MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cơ cấu kinh tế giữ vị trí, vai trò quan trọng, là thước đo phản ánh trình
độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử. Cơ
cấu kinh tế không phải là bất biến, cố định mà luôn có sự dịch chuyển. Trong
quá trình phát triển phát triển KT-XH, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH ở Việt Nam hiện nay, CDCCKT là một yêu cầu tất yếu. Chỉ có trên cơ sở
xác lập được một CCKT hợp lý, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các thành
phần kinh tế, các ngành kinh tế quốc dân, cũng như giữa các vùng lãnh thổ,
Việt Nam mới có thể xây dựng và phát triển một nền kinh tế ổn định, bền
vững. Nhận thức rõ vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta luôn coi “đẩy mạnh
CDCCKT” là một giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh của nền kinh tế. Đại hội XI của Đảng đã yêu cầu phải “Thực hiện cơ
cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp
với các vùng” [13, tr. 191]. Đại hội XII của Đảng tiếp tục chủ trương đó, khi
chỉ rõ: phải “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại đồng bộ, tổng thể nền
kinh tế và các ngành, các lĩnh vực, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng” [14,
tr. 88].
Quận Dương Kinh được xác định là một trong những trung tâm phát
triển của thành phố Hải Phòng về hướng Đông Nam. Theo Quyết định số
1448/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh
Quy hoạch xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm
2050, hướng phát triển của quận Dương Kinh đến năm 2020, tầm nhìn 2030
sẽ trở thành “khu đô thị đạt tiêu chuẩn đô thị loại I, một đô thị tổng hợp –
trung tâm thương mại, văn hóa, thể dục thể thao; có công nghiệp sạch và nông
nghiệp theo hướng công nghệ cao duy trì ở mức hợp lý” [49, tr. 4]. Thực hiện
định hướng Quy hoạch đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, HĐND,
UBND thành phố Hải Phòng, những năm qua, Quận ủy, HĐND, UBND quận
3
- Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ (1999), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội. Hai tác giả Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ trong công trình của
mình đã đề cập đến khái niệm CCKT, sự phân loại các CCKT (ngành, vùng,
thành phần kinh tế); làm rõ sự cần thiết và yêu cầu cấp bách phải đẩy nhanh
sự CDCCKT của đất nước, cả CCKT ngành, vùng lãnh thổ, trong quá trình
hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, để qua đó có thể khai thác được lợi
thế so sánh của đất nước và thị trường thế giới do xu thế toàn cầu hóa đem lại,
tránh được nguy cơ thua ngay trên sân nhà. Theo đó, hai tác giả đã chỉ ra xu
thế CDCCKT của Việt Nam là phải hướng vào sản xuất, cung ứng những sản
phẩm và dịch vụ mà thị trường thế giới cần; hơn nữa, phải là những sản phẩm
và dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế (tùy theo từng quốc gia và nhóm quốc gia)
về môi trường, lao động, xuất xứ, tồn dư chất kháng sinh; phải chú ý khai thác
tiềm năng, thế mạnh của từng vùng kinh tế để lựa chọn phát triển các ngành
hàng phù hợp với nhu cầu của thị trường, v.v. Đáng chú ý, là hai tác giả đã đề
xuất nhiều biện pháp thúc đẩy CDCCKT của Việt Nam (cả cơ cấu ngành kinh
tế và cơ cấu vùng kinh tế) để thích ứng với điều kiện hội nhập; trong đó có
các biện pháp về nhận thức, về công tác quy hoạch (ngành, vùng), về đổi mới
công nghệ, về nghiên cứu thị trường, về vốn, về liên kết hợp tác, v.v.
- Phạm Thị Khanh (2010), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
phát triển bền vững ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả đề
cập đến vấn đề CDCCKT theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam trong
mối quan hệ chặt chẽ giữa sự phát triển hợp lý CCKT ngành với CCK vùng.
Trong công trình của mình, tác giả khẳng định “phát triển bền vững” là một
xu thế của thế giới hiện nay, mà quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
ở Việt Nam hiện nay cũng cần phải tuân theo xu thế đó. Tác giả cũng đã chỉ
ra những nguy cơ của sự thiếu bền vững trong quá trình CDCCKT ở nhiều
ngành, nhiều vùng kinh tế của Việt Nam thời gian qua và trong tương lai, khi
5
- Đỗ Hoài Nam (1996), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát
triển những ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội. Tác giả cuốn sách đã trình bày những vấn đề lý luận chung về
CDCCKT và cơ cấu ngành kinh tế; phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu ngành
kinh tế với cơ cấu vùng kinh tế, gắn CDCCKT ngành với phát triển các vùng
kinh tế trọng điểm của Việt Nam.
