ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------------
NGUYỄN VĂN ĐỒNG
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Ở HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2004
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
----------------------
NGUYỄN VĂN ĐỒNG
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Ở HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THEO
HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Chuyên ngành:
KINH TẾ CHÍNH TRỊ
trọng và cần được ưu tiên.
Xây dựng một cơ cấu kinh tế hiện đại là yêu cầu tất yếu của quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhằm phát huy tiềm năng, nguồn lực của mọi
vùng, mọi miền, mọi ngành và mọi thành phần kinh tế để đảm bảo phát triển
kinh tế, xã hội bền vững. Đối với từng vùng, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
như thế nào? Là tuỳ thuộc điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc
phòng của vùng đó. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải trên cơ sở phát huy tối
đa lợi thế so sánh của vùng để đảm bảo cho kinh tế của vùng có thể phát triển
nhanh và bền vững.
1
Để rút ngắn chênh lệch về sự phát triển so với Thành Phố nói chung,
các Huyện ngoại thành khác của Thành Phố nói riêng đòi hỏi huyên Cần
Gìơ cần phải đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải phóng được mọi
nguồn lực, phát huy được lợi thế để phát triển kinh tế của Huyện. Vì vậy,
việc nghiên cứu tổng kết thực tiễn, giải đáp vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ở huyện Cần Giờ là cần thiết cấp bách, đó chính là lý do tác giả lựa chọn
đề tài: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Cần Giờ Thành Phố Hồ Chí
Minh, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá" làm luận văn tốt nghiệp
cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước từ lâu đã thu hút sự quan tâm rộng rãi của nhiều nhà nghiên cứu
và hoạch định chính sách kinh tế. Đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên
quan đến đề tài được công bố trong các cuộc hội thảo khoa học, các tạp chí ,
báo chí trung ương và Thành Phố Hồ Chí Minh, cũng như trong kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và địa phương. Tuy nhiên, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở huyện Cần Giờ Thành Phố Hồ Chí Minh theo hướng công
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp biện chứng duy vật và duy vật
lịch sử Mác-Lênin, đồng thời kết hợp phương pháp nghiên cứu của kinh
tế chính trị và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: Phân tích,
tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tế, so sánh, phương pháp chuyên gia...
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về không gian: Lấy địa bàn huyện Cần Gìơ để nghiên cứu là
chính trong chỉnh thể không gian các Huyện ngoại thành và Thành Phố
Hồ Chí Minh.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ khi Thành phố quyết định thành
lập một số Quận mới và thực trạng của huyện Cần Gìơ từ 10 năm trở lại đây.
3
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ thêm tính tất yếu khách quan và đòi hỏi chủ
quan phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Cần Giờ trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong hoạch
định chính sách, giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Cần Giờ.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và các
phụ lục kèm theo, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cơ cấu kinh tế và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
Chương 2: Đặc điểm kinh tế - xã hội và thực trạng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở huyện Cần
Giờ.
Quan điểm thứ ba nói gọn hơn : Cơ cấu kinh tế quốc dân là tổng thể các
cơ cấu kinh tế ngành, vùng và các thành phần kinh tế, giữa chúng có mối
quan hệ mang tính cơ cấu thống nhất của nền kinh tế quốc dân.
Các quan niệm trên tuy không có sự khác biệt cơ bản, tuy nhiên góc độ
tiếp cận của mỗi một quan niệm là khác nhau, có thể thấy:
Quan niệm thứ nhất: Nhấn mạnh các yếu tố cơ bản của lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất trong điều kiện kinh tế-xã hội nhất định.
Quan niệm thứ hai: Nhấn mạnh yếu tố cấu trúc của nền kinh tế trong
quá trình tái sản xuất và các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội.
Quan niệm thứ 3: Nhấn mạnh tính cơ cấu thống nhất của các yếu tố tạo
thành chỉnh thể nền kinh tế.
Từ cách hiểu khác nhau về cơ cấu kinh tế, xung quanh khái niệm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng có cách hiểu khác nhau , có thể nêu lên vài ví
dụ sau:
Có người cho rằng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi cấu trúc
kinh tế-xã hội dựa trên sự biến đổi của các ngành, các vùng, các thành phần
kinh tế.
