BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ THẢO NGUYÊN
NGHIÊN CỨU SỰ TÍCH LŨY CÁC KIM LOẠI NẶNG Zn,
Cu, Cd, Pb TRONG MỘT SỐ LOÀI NHUYỄN THỂ Ở VÙNG
BIỂN HUYỆN CẦN GIỜ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Hóa vô cơ
Mã số: 60440113
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHAN THỊ HỒNG TUYẾT
VINH - 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc của mình tới
TS. Phan Thị Hồng Tuyết – Người đã trực tiếp giao đề tài, tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và
thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô Khoa Hóa học đã đóng góp những ý
kiến của mình và các thầy cô phụ trách phòng thí nghiệm đã tạo mọi điều kiện
tốt nhất để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Qua đây tôi cũng xin cám ơn Ban Giám hiệu, Ban lãnh đạo Khoa Hóa,
.................................................................................................................... 27
1.1.6. Giới hạn an toàn của kim loại nặng Zn, Cu, Cd, Pb trong thực phẩm 30
1.1.7. Tình hình ô nhiễm kim loại nặng trên thế giới và Việt Nam .............. 32
1.1.8. Tình hình nghiên cứu kim loại nặng ở động vật nhuyễn thể trên thế
giới và Việt Nam ......................................................................................... 39
1.2. Các phương pháp xác định Zn, Cu, Cd, Pb .............................................. 42
1.2.1. Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử AAS ......................................... 43
1.2.2. Phương pháp cực phổ ........................................................................ 48
3
1.3. Các phương pháp xử lý mẫu .................................................................... 51
1.3.1. Kỹ thuật vô cơ hoá mẫu ướt .............................................................. 52
1.3.2. Kỹ thuật vô cơ hoá mẫu khô .............................................................. 53
1.3.3. Kỹ thuật vô cơ hoá mẫu khô - ướt kết hợp ......................................... 53
1.4. Giới thiệu các loài nhuyễn thể ................................................................. 54
1.4.1. Loài Meretrix lyrata (Nghêu) ............................................................. 54
1.4.2. Loài Meretrix lusoria (Ngao vân) ...................................................... 55
1.4.3. Loài Ostrea Rivularis (Hàu)............................................................... 57
1.4.4. Andara granosa (sò huyết) ................................................................. 58
1.5. Khái quát về vùng nghiên cứu ................................................................. 60
CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ THỰC NGHIỆM................................................ 64
2.1. Thiết bị, dụng cụ, hóa chất ...................................................................... 64
2.1.1. Thiết bị, dụng cụ................................................................................ 64
2.1.2. Hóa chất ............................................................................................ 65
2.2. Lấy mẫu và xử lý mẫu ............................................................................. 66
2.2.1 Lấy mẫu ............................................................................................. 66
2.2.2. Chuẩn bị mẫu để vô cơ hóa mẫu ........................................................ 68
2.2.3. Xử lý mẫu.......................................................................................... 69
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Hàm lượng cadimi trong loài Brachidontes pharaonis và loài Pinctada
radiata ở vịnh Akuyu, Thổ Nhĩ Kỳ …………………………………………...27
Bảng 1.2 . Hàm lượng đồng và kẽm trong một số loài nhuyễn thể ở vùng biển
Senegal …………………………………………………………………………27
Bảng 1.3 . Hàm lượng chì và cadimi trong một số loài nhuyễn thể ở vùng biển