- Bùi Tất Thắng (1997), “Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa ở Việt Nam”, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội. Trong cuốn sách này, tác giả Bùi Tất Thắng đã khái quát
những vấn đề lý luận cơ bản về CDCCKT và CDCCKT ngành ở Việt Nam;
trong đó đã đưa ra quan niệm về CDCCKT và CDCCKT ngành, những tiêu chí
đánh giá CDCCKT ngành, những nhân tố (trong nước và quốc tế) ảnh hưởng
đến sự CDCCKT ngành trong thời kỳ CNH, HĐH ở Việt Nam, trong đó nhấn
mạnh đến nhân tố khoa học – công nghệ, xem đó là giải pháp có tính đột phá
để đẩy nhanh quá trình CDCCKT ở Việt Nam.
- Nguyễn Đình Phan (2005), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của
Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 95. Tác giả khái quát tình hình
CD CCKT ngành của Việt Nam từ khi đổi mới đến năm 2005; chỉ ra những
thách thức của Việt Nam khi tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
và nhấn mạnh yêu cầu đẩy nhanh sự CDCCKT ngành trên cơ sở phát huy lợi
thế so sánh của Việt Nam, trong đó phải chú ý tính toán đến các tiêu chuẩn
quốc tế khi tham gia vào WTO.
- Bùi Tất Thắng (2006), Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Tác giả đánh giá khái quát quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam từ 1986 đến trước Đại hội X của Đảng;
trong đó, đề cập cả quá trình chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành và trong nội
bộ từng ngành. Điều đáng chú ý là các đề xuất của tác giả về giải pháp thúc đẩy
CDCCKT ngành ở Việt Nam trong thời gian tới tương đối đồng bộ, từ việc đổi
8
chất lượng nguồn nhân lực, huy động vốn, nâng cao năng lực quản lý nhà
nước của chính quyền các cấp.
- Phạm Huy Quang (2011), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông
nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Thái Bình”, Luận văn Thạc sỹ KTCT,
Học viện Chính trị. Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về CDCCKT nói chung,
CDCCKT ngành nói riêng, tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng CDCCKT
trong nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình, chỉ ra những bất cập cần tập trung tháo gỡ;
đồng thời, đề xuất nhiều quan điểm, giải pháp thúc đẩy CDCCKT ngành nông
nghiệp tại các địa phương nói trên theo hướng CNH, HĐH.
- Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn tỉnh Nam Định trong quá trình CNH, HĐH”, Luận án tiến sĩ Kinh tế,
Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội. Trong luận án, tác giả tập trung
đánh giá thực trạng CCKT nông thôn ở tỉnh Nam Định và đề xuất một số giải
pháp thúc đẩy CDCCKT nông thôn theo hướng khai thác tối đa tiềm năng, lợi
thế của từng địa phương. Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Tâm rất chú ý đến giải
pháp hỗ trợ vốn của Nhà nước, công tác khuyến nông, đào tạo nghề cho nông
dân, thị trường, phát triển làng nghề, công tác quy hoạch… để quá trình
CDCCKT ở Nam Định đạt hiệu quả cao.
- Nguyễn Khắc Hải (2015), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở
tỉnh Hưng Yên”, Luận văn Thạc sĩ KTCT, Học viện Chính trị. Tác giả đã đi
sâu phân tích thực trạng CDCCKT trong nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên, đề
xuất các giải pháp thúc đẩy CDCCKT ngành nông nghiệp tại địa phương theo
hướng CNH, HĐH.
Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố liên quan đến
đề tài luận văn của học viên, song chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề
CDCCKT ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng – một quận đang trong
* Cơ sở lý luận, thực tiễn
- Cơ sở lý luận:
10
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam, về CCKT và CDCCKT.
