BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
MAI THU TRANG
PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC
MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính trị
Mã số
: 9.14.01.11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
.
HÀ NỘI – Năm 2018
Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS.Võ Văn Thắng
2. TS.Nguyễn Văn Long
Phản biện 1: .......................................................................
Phản biện 2: .......................................................................
Mai Thu Trang (2017), Biện pháp nâng cao hiệu qủa sử dụng phương pháp
thảo luận nhóm trong dạy học môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Tạp chí Giáo dục và xã hội (Cơ quan nghiên cứu lý luận, diễn đàn
giáo dục của hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam), số đặc biệt
tháng 9/2017, tr.261 - 266.
4.
Mai Thu Trang (2018), Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng phương
pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng
sản Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực, Tạp chí Giáo dục và Xã
hội, Số 84 (145) tháng 3/2018, tr.15 - 18.
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
TLN với tư cách là một hình thức tổ chức DH đặc trưng ở ĐH có nhiều ưu thế trong
việc hình thành và PTNL cho người học. Thông qua những chuỗi hoạt động tìm tòi, nghiên
cứu và tranh luận được tổ chức có chủ định trong các buổi TLN trên lớp, SV sẽ có nhiều cơ
hội để lĩnh hội tốt các tri thức, nắm bắt được con đường đi đến tri thức, đồng thời rèn luyện kĩ
năng, tư duy cũng như thái độ, phong cách làm việc khoa học một cách tích cực và hiệu quả.
Điều này có nghĩa PPTLN là một công cụ thực sự hữu hiệu để PTNL hành động cho SV. Tuy
nhiên, trên thực tiễn PPTLN vẫn chưa có một vị trí xứng đáng và chưa trở thành một hình
thức tổ chức DH độc lập trong cơ cấu các hình thức tổ chức DH và đào tạo bậc ĐH ở Việt
Nam hiện nay.
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐLCMCĐCSVN) là khoa học lý
luận về sự lãnh đạo của Đảng, là môn học bắt buộc đối với SV các trường ĐH ở nước ta, có vị
trí hết sức quan trọng trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Đó là
những người phải có phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực nghề nghiệp để cống
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Luận án nghiên cứu PPTLN, các nguyên tắc, quy trình sử dụng PPTLN
trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở các trường ĐH.
- Khảo sát thực tiễn: Tổ chức TNSP tại 5 trường (Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí
Minh, Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kiến trúc,
Đại học Công nghiệp, Đại học Hoa Sen).
- Thời gian: Tiến hành khảo sát điều tra và TNSP trong năm học 2016-2017.
5. Giả thuyết khoa học
Việc áp dụng được quy trình sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo
ĐHPTNL cho SV hiệu quả không những trang bị cho SV những kiến thức cơ bản về môn
ĐLCMCĐCSVN mà còn góp phần PTNL của SV, đáp ứng yêu cầu của Chuẩn đầu ra, nâng cao chất
lượng và hiệu quả DH bộ môn ở bậc ĐH.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
Luận án sử dụng PP luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;
quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới GD và ĐT; lý luận giáo dục; quan điểm DH hiện
đại và PPDH bộ môn Giáo dục chính trị.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Các PP được sử dụng kết hợp: Lôgic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp,
so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa…để thực hiện nhiệm vụ của luận án.
6.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- PP điều tra: bảng hỏi, phiếu khảo sát nhằm tìm hiểu thực trạng tổ chức DH có sử
dụng PPTLN môn ĐLCMCĐCSVN trong đào tạo SV ở trường ĐH hiện nay.
- PP quan sát: quan sát thái độ, tính tích cực và sự hứng thú học tập của SV khi dự giờ
các tiết dạy của GV (lớp TN và lớp ĐC); qua các buổi dự giờ, giảng dạy trên lớp trong DH
môn ĐLCMCĐCSVN.
3
Thứ ba, xây dựng được quy trình và đề xuất các nguyên tắc sư phạm để tiến hành TLN
trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL.
9. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được chia làm 4 chương.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG
DẠY HỌC MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1. Tổng quan về phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học theo định hướng phát
triển năng lực
1.1.1. Phương pháp thảo luận nhóm
Trong lịch sử nhân loại, ý tưởng về PPDH phát huy cao độ tính tích cực của người học
và DH hướng vào người học đã được các nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn quan tâm đề cập.
Đặc biệt, thời gian gần đây các nghiên cứu trên thế giới dành sự quan tâm đến DH bằng
PPTLN là nòng cốt đem lại những giá trị giáo dục phù hợp với thời đại.
Có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về DH theo nhóm với các cách tiếp cận
khác nhau và dưới nhiều tên gọi khác nhau như: giáo dục hợp tác, học tập nhóm nhỏ; học tập
theo quan điểm tương tác người học - người học... đều khẳng định DH theo nhóm vừa phát
huy được tính tích cực chủ động của học sinh, nhằm đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ học tập
vừa phù hợp với xu thế phát triển của DH hiện đại. Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ
dừng lại ở nghiên cứu lý luận chung, chưa có nhiều công trình nghiên cứu cụ thể về PPTLN
trong dạy học theo ĐHPTNL.