Đà Nẵng năm 2007 ..............................................................................................28
Bảng 1.4. Hàm lượng chì và đồng trong một số loài nhuyễn thể ở vùng biển Đà
Nẵng năm 2007 ...................................................................................................28
Bảng 1.5. Hàm lượng đồng và kẽm trong một số loài nhuyễn thể ở vùng biển Đà
Nẵng năm 2008 ...................................................................................................29
Bảng 1.6. Giới hạn cho phép của hàm lượng đồng và kẽm trong một số loại thực
phẩm ……………………………………………………………………………30
Bảng 1.7. Giới hạn cho phép của hàm lượng chì và cadimi trong một số loại thực
phẩm …………………………………………………………………………..31
Bảng 1.8. Quy định lượng ăn vào tối đa cho phép hàng ngày và hàng tuần của
chì và cadimi trong thực phẩm …………………………………………………32
Bảng 1.9. Mức tối đa cho phép của chì và cadimi ăn vào đối với trẻ em theo
trọng lượng cơ thể ………………………………………………………….......32
Bảng 1.10. Tải lượng một số chất gây ô nhiễm đổ ra biển của một số hệ thống
sông .....................................................................................................................37
Bảng 1.11. Tải lượng chất gây ô nhiễm đổ ra biển Hải Phòng – Quảng Ninh….37
Bảng 1.12. Thành phần dinh dưỡng của nghêu ………………………………55
Bảng 1.13. Thành phần dinh dưỡng của ngao vân …………………………......56
6
Hình 1.2. Kim loại đồng ………………………………………………………..17
Hình 1.3. Kim loại cadimi ……………………………………………………...20
Hình 1.4. Kim loại chì ………………………………………………………….22
Hình 1.5. Quy trình tích lũy kim loại theo dây chuyền thực phẩm …………….26
Hình 1.6. Phương pháp thêm chất chuẩn ……………………………………....45
Hình 1.7. Phương pháp đồ thị chuẩn ……………………………………….......46
Hình 1.8. Bãi nuôi sò huyết ở Long Hòa - Cần Giờ …………………………....63
Hình 1.9. Bãi nuôi hàu ở Long Hòa - Cần Giờ ………………………………...63
Hình 2.1. Máy phổ hấp thụ nguyên tử AAS-6300 …………………………......64
Hình 2.2. Máy đo cực phổ 797 Computrace ………………………………......64
Hình 2.3. Bản đồ địa điểm lấy mẫu ………………………………………….....66
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn hàm lượng Zn trong mẫu nhuyễn thể và giới hạn tiêu
chuẩn ……………………………………………………………………….....74
Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn hàm lượng Cu trong mẫu nhuyễn thể và giới hạn tiêu
chuẩn ……………………………………………………………………….....76
Hình 3.3. Đồ thị biểu diễn hàm lượng Cd trong mẫu nhuyễn thể và giới hạn tiêu
chuẩn ……………………………………………………………………….....78
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn hàm lượng Pb trong mẫu nhuyễn thể và giới hạn tiêu
chuẩn ………………………………………………………………………......80
Hình 3.5. Pic hòa tan đồng thời Zn, Cu, Cd, Pb trong mẫu trắng ………….......88
Hình 3.6. Pic hòa tan đồng thời Zn, Cu, Cd, Pb trong mẫu nước biển Long Hòa
..............................................................................................................................88
Hình 3.7. Pic hòa tan đồng thời Zn, Cu, Cd, Pb trong mẫu nước nuôi sò….....89
Hình 3.8. Pic hòa tan đồng thời Zn, Cu, Cd, Pb trong mẫu nước nuôi hàu….....89
8
MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của xã hội thì quá trình công nghiệp hóa hiện đại
loại như: Zn, Ni, Cd, Fe, Cu, Cd, Mn, Cr, Co ở 2 loài Chama pacifica và Ostrea
stentina [24]. Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu về sinh vật chỉ thị, mà cụ thể là
các loài sinh vật tích tụ vẫn còn khá mới mẻ. Một vài nghiên cứu về sự tích lũy
các kim loại nặng được tiến hành trên các loài thực vật như: rau muống
(Ipomoea aquatica), cây ngổ nước (Limophila herterophylla), cây bèo tây
(Eichhornia crassipes), cỏ Hương Bài (Vetiveria zizanoides). Các loài động vật
như : giun đất, sò huyết cũng đã được sử dụng như những sinh vật tích tụ để
nghiêm cứu ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường đất và nước. Tuy nhiên, các
nghiên cứu này chưa nhiều.