- Cơ sở thực tiễn:
Cơ sở thực tiễn để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ của luận văn
được tác giả rút ra từ quá trình nghiên cứu các văn kiện, báo cáo của Đảng bộ,
UBND, cùng các cơ quan chức năng của Thành phố và quận Dương Kinh,
thành phố Hải Phòng; đồng thời, rút ra từ thực tiễn công tác tại Quận - địa
phương nơi tác giả luận văn sinh sống và công tác.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng
phương pháp trừu tượng hóa khoa học của KTCT Mác - Lê-nin; dựa vào
quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn kiện của
Đảng bộ, UBND thành phố Hải Phòng và quận Dương Kinh để làm sáng tỏ
cơ sở lý luận về CDCCKT ở quận Dương Kinh. Đồng thời, dựa vào báo cáo
của các cơ quan chức năng thuộc Quận có liên quan đến vấn đề CDCCKT,
luận văn sử dụng các phương pháp: tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích,
kết hợp lô-gíc với lịch sử, cùng một số phương pháp khác để phân tích thực
trạng, đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch CCKT ở
quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm các luận cứ
khoa học để cấp ủy, chính quyền và các cơ quan chức năng trong quận
Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham khảo trong quá trình hoạch định
lĩnh vực sản xuất vật chất để hình thành một ngành kinh tế riêng. Cuộc cách
mạng công nghiệp với sự xuất hiện đầu tiên của máy hơi nước đã đánh dấu sự
ra đời và phát triển của ngành công nghiệp. Cứ thế, cùng với những tiến bộ
của khoa học – kỹ thuật – công nghệ, phân công lao động xã hội ngày càng
sâu sắc, nền kinh tế ngày càng phân chia ra thành nhiều ngành, nghề khác
nhau, nhưng có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Đồng thời, lực lượng lao động
của xã hội cũng được phân bổ ngày càng hợp lý hơn, phù hợp với tiềm năng,
thế mạnh của tài nguyên thiên nhiên, nhu cầu thị trường của từng địa phương
trong mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ. Như vậy, chính phân công lao động xã
hội là tiền đề trực tiếp hình thành CCKT ngành và vùng lãnh thổ.
Bàn về CCKT, đã có nhiều tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau.
Trong tác phẩm “Góp phần phê phán kinh tế chính trị học”, C.Mác đã quan
13
niệm: “CCKT xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình
phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất” [25, tr.7]. Ông cho rằng,
đó là một sự phân chia về chất và một tỷ lệ số lượng của quá trình sản xuất
xã hội. Điều đó có nghĩa là, C. Mác đã chú ý đến cả hai mặt chất lượng và số
lượng của CCKT.
Từ điển Bách khoa Việt Nam thì định nghĩa “CCKT là tổng thể các
ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp
thành” [39, 610]. Định nghĩa này coi CCKT chỉ bao gồm các ngành, lĩnh vực
và bộ phận hợp thành nền kinh tế, có quan hệ gắn bó với nhau; nhưng chưa
chú ý đến các quan hệ kinh tế và sự phân chia các quan hệ kinh tế, các ngành,
lĩnh vực và bộ phận của nền kinh tế theo những tỷ lệ nhất định. Do đó, chưa
phù hợp với góc độ KTCT.
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Hùng đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh hơn,
khi coi: “CCKT là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỷ
trọng tương ứng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định giữa chúng hợp
tế nhà nước - kinh tế tập thể - kinh tế tư nhân…).
Trước hết, cơ cấu ngành kinh tế phản ánh số lượng, vị trí, tỷ trọng và
mối quan hệ giữa các ngành nghề, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế
phân chia theo tính chất kinh tế - kỹ thuật. Nó bao gồm các ngành chính:
Nông nghiệp, Công nghiệp, Dịch vụ. Bên trong cấu trúc của mỗi ngành chính
đó lại có nhiều ngành khác hợp thành. Cụ thể:
Ngành nông nghiệp, theo nghĩa rộng, có nhiều ngành gắn liền với các
quá trình sinh học của cây trồng và vật nuôi, gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp
và ngư nghiệp. Theo nghĩa hẹp: nông nghiệp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội,
các ngành này hình thành và phát triển tương đối độc lập, lại chia thành nhiều
phân ngành khác nhau, như: ngành trồng cây lương thực, ngành trồng cây ăn
quả…; ngành chăn nuôi gia cầm, ngành chăn nuôi gia súc…, nhưng lại gắn bó
mật thiết với nhau.
Ngành công nghiệp bao gồm ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp
nặng. Trong ngành công nghiệp nhẹ lại có các phân ngành: chế biến nông,
15
lâm, thuỷ sản; may mặc; da – giầy; điện tử – tin học; một số sản phẩm cơ khí
và hàng tiêu dùng, v.v. Ngành công nghiệp nặng có: khai khoáng; dầu khí,
luyện kim, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng, v.v.
