thúc đẩy sự phát triển của LLSX, tăng NSLĐ, nâng cao chất lượng, hiệu
quả, sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường. Đồng thời sẽ tất yếu dẫn đến cấu tạo
hữu cơ của tư bản cao lên, nông nghiệp sẽ phát triển thành nông nghiệp hiện đại, LĐ
trong nông nghiệp theo đó mà giảm dần. Chính vì vậy, khi NSLĐ trong nông nghiệp
tăng lên, hao phí LĐ trong nông nghiệp giảm thì cả số lượng LĐ và thời gian LĐ
thực tế giảm, dẫn đến LĐ trong khu vực nông nghiệp dư thừa. Đây là tiền đề cơ bản
chuyển LĐ từ nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp.
Nông nghiệp có vị trí quan trọng trong sự phát triển của nước ta, chiếm tỉ
trọng lớn trong GDP đặc biệt là việc cung cấp lương thực trong nước và xuất khẩu

nhập giữa LĐ ở các khu công nghiệp, các nhà máy với thu nhập từ sản xuất nông
nghiệp là lí do cơ bản CDCCLĐ.
Hiện nay ở Việt Nam , GDP khu vực nông nghiệp thấp nên tốc độ thu nhận
LĐ có xu hướng giảm dần. Nguyên nhân là do NSLĐ trong khu vực này thấp hơn
nhiều so với khu vực công nghiệp và dịch vụ, điều này chứng tỏ LĐ trong nông
nghiệp cũng hạn chế hơn. Bên cạnh đó, mức tăng trưởng lĩnh vực nông nghiệp thấp

19


hơn nhiều so với lĩnh vực phi nông nghiệp và khoảng cách chênh lệch đó ngày càng
lớn. Chính vì thế, người LĐ có xu hướng rời bỏ nông nghiệp ngày càng nhiều.
LLLĐ ở Việt Nam hàng năm tăng 1,2 triệu người, trong khi đó khu vực nông
nghiệp chỉ tăng thêm 250.000 việc làm mỗi năm. Để giải quyết được lượng LĐ thừa
trong nông nghiệp đó đòi hỏi phải phát triển công nghiệp và dịch vụ, thực hiện
CDCCLĐ nông thôn.
1.1.2.2. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là hai vấn đề có
mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Cái này vừa là tiền đề cho cái kia,
lại vừa là kết quả có được từ cái kia.
Trước hết, cơ cấu lao động phải được chuyển dịch tuỳ theo sự chuyển dịch của
cơ cấu kinh tế, phục vụ và đáp ứng cho chuyển dịch của cơ cấu kinh tế. Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế đóng vai trò như đầu tàu, dẫn dắt chuyển dịch cơ cấu lao động.
Các chủ trương, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ quyết định ngành nào
tăng về tỷ trọng đóng góp trong GDP và tỷ trọng ngành nào giảm. Như một kết quả
tất yếu, một ngành phát triển thì sẽ kéo theo nhu cầu về lao động của ngành đó sẽ
tăng lên. Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một định hướng cho chuyển dịch cơ
cấu lao động.
Mặt khác, khi cơ cấu lao động được chuyển dịch thuận lợi, lại tạo điều kiện

hoá và công nghiệp nặng từ năm 1973 đến năm 1979. Đài loan công nghiệp hoá
thay thế nhập khẩu từ năm 1953-1957 và đẩy mạnh công nghiềp từ năm 1973-1977.
Kinh nghiệm của các nước này cho thấy, để đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá phải có một cơ cấu lao động tương thích mà đặc biệt phải chuyển hoá về chất
lượng lao động là quan trọng nhất.
CDCCLĐ đúng hướng phù hợp với CDCCKT sẽ tạo ra tác động tích cực tới
sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, biểu hiện ở các khía cạnh sau:
- CDCCLĐ thúc đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH. Để đảm bảo các sản phẩm
của nông, lâm, ngư nghiệp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong nước cũng như xuất
khẩu thì phải áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật nhằm tăng năng suất, nâng cao
số lượng cũng như chất lượng sản phẩm trong các ngành này. Bên cạnh đó, các
ngành công nghiệp, dịch vụ như công nghiệp chế biến, thủ công nghiệp, công nghiệp

21


nhẹ… sẽ hỗ trợ tạo cơ sở vật chất để phát triển nghiên cứu và ứng dụng khoa học
công nghệ, tăng sức mạnh cạnh tranh sản phẩm nội địa với sản phẩm nước ngoài.
- CDCCLĐ phù hợp sẽ giải quyết được các vấn đề xã hội như thu nhập của
người LĐ, thất nghiệp. LĐ chuyển từ ngành nông nghiệp sang cách ngành công
nghiệp, dịch vụ sẽ có mức thu nhâp cao hơn, có điều kiện để cải thiện đời sống.
Ngoài ra, CDCCLĐ tạo việc làm cho những LĐ thiếu việc làm trong xã hội.
CDCCLĐ còn tác động đến đào tạo nghề, nâng cao chất lượng người LĐ,
phân công LĐ hợp lí phù hợp với yêu cầu của xã hội trong quá trình CDCCKT
hướng tới thực hiện CNH, HĐH.
Ở nước ta, theo nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII:
Xúc tiến công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá là yêu cầu cấp bách nhằm đẩy
lùi nguy cơ tụt hậu kinh tế, đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách vững
chắc, có hiệu quả [15]. Vì thế phải có sự chuyển dịch tương ứng về cơ cấu lao động
và đổi mới cơ cấu lao động theo ngành, theo vùng, theo nghề, theo thành phần kinh