Quan niệm khác lại khẳng định: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay
đổi cấu trúc, quy mô tỷ trọng, tốc độ của cơ cấu kinh tế nhằm đạt tới một cơ
cấu kinh tế hợp lý và hiện đại tạo thế và lực cho tăng trưởng và phát triển kinh
tế-xã hội.
1.1.2. Quan niệm của tác giả về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế
Quan niệm của tác giả về cơ cấu kinh tế.
Để có một quan niệm đúng về cơ cấu kinh tế trước hết tác giả nhận thấy
cần phải chỉ rõ nội hàm của khái niệm cơ cấu kinh tế.
6
7
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung,
huyện Cần giờ nói riêng không thể tách rời thiết chế kinh tế chung của vùng
và của cả nền kinh tế, song ở mỗi vùng, tỉnh, thành phố, huyện nó có tính đặc
thù riêng, lợi thế và điều kiện kinh tế-xã hội cũng có khác biệt. Vì vậy, không
nhất thiết việc chuyển dịnh cơ cấu kinh tế ở một huyện, tỉnh, thành phố phải
dập khuôn theo một chuẩn mực sẵn có hay định trước. Đối với huyện Cần
giờ, Thành phố Hồ Chí Minh cũng vậy. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ở huyện Cần Giờ chính là quá trình xây dựng và chỉnh đổi cơ cấu kinh tế hiện
có nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội để hòa nhập vào cơ cấu kinh tế
chung của Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực miền Đông, miền Tây Nam
bộ.
Việc xác định phạm vi lãnh thổ của cơ cấu kinh tế có ý nghĩa rất quan
trọng, cơ cấu kinh tế của cả nước trên toàn bộ lãnh thổ của quốc gia khác với
cơ cấu kinh tế của một vùng, một địa phương được xác định trên một phạm vi
địa chính nhất định, nó là một bộ phận trong cái chỉnh thể thống nhất của nền
kinh tế quốc dân. Trên cơ sở đó mà cơ cấu kinh tế ngành của từng địa phương
cũng có khác nhau. Có địa phương với phương hướng là phát triển Dịch vụ,
Công nghiệp, Nông nghiệp. Có địa phương xác định phương hướng là Nông
nghiệp, Công nghiệp, Dịch vụ hay Công nghiệp, Dịch vụ, Nông nghiệp... Tất
nhiên sự đa dạng của từng địa phương vẫn chịu sự quy định của cơ cấu kinh
tế chung của cả nước. Đây chính là cơ sở phương pháp luận trong việc xác
định cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng địa phương cụ thể,
trong đó có huyện Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2. Tính tất yếu khách quan, yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc
1.2.1. Tính tất yếu khách quan của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.1.1. Do đòi hỏi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
triển, một cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại của Chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa chính là con đường duy nhất để nước ta có được cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại. Do vậy thực chất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, là quá trình tạo ra những tiền đề vật chất, kỹ thuật, con người, công
nghệ phương tiện, phương pháp sản xuất tiên tến cho chủ nghĩa xã hội.
9
Nội dung cơ bản của Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đó là phát triển
mạnh mẽ lực lượng sản xuất trước hết là việc cơ khí hóa toàn bộ nền sản
xuất xã hội trên cơ sở áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ. Đó là
quá trình cải tiến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng công
cụ lao động tiên tiến hiện đại đem lại năng xuất lao động xã hội cao. Quá
trình đó là quá trình cơ khí hóa, điện khí hóa và tự động hóa sản xuất nhằm
mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại.
Quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển lực lượng sản
xuất phải gắn liền với xây dựng một quan hệ sản xuất phù hợp. Gắn chặt một
cách hữu cơ với sự phát triển phân công lao động xã hội, với quá trình hình
thành các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế và các vùng chuyên môn hóa
sản xuất trong tổng thể nền kinh tế thống nhất. Các ngành, các vùng, các
thành phần kinh tế đó tồn tại và hoạt động trong mối liên hệ tất yếu khách
quan dưới những hình thức tổ chức sản xuất nhất định tạo thành cơ cấu kinh
tế của nền kinh tế quốc dân thống nhất.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xây dựng một cơ cấu kinh tế phù hợp tương
ứng với cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội không chỉ là hệ quả của
chính quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật mà còn là nhận thức chủ
quan của chủ thể kinh tế, có thể tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế để mở
đường thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển. Điều đó
Như vậy, thực chất kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển mà ở đó
đã hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường. Trong nền kinh tế thị trường tất
cả các quan hệ kinh tế của các chủ thể kinh tế đều được thể hiện thông quan
hệ mua-bán hàng hoá dịch vụ trên thị trường. Động lực thúc đẩy các chủ thể
kinh tế là tìm kiếm lợi ích, lợi nhuận cho chính mình theo sự dẫn dắt của giá
cả thị trường. Kinh tế thị trường ra đời là một tất yếu kinh tế trên cơ sở kinh tế
hàng hoá và ở trình độ cao hơn. Cho tới nay kinh tế thị trường phát triển với
11
ba mô hình: Kinh tế thị trường tự do, kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước và kinh tế hỗn hợp.
Như vậy kinh tế thị trường là một bước tiến của lịch sử nhân loại, mặc
dù nó có mặt trái và hạn chế song nó không đối lập với chủ nghĩa xã hội. Nó
không những tồn tại trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà nó tồn tại
cả trong chủ nghĩa xã hội “Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy quan niệm của Đảng ta về
sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ lực lượng sản
xuất. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của cả nước ta trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội”[9, tr.88] .
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
là nhằm giải phóng sức sản xuất, tập trung và động viên mọi nguồn lực để
thực hiện thắng lợi công nghiệp hoá, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho chủ nghĩa xã hội. Phát triển kinh tế nhiều thành phần với đa dạng
các hình thức sở hữu trên cơ sở nền tảng là sở hữu toàn dân. Sự tồn tại của
kinh tế thị trường dựa trên hai nền tảng cơ bản là có sự phân công lao động xã
hội và có sự độc lập tương đối của các chủ thể sản xuất kinh doanh, chính
những tiền đề đó đòi hỏi muốn phát triển kinh tế thị trường cần phải chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
Sau năm 1954 miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chúng ta tiến hành
cải cách ruộng đất, thực hiện mục tiêu "Người cày có ruộng". Trong những
năm 1957 đến 1960 chúng ta tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm xác lập
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã xác
định sự cần thiết tiến hành công nghiệp hoá đất nước, nhằm xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội và coi đó là nhiệm vụ trung tâm trong
suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Mặc dù còn là một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là phổ biến,
hậu quả của chiến tranh rất nặng nề, song chúng ta đã thực hiện quá trình
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa theo mô hình của Liên Xô, và đã xác định
13
nội dung của công nghiệp hoá là: Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lý, đồng thời phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ để nhanh
chóng biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công
nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại. Nhưng do mục tiêu chung của cách
mạng nước ta lúc đó là thực hiện giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do đó quá trình công nghiệp
hoá thực hiện chưa được nhiều. Mặt khác mục tiêu đó rất khó thực hiện đối
với một nước có điểm xuất phát rất thấp, nền kinh tế chưa có tích luỹ, chủ yếu
phát triển dựa vào sự viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa.
Sau năm 1975 đất nước được thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội, dưới ánh sáng của đường lối phát triển kinh tế do Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ IV của Đảng đề ra. Trong đường lối xác định: Đẩy mạnh công
nghiệp hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, đưa nền
kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp
và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp thành một
cơ cấu công-nông nghiệp, vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển
nghiệp hóa. Trong đường lối đó chúng ta coi nông nghiệp là mặt trận hàng
đầu, tập trung vào phát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ nhằm đáp ứng yêu
cầu cấp bách và thiết yếu về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng nhằm
ổn định đời sống xã hội. Trong Đại hội này Đảng ta đã xác định được điểm
xuất phát của đất nước là nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Với sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế đó đã tạo ra một
bước phát triển đột phá trong nông nghiệp, công nghiệp và hàng tiêu dùng.