Nhuyễn thể hai mảnh vỏ có khả năng đặc biệt trong việc tích tụ những
chất gây ô nhiễm nhất định trong mô của chúng, vì hàm lượng cao hơn nhiều lần
so với môi trường bên ngoài, nơi chúng sinh sống và những loài này tượng trưng
cho ô nhiễm của khu vực nghiên cứu. Vì những đặc tính vốn có như: lấy thức ăn
theo kiểu lọc nước; có khả năng tích lũy một hàm lượng lớn các kim loại nặng
mà không bị ngộ độc; có lối sống tĩnh tại, di chuyển chậm để đảm bảo rằng chất
ô nhiễm mà nó tích tụ có liên quan đến khu vực nghiên cứu; phân bố rộng, có số
lượng phong phú, dễ thu mẫu; có kích thước phù hợp dễ cung cấp những mô đủ
lớn cho việc phân tích… Những loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ đã được nghiên
cứu sử dụng làm sinh vật quan trắc môi trường nước bị ô nhiễm bởi kim loại
nặng và mang lại hiệu quả cao.
10
Cần Giờ là huyện biển duy nhất của thành phố Hồ Chí Minh, nằm ở phía
Đông Nam, cách trung tâm thành phố khoảng 50 km đường bộ. Huyện Cần Giờ
tiếp cận với biển Đông hiện hữu một khu rừng ngập mặn đan xen với hệ thống
sông rạch dày đặc chứa đựng các hệ sinh thái mang tính đa dạng sinh học cao
với nhiều loài động thực vật đặc hữu của miền duyên hải Việt Nam. Cần Giờ có
bờ biển dài gần 20 km. Biển là nguồn lợi to lớn của Cần Giờ, vùng biển có thể
tan, khoáng, quặng) và sinh quyển ( trong cơ thể người, động vật, thực vật). Kim
loại nặng thông thường chỉ những kim loại hoặc các á kim liên quan đến sự ô
nhiễm và độc hại. Tuy nhiên chúng cũng bao gồm những nguyên tố kim loại cần
thiết cho một số sinh vật ở nồng độ thấp.
Khi các kim loại nặng xâm nhập vào môi trường sẽ làm biến đổi điều kiện
sống, tồn tại của sinh vật trong môi trường đó. Một số kim loại nặng có thể cần
thiết cho sinh vật, chúng được xem là nguyên tố vi lượng. Kim loại nặng gây độc
hại với môi trường và cơ thể sinh vật khi hàm lượng của chúng vượt quá tiêu
chuẩn cho phép. Một số kim loại nặng (Pb, Cu, Zn, Mn, Cd, Hg, As) đi vào nước
từ nguồn nước thải sinh hoạt hoặc nước thải công nghiệp. Các kim loại nặng
trong môi trường pH khác nhau, chúng sẽ tồn tại những dạng khác nhau gây ô
nhiễm nước [5].
1.1.1. Nguồn gốc xuất hiện và sự di chuyển các kim loại nặng
* Nguồn tự nhiên: kim loại nặng phát hiện ở mọi nơi, trong đá, đất và xâm
nhập vào thủy vực qua các quá trình tự nhiên, phong hóa, xói mòn, rửa trôi.
12
* Nguồn nhân tạo: các quá trình sản xuất công nghiệp (như khai khoáng,
chế biến quặng kim loại, chế biến sơn, thuốc nhuộm,…), nước thải sinh hoạt,
nông nghiệp( hóa chất bảo vệ thực vật)
- Kẽm (Zn): nguồn ô nhiễm Zn chính là công nghiệp luyện kim, công
nghiệp pin, các nhà máy rác, các sản phẩm chống ăn mòn, sơn, nhựa, cao su. Cơ
thể con người có thể tích tụ Zn và nếu Zn tích tụ với hàm lượng quá cao thì chỉ
trong thời gian ngắn sẽ gây bệnh nôn mửa, đau dạ dày. Nước chứa hàm lượng Zn
cao rất độc đối sinh vật.
- Đồng (Cu): được dùng nhiều trong sơn chống thấm nước trên tàu thuyền,
các thiết bị điện tử, ống nước. Nước thải sinh hoạt là nguồn chính đưa Cu vào
nước. Cu tồn tại ở hai dạng là: dạng hòa tan và các hạt nhỏ.
gắn kết với các chuỗi cacbon ngắn dẫn đến sự tích tụ trong cơ thể sinh vật sau
nhiều năm.