Ngành dịch vụ bao gồm rất nhiều phân ngành: thương mại; dịch vụ vận
tải hàng hoá, hành khách, kho bãi; dịch vụ bưu chính – viễn thông; dịch vụ tài
chính - tiền tệ (tín dụng, bảo hiểm, kiểm toán, chứng khoán…); dịch vụ y tế;
dịch vụ văn hóa; dịch vụ kỹ thuật; dịch vụ tư vấn; dịch vụ phục vụ đời sống
khác (ăn uống, giúp việc gia đình…), v.v.
Thứ hai, cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh số lượng, vị trí, tỷ
trọng,
mà trong quá trình phát triển đã hình thành các vùng kinh tế khác nhau. Việc
xác lập CCKT vùng lãnh thổ một cách hợp lý là nhằm phân bổ các ngành sản
xuất trên vùng – lãnh thổ sao cho thích hợp để triển khai có hiệu quả mọi tiềm
năng và lợi thế của từng vùng. Việc bố trí sản xuất ở mỗi vùng không khép
kín mà có sự liên kết với các vùng khác có liên quan để gắn với CCKT của cả
nước. Ở Việt Nam bao gồm 7 vùng kinh tế: Miền núi và trung du Bắc Bộ;
Đồng bằng sông Hồng; Duyên hải Bắc Trung Bộ; Duyên hải Nam Trung Bộ;
Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long.
Bên cạnh đó, theo các Quyết định 145, 146, 148/2004/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ, thì nền kinh tế nước ta hiện nay có 4 vùng kinh tế trọng
điểm với 24 tỉnh, thành phố, gồm: Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; Vùng
kinh tế trọng điểm Miền Trung; Vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam; Vùng
kinh tế trọng điểm Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
* Tính chất của cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế bao giờ cũng vừa mang tính khách quan, vừa mang tính
lịch sử.
Trước hết, tính khách quan của CCKT được quy định bởi nó là kết quả
của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Điều đó
thể hiện ở chỗ: sự hình thành và thay đổi số lượng, vị trí, tỷ trọng của các bộ
phận hợp thành nền kinh tế quốc dân là do sự vận động từ chính nội tại trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội theo sự chi
17
phối của các quy luật kinh tế khách quan. Với một trình độ lực lượng sản xuất
nhất định, sự phân công lao động xã hội sẽ quy định nền kinh tế có các ngành,
lĩnh vực, bộ phận kinh tế nào và tỷ lệ giữa các lĩnh vực, bộ phận đó ra sao? Sự
thay đổi về cấu trúc và tỷ lệ tương ứng giữa các lĩnh vực, bộ phận của nền
kinh tế sẽ diễn ra một cách thường xuyên và trước hết là tự phát theo sự điều
hành vi nào mang tính áp đặt và không tuân thủ quy luật kinh tế khách quan
sẽ làm cho CCKT ở đó không phát huy được hiệu quả; có khi còn dẫn đến sự
khủng hoảng KT-XH.
Thứ hai, phải cho phép khai thác có hiệu quả các nguồn lực kinh tế
trong và ngoài nước. Đây là hệ quả của tiêu chí thứ nhất; bởi sự phù hợp với
các quy luật khách quan sẽ là điều kiện để CCKT phát huy hết được mọi tiềm
năng, thế mạnh của đất nước (địa phương) cho thực hiện các mục tiêu KT-XH
nhất định. Nếu như các nguồn lực của nền kinh tế chưa được khai thác có
hiệu quả (hoặc lãng phí, hoặc chưa được khai thác), thì điều đó chứng tỏ
CCKT được xác lập chưa phản ánh đúng yêu cầu của các quy luật và thực tiễn
khách quan. Vì vậy, mọi năng lực sản xuất của xã hội chỉ có thể được giải
phóng; những nguồn lực của nền kinh tế chỉ có thể được phát huy một cách có
hiệu quả, khi có một CCKT hợp lý.
Thứ ba, phải phù hợp với xu thế phát triển của khu vực và thế giới.