Đối với nông nghiệp Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương đã thực sự cởi
trói tạo ra một sức sống mới cho nông nghiệp và nông thôn. Song do sai lầm
trong quản lý kinh tế với chính sách cải cách Giá-Lương-Tiền năm 1985 làm
cho nền kinh tế càng lún sâu vào khủng hoảng và đẩy lạm phát tới mức phi
15
mã 774% năm 1986, đời sống kinh tế xã hội vô cùng khó khăn, nhiều tỉnh có
người chết đói. Trước bối cảnh đó Đảng ta xác định phải đổi mới toàn diện
mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế.
Công cuộc đổi mới toàn diện sâu sắc ở nước ta được đánh dấu bằng Đại
hội Đảng lần thứ VI (Tháng 12 năm 1986), trong đó đổi mới tư duy kinh tế là
trọng tâm. Về công nghệp hóa là khắc phục các thiếu sót trước đây về ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng, ham quy mô lớn và thiên về xây dựng mới. Đảng
ta chủ trương điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng tập trung mọi nguồn lực
cho ba chương trình kinh tế lớn là: Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu.
Về cơ cấu thành phần kinh tế Đảng ta chủ trương chuyển sang cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần coi đó là vấn đề có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên
sản xuất lớn và chính sách này có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đồng thời là một
đặc trung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Ba chương trình kinh tế là sự cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóa
Năm
1998
1999
2000
2001
2002
2003
Tăng trưởng GDP
5,71%
4,77%
6,79%
6,89%
7,04%
7,24%
Nguồn: Nguyễn Sinh Cúc, Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam
năm 2003.
Dịch vụ
38,74
38,63
38,46
38,40
Nguồn: Nguyễn Sinh Cúc. Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2003 [4].
17
1.2.2 Yêu cầu xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
xây dựng một nền kinh tế có cơ cấu kinh tế hợp lý có các đặc trưng cơ bản
như: Tính khoa học, tính thị trường, tính hiện đại và tính hiệu quả kinh tế - xã
hội.
Một là: Tính khoa học: Xây dựng cơ cấu kinh tế phải tuân thủ các quy
luật khách quan như : quy luật tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế và xã hội mà đặc
biệt là các quy luật kinh tế. Chúng ta đều biết lịch sử của loài người trước hết
là lịch sử của sản xuất mà thực chất là sự phát triển kế tiếp nhau của các
phương thức sản xuất xã hội. Sự phát triển đó là quá trình lịch sử tự nhiên
tuân theo các quy luật kinh tế vốn có của nó. Cơ cấu kinh tế cũng vậy, nó phát
triển cũng phải tuân theo các quy luật của chính nó. Sự hình thành và hoàn
thiện của các cơ cấu kinh tế chịu sự quy định của trình độ lực lượng sản xuất,
đầu tầu thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Đối với cơ cấu thành phần kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh
tế đơn nhất sang nền kinh tế nhiều thành phần ở cả nông thôn, thành thị và từ
kinh tế nhiều thành phần trở thành nền kinh tế thuần nhất dựa trên chế độ sở
hữu toàn dân về tư liệu sản xuất.
Đối với cơ cấu lao động: Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm
dần, tỷ trọng lao động trong công nghiệp, dịch vụ tăng dần trong đó lao
động trong dịch vụ tăng nhanh hơn lao động trong công nghiệp. Tỷ trọng
lao động cơ bắp giảm dần, tỷ lệ lao động trí tuệ tăng nhanh trong tổng số
lao động xã hội.
Hai là: Tính thị trường: Thị trường là phạm trù kinh tế cơ bản của kinh
tế thị trường nó là nơi diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa-dịch vụ,
thông qua nó để xác định sản lượng và giá cả hàng hóa-dịch vụ trong những
thời điểm nhất định. Thị trường với các chức năng thông tin cho người sản
19
xuất và tiêu dùng, chấp nhận hay không chấp nhận hàng hóa và dịch vụ, thông
qua đó để kiểm tra mức độ thỏa mãn và khả năng sản xuất. Với các chức năng
trên thì thị trường là cơ sở trực tiếp hướng dẫn các chủ thể kinh tế xác định
sản xuất cái gì hay là lựa chọn lĩnh vực hoạt động kinh doanh; sản xuất như
thế nào? hay xác định quy mô, công nghệ và hình thức tổ chức sản xuất kinh
doanh; Sản xuất cho ai? Nhằm đạt được hiệu quả kinh tế-xã hội cao nhất.