Một số kim loại nặng rất cần thiết cho cơ thể sống và con người. Chúng là
các nguyên tố vi lượng không thể thiếu, sự mất cân bằng các nguyên tố vi lượng
này có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người. Trên nhãn của các lọ
thuốc vitamin, thuốc bổ xung khoáng chất thường có Cr, Cu, Fe, Mn, Mg, K, Zn,
chúng có hàm lượng thấp và được biết đến như lượng vết. Lượng nhỏ các kim
loại này có trong khẩu phần ăn của con người vì chúng là thành phần quan trọng
trong các phân tử sinh học như hemoglobin, hợp chất sinh hóa cần thiết khác.
Nhưng nếu cơ thể hấp thu một lượng lớn các kim loại này, chúng có thể gây rối
loạn quá trình sinh lý, gây độc cho cơ thể hoặc làm mất tính năng của các kim
loại khác [21].
14
Kim loại nặng xâm nhập vào cơ thể một phần bị đào thải, một phần được
giữ lại trong cơ thể. Các kim loại nặng là nguồn chất độc nguy hiểm đối với hệ
sinh thái đất, chuỗi thức ăn và con người. Kim loại nặng có độc tính là các kim
loại có tỷ trọng lớn gấp 5 lần tỷ trọng của nước. Chúng là các kim loại bền
(không tham gia vào các quá trình sinh hoá trong cơ thể) và có tính tích tụ sinh
học (chuyển tiếp trong chuỗi thức ăn và đi vào cơ thể con người). Những kim
loại nặng có tính độc cao nguy hiểm là: Thuỷ ngân (Hg), Cadimi (Cd), Chì (Pb),
Niken (Ni). Các kim loại nặng có tính độc mạnh là Asen (As), Crôm (Cr), Kẽm
(Zn), Thiếc (Sn)...
Các kim loại nặng khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật sẽ gây độc tính. Các
nghiên cứu đã chỉ ra kim loại nặng gây độc cho các cơ quan trong cơ thể như
máu, gan, thận, cơ quan sản xuất hoocmôn, cơ quan sinh sản, hệ thần kinh gây
rối loạn chức nặng sinh hóa trong cơ thể do đó làm tăng khả năng bị di ứng, gây
biến đổi gen. Các kim loại gây độc thường là tương tác với các hệ enzyme trong
Hình 1.1. Kim loại kẽm
* Tác dụng sinh hóa của kẽm
Kẽm đóng vai trò sinh học không thể thiếu đối với sức khỏe con người,
cho dù kẽm chỉ chiếm khoảng vài phần triệu trọng lượng khô của cơ thể. Người
16
ta cũng đã phát hiện được nhiều căn bệnh liên quan đến sự thiếu hoặc thừa kẽm.
Theo các nhà khoa học, lượng kẽm cần cho người trưởng thành hằng ngày là 10
– 15 mg. Nhưng nhu cầu về kẽm còn tùy thuộc vào độ tuổi và trạng thái sinh lí
của cơ thể. Ví dụ trẻ dưới 1 tuổi cần 8 mg kẽm/ngày, trẻ từ 1 – 10 tuổi cần đến
20 – 25 mg kẽm/ngày [32].
Kẽm tham gia vào thành phần cấu trúc tế bào và đặc biệt là tác động đến
hầu hết các quá trình sinh học trong cơ thể. Kẽm có trong thành phần của hơn 80
loại enzym khác nhau, đặc biệt có trong hệ thống enzym vận chuyển, thủy phân,
đồng hóa, xúc tác phản ứng gắn kết các chuỗi trong phân tử ADN, xúc tác phản
ứng oxi hóa cung cấp năng lượng. Ngoài ra kẽm còn hoạt hóa nhiều enzym khác
nhau như amylase, pencreatinase... Đặc biệt, kẽm có vai trò sinh học rất quan
trọng là tác động chọn lọc lên quá trình tổng hợp, phân giải acid nucleic và
protein – những thành phần quan trọng nhất của sự sống. Vì vậy, các cơ quan
như hệ thần kinh trung ương, da, niêm mạc, hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn,... rất nhạy
cảm với sự thiếu hụt kẽm, nếu thiếu kẽm trẻ sẽ biếng ăn.