Hiện nay, toàn cầu hoá là xu thế khách quan lôi cuốn mọi nền kinh tế trên thế
giới. Do vậy, một CCKT hợp lý là sự phát triển của mỗi lĩnh vực, mỗi ngành
kinh tế của quốc gia (địa phương) phải gắn với thị trường thế giới để có thể
vừa khai thác có hiệu quả nguồn lực trong nước và nguồn lực ở nước ngoài;
đồng thời, có thể tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu đối với những
ngành, lĩnh vực mà đất nước (địa phương) có ưu thế, nhằm vừa đáp ứng tối đa
nhu cầu của cả thị trường trong nước và của cả thị trường quốc tế. Mặt khác,
CCKT phải được xây dựng phù hợp với xu thế tiến bộ của khoa học - công
nghệ trên thế giới; để trên cơ sở đó, tận dụng được những thành tựu của văn
minh nhân loại vào quá trình phát triển kinh tế.
19
1.1.2. Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
* Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Là sản phẩm của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao
triển KT-XH từng thời kỳ.
* Xu hướng có tính quy luật của sự CDCCKT
Chuyển dịch CCKT bao gồm việc cải biến CCKT theo ngành, theo
vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế cho phù hợp trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất và các điều kiện KT-XH của từng thời kỳ. Sự chuyển
dịch đó thường diễn ra theo các xu hướng có tính quy luật sau đây:
Một là, dịch chuyển từ lĩnh vực sản xuất vật chất sang phát triển lĩnh
vực dịch vụ.
Hai là, dịch chuyển từ nông nghiệp sang phát triển công nghiệp và dịch
vụ gắn với quá trình công nghiệp hóa.
Ba là, dịch chuyển từ những ngành có giá trị gia tăng thấp sang phát
triển những ngành đem lại giá trị kinh tế cao trong nội bộ từng ngành phù hợp
với tiềm năng, lợi thế của từng vùng, miền, địa phương. Trên cơ sở đó mà
phân bố lại sức sản xuất theo vùng, miền một cách hợp lý hơn.
Bốn là, dịch chuyển từ cơ cấu đơn thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước
và kinh tế tập thể) sang phát triển đa dạng các loại hình tổ chức kinh tế và thành
phần kinh tế dựa trên các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất..
1.2. Quan niệm, nội dung, các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
1.2.1. Quan niệm và nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở quận
Dương Kinh
* Quan niệm về CDCCKT ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
Kế thừa quan niệm về CDCCKT đã được bàn ở tiết 1.1, tác giả luận văn
cho rằng: CDCCKT ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng là hoạt động
có mục đích của cấp ủy, chính quyền địa phương và các hộ sản xuất kinh
doanh, nhằm làm thay đổi cấu trúc, vị trí, vai trò, tỷ trọng và mối quan hệ
21
tương ứng giữa các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế của địa
phần kinh tế mở rộng hay thu hẹp đầu tư kinh doanh vào những ngành hàng,
những vùng kinh tế cụ thể, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển KTXH của địa phương trong từng thời kỳ. Các biện pháp đó bao gồm: tổ chức
giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi lực lượng, nhất là các hộ sản xuất
kinh doanh nhận thức rõ sự cần thiết phải cơ cấu lại nền kinh tế trên địa bàn
Quận; xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, cơ chế, chính sách
khuyến khích các hộ sản xuất kinh doanh bỏ vốn đầu tư theo định hướng của
quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH; chủ động chuẩn bị các nguồn lực
(vốn, kết cấu hạ tầng, lao động về số và chất lượng…) và các điều kiện đảm
bảo khác để hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu tư, kinh doanh phù hợp với
mục tiêu xây dựng CCKT của một quận nội thành.
* Nội dung CDCCKT ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
Cũng giống như các địa phương khác, nội dung CDCCKT ở quận
Dương Kinh, thành phố Hải Phòng cũng bao gồm: CDCCKT ngành,
CDCCKT vùng và CDCCKT theo thành phần kinh tế.
Một là, CDCCKT ngành.
Căn cứ vào điều kiện tự nhiên và xã hội của quận Dương Kinh; căn cứ
vào mục tiêu xây dựng và phát triển Dương Kinh thành khu đô thị đạt tiêu
chuẩn đô thị loại I cấp quốc gia, nội dung CDCCKT ngành ở quận Dương
Kinh thành phố Hải Phòng bao gồm:
Thứ nhất, chuyển dịch CCKT ngành ở Quận theo hướng giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành thương mại, dịch vụ [9, tr. 2], để đến
năm 2020: công nghiệp, xây dựng chiếm 58,9%; thương mại, dịch vụ chiếm
36,9%, nông nghiệp, thủy sản chỉ còn 4,2% trong tổng thu nhập trên địa bàn
Quận [9, tr. 15].