1.1.2. Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Dạy học theo ĐHPTNL đòi hỏi phải sử dụng nhiều PP, hình thức tổ chức dạy học theo hướng
tích cực hóa hoạt động của người học, góp phần hình thành, phát triển các năng lực cụ thể cho cá
nhân. Chính vì vậy, trong các công trình nghiên cứu về DH theo ĐHPTNL đều ít nhiều đề cập đến
PPTLN với tư cách là một PPDH tích cực có nhiều ưu thế trong việc PTNL người học.
- Đề xuất các nguyên tắc và xây dựng quy trình sử dụng PPTLN trong DH môn
ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở trường ĐH hiện nay.
- Thiết kế một số bài giảng môn ĐLCMCĐCSVN trong đó có sử dụng quy trình sư
phạm mà luận án đề xuất.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG
DẠY HỌC MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
2.1. Cơ sở lý luận về PPTLN trong dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL
2.1.1. Một số vấn đề chung về PPTLN trong dạy học theo ĐHPTNL
2.1.1.1. Phương pháp thảo luận nhóm
- Về khái niệm PPTLN: “PPTLN là một hình thức dạy học, trong đó để đạt được mục tiêu
dạy học thì người học phải làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ, mỗi thành viên trong nhóm
đều tham gia vào giải quyết nhiệm vụ học tập trong một khoảng thời gian nhất định dưới sự tổ
chức, điều khiển, hướng dẫn của GV” đây là khái niệm mang tính khoa học nhất.
6
- Đặc điểm cơ bản của PPTLN trong dạy học:
+ Có sự phụ thuộc tích cực
+ Có sự tương tác trực diện
+ Trách nhiệm cá nhân cao
2.1.1.2. Dạy học theo ĐHPTNL
Chương trình dạy học định hướng năng lực quy định những kết quả đầu ra mong muốn
của quá trình giáo dục chứ không quy định những nội dung dạy học chi tiết, trên cơ sở đó đưa ra
những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, PP, cách thức tổ chức và đánh giá kết quả
DH nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu DH nghĩa là đạt được kết quả đầu ra mong muốn.
- Ưu điểm: nhấn mạnh năng lực vận dụng của học sinh, tạo điều kiện quản lý chất lượng
theo kết quả đầu ra đã quy định.
- Hạn chế:
− NL giải quyết vấn đề
GV sẽ từng bước hình thành và PTNL giải quyết vấn đề cho người học khi tạo nên một
chuỗi những chủ đề/tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động của SV để họ tự lực giải
quyết những vấn đề học tập của mình. Qua sử dụng PPTLN, NL giải quyết vấn đề sẽ được
biểu hiện qua những nội dung sau:
+ SV tự xác định được mục đích học tập là để phát triển bản thân.
+ Khuyến khích SV tư duy tích cực để giải quyết vấn đề.
+ Khuyến khích SV cùng chia sẻ, hợp tác trước những thách thức trí tuệ.
− NL tự học.
PTNL tự học cho SV qua TLN trong DH ĐLCMCĐCSVN, ngoài yếu tố bồi dưỡng, kích
thích, hình thành động cơ, nhu cầu, mục tiêu và tình cảm tự thân trong học tập, thì yếu tố cơ
bản chính là phát triển cách thức tự học một cách khoa học và hiệu quả qua việc PTNL hành
động của người học. Cụ thể là: PTNL lựa cho ̣n, phát hiện vấn đề tự học; NL tìm kiế m thông
tin, tư liê ̣u phu ̣c vu ̣ quá trình tự ho ̣c; PTNL lập và triển khai kế hoạch tự học; NL giải quyế t
vấ n đề trong quá trình tự ho ̣c.
− NL tư duy sáng tạo.
Trong quá trình triển khai PPTLN để học tập môn ĐLCMCĐCSVN, SV sẽ học tập và tiếp
thu rất nhiều từ những bài học về NL tư duy sáng tạo của Đảng, đồng thời thể hiện sự sáng tạo
trong chính cách giải quyết vấn đề và trình bày kết quả của cả nhóm. Hơn thế nữa, sự sáng tạo của
tập thể sẽ được tạo ra khi sự sáng tạo của mỗi thành viên trong nhóm được hợp nhất lại.
Xuất phát từ đặc điểm của nội dung môn ĐLCMCĐCSVN, việc tiến hành sử dụng
PPTLN trong quá trình DH bộ môn theo ĐHPTNL còn góp phần phát triển những năng lực
đặc thù cho SV, cụ thể là:
− NL tư duy phản biện.