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu còn cho thấy kẽm có vai trò làm giảm
độc tính của các kim loại độc như nhôm (Al), asen (As), cadimi (Cd),... Góp
phần vào quá trình giảm lão hóa, thông qua việc ức chế sự oxi hóa và ổn định
màng tế bào. Khả năng miễn dịch của cơ thể được tăng cường nhờ kẽm, bởi nó
hoạt hóa hệ thống này thông qua cơ chế kích thích các đại thực bào, tăng các
limpho T,... Vì vậy, khi thiếu kẽm nguy cơ nhiễm khuẩn ở bệnh nhân sẽ tăng lên.
Kẽm không chỉ quan trọng trong hoạt động sống với vai trò độc lập mà còn quan
*Tác dụng sinh hóa của đồng
Đồng là nguyên tố vi lượng rất cần thiết cho các loài động, thực vật bậc
cao. Trong cơ thể con người, đồng có trong thành phần của một số protein,
enzym và tập trung chủ yếu ở gan. Đồng được tìm thấy trong một số loại enzym,
bao gồm nhân đồng của cytochrom coxidas enzym chứa Cu – Zn superoxid
dismutas và nó là kim loại trung tâm của chất chuyên chở oxi hemocyanin. Máu
của cua móng ngựa (cua vua) Limulusvpolyphemus sử dụng đồng thay vì sắt để
chuyên chở oxi.
Theo tiêu chuẩn RDA của Mỹ về hàm lượng của đồng đối với người
trưởng thành là 0,9 mg/ngày [32]. Đồng là một thành phần cần thiết cho cơ thể
do thức ăn đưa vào hàng ngày từ 0,033 – 0,05mg/kg thể trọng, với liều lượng
này người ta không thấy có tích luỹ đồng trong cơ thể người bình thường. Liều
lượng đồng chấp nhận hàng ngày cho người là 0,5 mg/kg thể trọng. Liều lượng
này không đáng lo ngại với điều kiện nồng độ molyđen và kẽm trong thức ăn,
không được quá giới hạn thông thường,vì các chất này ảnh hưởng đến chuyển
hoá đồng trong cơ thể.
Hợp chất của đồng là cần thiết đối với quá trình tổng hợp hemoglobin và
photpholipid. Sự thiếu đồng gây nên bệnh thiếu máu. Trong máu của động vật
bậc thấp (ốc, sò và động vật thân mềm) có chất máu là hemoxianin, chứa đồng
và có chức năng như hemoglobin ở trong máu của động vật có xương sống.
Đồng được vận chuyển chủ yếu trong máu bởi protein trong huyết tương gọi là
cerulopasmin. Đồng được hấp thụ trong ruột non và được vận chuyển đến gan
bằng liên kết với albumin. Bệnh Wilson sinh ra bởi cơ thể giữ lại đồng, không
tiết ra bởi gan vào trong mật, có thể dẫn đến tổn thương não và gan.
19
Người ta cho rằng kẽm và đồng cạnh tranh về phương diện hấp thụ trong
bộ máy tiêu hóa vì việc ăn uống dư thừa chất này sẽ làm thiếu hụt chất kia.
* Tác dụng sinh hóa của cadimi
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, cadimi được gắn vào trong các mô dưới
dạng một hợp chất với một protein có chọn lọc và có trọng lượng phân tử thấp
nhưng giàu nhóm tiol (-SH) là metalothionein. Metalothionein thường có 61 axit
amin trong đó có 20 axit amin cystein và không có axit amin thơm. Chính sự
tổng hợp nên hợp chất metalothionein này được kích thích khi có mặt của
cadimi. Metalothionein tập trung nhiều nhất ở gan và thận, nơi mà cadimi
thường tích lũy (khoảng 50 – 60 % lượng cadimi trong cơ thể) [7].