Thứ hai, trong nội bộ ngành nông nghiệp: “tập trung chuyển dịch cơ
cấu cây trồng, vật nuôi” [9, tr. 17], từ nuôi, trồng những con, cây có giá trị
gia tăng thấp sang nuôi, trồng những con, cây đem lại giá trị kinh tế cao; gắn
với đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, đưa nông nghiệp, ngư
23
24
Ba là, chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế
Theo đó, khuyến khích mọi thành phần kinh tế cùng tồn tại, phát
triển, cạnh tranh lành mạnh; chú trọng phát triển các hình thức tổ chức
kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu; khuyến khích kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào địa bàn Quận với công nghệ cao,
công nghệ sạch và thân thiện môi trường. Đồng thời, phát triển mạnh hình
thức tổ chức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu
tư xã hội.
Để đánh giá kết quả sự CDCCKT theo thành phần kinh tế, có thể
dựa vào mức tăng, giảm tỷ trọng lao động và giá trị trong GDP của các
thành phần kinh tế (kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài).
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở quận
Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
Quá trình CDCCKT ở quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng chịu
ảnh hưởng của các nhân tố khách quan và chủ quan sau đây:
* Về nhân tố khách quan:
Một là, nhân tố thị trường.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,
thị trường (trong, ngoài quận Dương Kinh và thị trường quốc tế) là người đặt
hàng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi vùng, miền; mọi lĩnh vực, ngành
nghề cả về quy mô, cơ cấu sản lượng, chất lượng, giá cả, thời gian và không
gian đối với mọi loại hàng hoá. Do đó, đây là nhân tố chủ yếu quyết định đến
việc mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh của một ngành hàng cụ
thể; từ đó quyết định xu hướng hình thành một CCKT cụ thể, mà việc xác lập
các mục tiêu phát triển KT-XH của Quận phải rất quan tâm.
Hai là, nhân tố quốc tế, gồm có:
Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050, hướng phát triển của quận
26
Dương Kinh đến năm 2020, tầm nhìn 2030 sẽ trở thành “khu đô thị đạt tiêu
chuẩn đô thị loại I” [49, tr. 4]. Điều đó đặt ra yêu cầu thúc đẩy CDCCKT
quận Dương Kinh phải đáp ứng yêu cầu xây dựng một quận đô thị đạt tiêu
chuẩn đô thị loại I. Theo đó, sẽ phải diễn ra quá trình gia tăng tỷ trọng lao
động và giá trị của các ngành: thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng;
giảm bớt vai trò, tỷ trọng của nông nghiệp với xu hướng phát triển nông
nghiệp công nghệ cao là chủ yếu.
* Về nhân tố chủ quan:
Một là, nhóm nhân tố tự nhiên.
Nền kinh tế của bất cứ địa phương nào cũng tồn tại trên một không gian
địa lý, gắn với những điều kiện tự nhiên về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy
văn nhất định. Những nhân tố này quy định tiềm năng, thế mạnh của từng
vùng, miền, cũng như khả năng phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế cụ thể
của địa phương. Nó vừa cung cấp các yếu tố thuận lợi, nhưng cũng gây không
ít khó khăn cho quá trình CDCCKT. Quá nhấn mạnh và lệ thuộc vào nhóm
nhân tố tự nhiên hoặc coi thường, bất chấp nhóm nhân tố tự nhiên đều dẫn
đến hình thành một CCKT kém hiệu quả. Bởi vậy, phải tôn trọng các điều
kiện tự nhiên, dựa vào các thành tựu của khoa học và công nghệ để lợi dụng
điều kiện tự nhiên trong quá trình xác lập một CCKT mới là điều cần phải
thực hiện. Có thể thấy ảnh hưởng của nhóm nhân tố này ở quận Dương Kinh
như sau:
- Về vị trí địa lý: quận Dương Kinh nằm cách trung tâm Thành phố
khoảng 15 Km; phía Bắc giáp với quận Lê Chân, Ngô Quyền, Hải An; phía
Đông giáp biển vịnh Bắc Bộ; phía Tây giáp huyện Kiến Thụy và quận Kiến
An; phía Nam giáp với quận Đồ Sơn. Quận nằm ở đầu mối giao thông liên
vùng với các tuyến tỉnh lộ 353 (đường Phạm Văn Đồng), tỉnh lộ 355, đường