Trong kinh tế thị trường thì mục đích của các chủ thể kinh tế là lợi
nhuận. Để đạt được mục đích đó các chủ thể kinh tế phải luôn bám sát giá cả
thị trường trong môi trường cạnh tranh gay gắt, trong cuộc cạnh tranh đó tất
yếu phải có người thắng, người thua.
Chính sự đòi hỏi và yêu cầu khắt khe của thị trường buộc các chủ thể
kinh tế phải căn cứ vào thị trường, lấy nó làm cơ sở quyết định chiến lược
Cơ cấu kinh tế hợp lý hiện đại là cơ cấu kinh tế có tính chuyển đổi
nhanh. Các Mác đã chỉ rõ: "Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở
chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào với
những tư liệu lao động nào” [45, tr.289].
Như vậy, cách thức mà con người sản xuất với những tư liệu lao động
nhất định tạo thành hệ thống xương cốt, bắp thịt của nền sản xuất. Sự phát
triển của khoa học công nghệ giữ vai trò quyết định tới sự phát triển của nền
kinh tế và đánh dấu sự ra đời của một thời đại mới. Khoa học và công nghệ
phát triển nhanh chóng làm thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế trước hết là cơ cấu
ngành kinh tế. Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ
đã làm thay đổi chức năng của người lao động trong quá trình sản xuất và nó
đã tạo ra một bước ngoặt trong toàn bộ hệ thống các yếu tố cấu thành lực
lượng sản xuất. Cách mạng khoa học công nghệ tác động mạnh mẽ sâu sắc
toàn diện tới cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội trong phạm vi quốc
gia và quốc tế. Cách mạng khoa học công nghệ hiện nay không những thúc
đẩy tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất mà còn làm thay đổi các quan hệ
kinh tế trong nước cũng như thế giới. Xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa
21
nền kinh tế quốc tế đang làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau và tính thống nhất
trong quan hệ kinh tế giữa các nước. Để đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải có một cơ
cấu kinh tế hiện đại, linh hoạt, có như vậy mới tận dụng được cơ hội do cuộc
cách mạng khoa học công nghệ tạo ra, rút ngắn được sự lạc hậu và khắc phục
được tính chu kỳ của nền kinh tế thị trường.
Bốn là: Tính hiệu quả kinh tế - xã hội: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam có bản chất xã hội khác với quá trình công nghiệp hóa đã từng diễn
ra ở các nước Tư bản và các nước công nghiệp mới. Công nghiệp hóa, hiện
số và lao động.
Dân số Việt Nam ta hiện nay khoảng gần 80,7 triệu người trong đó dân
số nông thôn chiếm gần 70%. Hiện nay có trên 50 triệu người từ 15 tuổi trở
lên, trong đó trên 60 tuổi chiếm khoảng 8,2% tổng số dân số. Nước ta được
xếp vào hàng các quốc gia có trình độ học vấn cao, với 93,7% người lớn biết
chữ đây là lợi thế cho phép nước ta tiếp thu những thành tựu mới của khoa
học và công nghệ để đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Lao động ở nước ta khá dồi dào, thông minh cần cù lao động, lực lượng
lao động này cho phép chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
Bên cạnh những thuận lợi trên, cũng cần phải thấy rằng lực lượng lao
động ở nước ta hiện nay có tỷ lệ qua đào tạo và chuyên môn kỹ thuật rất thấp,
phần lớn là lao động phổ thông. Mặt khác cơ cấu đào tạo lại bất hợp lý, chất
lượng đào tạo còn rất nhiều hạn chế đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến quá
trình đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung và sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nói riêng. Vì vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hóa phải được tiến hành đồng bộ trên cơ sở
khả năng của lực lượng lao động hiện có.
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội:
Với thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước nền kinh tế nước ta tiếp
tục tăng trưởng cao, nền tài chính quốc gia lành mạnh, hệ thống kết cấu hạ
23