SH
S
+ Cd2+ →
{Enzim}
SH
Cd + 2H+
{Enzim}
S
Lúc đầu, cadimi cư trú trong gan nơi thường diễn ra sự tổng hợp
metalothionein; sau đó nó được vận chuyển dần đến thận nhờ protein này. Ở đây
cadimi sẽ được giữ rất lâu bởi vì thời gian bán hủy của chúng ở bộ phận này có
thể vượt qua 17 năm ở những đối tượng bị nhiễm trung bình. Sự lưu trữ này
được thực hiện một cách có chọn lọc ở vỏ thượng thận. Dựa vào kết quả nhận
21
gây tổn thương tuyến thận dẫn đến protein tuyến niệu, ảnh hưởng đến nội tiết,
máu, tim mạch...
Nhiễm độc cadimi xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, điển hình là Nhật Bản.
Nhiễm độc cadimi gây nên chứng bệnh giòn xương. Dạng độc tính xương này
dường như có liên quan với sự rối loạn của quá trình chuyển hóa canxi, vì nó
thường xảy ra ở phụ nữ sau khi mãn kinh, gây đau dữ dội ở xương chậu và hai
chân. Độc tính cấp là hậu quả của những tác dụng cục bộ : sau khi ăn vào, những
biểu hiện lâm sàng là buồn nôn, nôn mửa và đau bụng, còn sau khi hít phải
cadimi thì hoạt tính của α- 1 antitrypsin bị giảm. Các enzym được giải phóng sẽ
làm phá hủy không thể phục hồi được các màng tế bào cơ sở của phế nang, kể cả
việc làm gẫy các vách vá sơ hóa các khe, kẽ. Những tổn thương mà ta nhận thấy
là phù phổi và các bệnh về phổi.
1.1.3.4. Nguyên tố chì
Hình 1.4. Kim loại chì
* Tác dụng sinh hóa của chì
Tác dụng sinh hóa chủ yếu của Pb là tác dụng của nó đến sự tổng hợp máu
dẫn đến sự phá vỡ hồng cầu. Trong cơ thể người, chì ức chế tổng hợp
23
porphcbilinogen synthase và ferrochelatase, chống lại sự hình thành cả hai
chất porphobilinogen và kết hợp với sắt tạo thành protoporphyrin IX, giai đoạn
cuối cùng trong sự tổng hợp heme. Quá trình này làm cho sự tổng hợp heme
không hiệu quả và sau đó làm microcytic anemia. Ở các mức thấp hơn, nó có vai
trò tương tự như canxi, can thiệp vào các kênh ion trong quá trình truyền dẫn
thần kinh. Đây là một trong những cơ chế mà theo đó nó can thiệp vào vào nhận
thức. Chì ức chế ALA – dehydrase enzym, do đó giai đoạn tiếp theo tạo thành
porpho biliogen không thể xảy ra. Kết quả là phá hủy quá trình tổng hợp
Hệ thống thần kinh cũng là cơ quan dễ bị tấn công bởi chì khi bị nhiễm
chì, với nồng độ trong máu cao hơn 80 mg/l có thể xảy ra các bệnh về não. Chì
gây tổn thương đến các tiểu động mạch và có sự tăng sinh thần kinh đệm. Trạng
thái này được kết hợp với các biểu hiện lâm sàng như vận động khó khăn, giảm ý
thức, ngơ ngác, hôn mê và co giật. Khi phục hồi thường kèm theo các dị chứng
như động kinh, đần độn và trong một vài trường hợp bị bệnh thần kinh thị giác
và mù.
Chứng thiếu máu do nhiễm độc chì cũng như thiếu máu do thiếu sắt do
kìm hãm enzym pyrimidin–5–nucleosidase vốn có liên quan đến sự tăng số
lượng hồng cầu lưới. Ngưỡng chì nhiễm có khả năng ức chế enzym này là 44
mg/l. Khi hàm lượng chì trong máu khoảng 0,3 ppm thì nó ngăn cản quá trình sử
dụng oxi để oxi hóa glucoza tạo ra năng lượng cho quá trình sống, do đó làm cho
cơ thể mệt mỏi. Ở nồng độ cao hơn (> 0,8 ppm) có thể gây thiếu máu do thiếu
hemoglobin. Hàm lượng chì trong máu nằm trong khoảng (0,5 – 0,8 ppm) gây ra
sự rối loạn chức năng của thận và phá hủy não. Xương là nơi tàng trữ tích tụ chì