vì vậy để xây dựng cơ sở vật chất hiện đại về con người, khoa học và công nghệ ;
thực hiện CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm mà Đảng ta đã xác định trong suốt thời
kì quá độ lên CNXH. Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức văn minh của
nhân loại vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra
quan niệm về CNH, HĐH như sau :
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng
sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức LĐ với công
nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra NSLĐ xã hội cao. [15, 554]
Với định nghĩa trên đây ta có thể rút ra những đặc trưng cơ bản về nội dung
của khái niệm công nghiệp hóa
Thứ nhất, công nghiệp hóa là một giai đoạn của quá trình phát triển, là một
sự biến đổi cơ cấu của nền kinh tế từ một nền kinh tế nông nghiệp và thủ công
nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ.
Thứ hai, giai đoạn phát triển này được đánh dấu sự thay đổi cơ bản về tính
hiệu quả, tính công nghiệp, tính bền vững của sự phát triển.
Thứ ba, công nghiệp hóa làm tăng qui mô thị trường, bên cạnh thị trường
hàng hóa xuất hiện các thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường công nghệ.
Các dịch vụ tín dụng, ngân hàng và nhiều dịch vụ khác tăng mạnh.
Do vậy, rõ ràng các nước phát triển đã trải qua giai đoạn này, còn các nước
đang phát triển một khi đã có đủ một số điều kiện nhất định thì dứt khoát phải nghĩ tới
giai đoạn công nghiệp hóa. Đó là nguyện vọng chính đáng của bất kỳ quốc gia nào.
23


Thực chất của CNH, HĐH đối với Việt Nam lúc này là sự tổng hợp của các
yêu cầu cơ giới hóa, điện khí hóa, tự động hóa, hiện đại hóa, khoa học hóa,... được
thực hiện thích hợp, đồng bộ trong mọi ngành sản xuất và trong mọi hoạt động xã
hội, trong cả nước và ở từng địa phương, trong mỗi con người ở bất cứ vị trí nào.

nhanh và ổn định. Để xây dựng một nền kinh tế phát triển mạnh và bền vững, không
thể dựa hoàn toàn vào vay, mượn hay bỏ tiền ra mua công nghệ của nước ngoài, dựa
vào tài nguyên thiên nhiên, vào số lượng các mỏ than, giếng dầu mà phải biết phát
huy yếu tố con người. Đây là bài học rút ra từ thực tiễn của phần nhiều nước trên thế
giới có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo...
Yếu tố dân số và lao động vừa là điều kiện vừa là mục tiêu tác động đến quá
trình CNH, HĐH của đất nước. Đây là nhân tố quan trọng bậc nhất trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng. Với
dân số trẻ và có học vấn tương đối cao, để tiếp thu chuyển giao công nghệ, nhất là lao
động đã qua đào tạo, thực sự là nguồn lực to lớn của phát triển. Lực lượng lao động
trẻ và có học thức là vốn quí, nếu được phát huy tốt sẽ tạo ra động lực để phát triển.
Nhưng cũng cần thấy rằng : nếu lực lượng lao động không được khuyến khích đủ
mức, trình độ tay nghề thấp, thậm chí thiếu việc làm, thì sự dồi dào của nguồn lao
động lại có thể trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, ảnh hưởng tới tốc độ của quá
trình CNH, HĐH .
Đến lượt nó CNH, HĐH lại có tác động đến vấn đề lao động việc làm, tùy
thuộc vào nhiều yếu tố mà có tác dụng tích cực hoặc tiêu cực (trình độ công nghệ
ứng dụng trong sản xuất, năng lực quản lí...) Tốc độ CNH, HĐH càng nhanh, trình
độ CNH, HĐH càng cao, thành tựu khoa học được ứng dụng trong sản xuất sẽ làm
cho năng suất lao động tăng, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Trên cơ
sở đó hình thành nên các cơ sở cản xuất mới, ngành nghề mới, từ đó thu hút nhiều
lao động, tạo điều kiện giải quyết việc làm. Ngược lại nếu vận dụng thiết bị máy
móc không gắn liền với giải quyết việc làm ( do năng suất lao động tăng lên, số
người là việc dư ra) vô tình làm ảnh hưởng xấu đến đời sống của người lao động.
Với điều kiện thành phố Đà Nẵng nói chung cũng như ở địa bàn quận Sơn
Trà nói riêng, số lượng lao động ngày càng gia tăng, chất lượng lao động còn nhiều
hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu về phát triển về thể lực và trí lực, thiếu vốn,

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status