Trong TLN, tư duy phản biện giúp SV suy nghĩ vấn đề với nhiều cách giải quyết khác
nhau, theo nhiều hướng khác nhau, thừa nhận những điều chưa đúng của bản thân, sẵn sàng
thừa nhận cái đúng, phản bác cái sai của người khác, lắng nghe và tôn trọng ý kiến khi tham
gia tranh luận. Từ đó, SV sẽ kiểm soát được cảm xúc của bản thân và thiết lập mối quan hệ tốt
đẹp giữa các thành viên trong nhóm và các nhóm với nhau. Không những thế, tư duy phản
biện còn giúp người học có cách tiếp nhận và xử lý thông tin trên cơ sở lựa chọn, sàng lọc,
2.2.1. Đặc điểm của sinh viên trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của cả nước, có tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nhìn chung, SV TP.HCM có những đặc
điểm cơ bản sau:
-
Ưu điểm:
+ Năng động, sáng tạo, luôn quan tâm đến các vấn đề thời sự trong nước và thế giới,
thẳng thắn bày tỏ ý kiến của mình trước tập thể.
9
+ Có nhiều nét độc đáo, sáng tạo trong giờ học…
-
Hạn chế:
+ Nề nếp, kỉ luật, học tập chưa đảm bảo do sự “đa văn hóa vùng miền’’
+ Chưa có PP học tập, điều kiện sống thiếu thốn…
Trong quá trình DH, GV phải tính đến các đặc điểm của SV nói chung và đặc điểm của
SV trên địa bàn TP.HCM nói riêng để tìm ra con đường, PPDH hiệu quả.
2.2.2. Khảo sát thực trạng việc sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCCĐCSVN
theo ĐHPTNL cho SV các trường ĐH ở TPHCM hiện nay
Nhằm tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến việc DH môn ĐLCMCĐCSVN bằng
PPTLN theo ĐHPTNL chưa đạt kết quả cao, tác giả đã thực hiện khảo sát việc sử dụng PPDH
này ở những nội dung sau:
2.2.2.1. Thực trạng về đội ngũ GV và tổ chức lớp học
2.2.2.2. Nhận thức của GV và SV về sự cần thiết và mức độ sử dụng PPTLN trong DH
môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL cho SV ở các trường ĐH tại TP.HCM
2.2.3.2. Các nguyên nhân của những hạn chế khi sử dụng PPTLN trong DH môn
ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở các trường ĐH tại TP.HCM
- Đối với GV:
+ Sự tiếp cận với PPTLN theo ĐHPTNL còn nhiều hạn chế.
+ Năng lực tổ chức điều khiển của GV chưa tốt, chưa căn cứ vào nội dung bài học
để xác định đúng nhiệm vụ học tập và tổ chức các hình thức TLN phù hợp...
+ Việc dạy học bằng PPTLN theo ĐHPTNL chưa có một quy trình khoa học, cụ
thể.
+ GV chưa biết cách tổ chức cho các nhóm SV báo cáo kết quả sản phẩm nhóm.
- Đối với SV:
+ Do nhận thức chưa đúng đắn về TLN theo ĐHPTNL
+ Phần lớn hoạt động nhóm còn mang tính hình thức, chú trọng tạo ra sản phẩm để
nộp
+ Hầu hết SV đều yếu và thiếu các kỹ năng làm việc nhóm
+ Cơ sở vật chất chưa đáp ứng tốt cho hoạt động nhóm, số SV đông, chưa có sự
quan tâm đúng mức của các cấp lãnh đạo và nhà trường...
2.2.3.3. Những vấn đề đặt ra khi sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo
ĐHPTNL ở các trường ĐH tại TP.HCM
Từ việc khảo sát thực tiễn và đánh giá thực trạng sử dụng PPTLN trong DH môn
ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL cho thấy cần phải giải quyết một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần có biện pháp giúp GV bộ môn và SV nhận thức rõ về sự cần thiết phải tiến
hành TLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL.
Thứ hai, cần tìm ra những nguyên tắc, quy trình sử dụng hiệu quả PPTLN theo
ĐHPTNL nhằm phát huy tối đa nội lực của người học.
11
CHƯƠNG 3
NGUYÊN TẮC VÀ QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA
khác, việc phát huy tính tích cực hoạt động trong nhận thức của SV còn góp phần bồi dưỡng
12
năng lực hoạt động nghề nghiệp sau này với tư cách là một cán bộ khoa học, kỹ thuật có trình
độ và kỹ năng.
3.2. Quy trình sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL
Theo tác giả, quy trình sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo định
hướng PTNL gồm 3 giai đoạn theo sơ đồ sau:
3.2.1. Chuẩn bị hoạt động TLN theo ĐHPTNL
3.2.1.1. Mục đích
Tạo được hiệu quả tích cực khi sử dụng PPTLN trong quá trình DH môn
ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL
13
3.2.1.2. Nội dung thực hiện
Bước 1: Xây dựng chủ đề/tình huống TLN
Lựa chọn xây dựng chủ đề/tình huống để tổ chức TL là vấn đề đầu tiên quyết định sự
thành công của quá trình thực hiện. Hơn nữa, đây là TLN trong DH nên chủ đề/tình huống TL
phải là vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung bài học đồng thời phải phù hợp với cách dạy
thông qua TLN.
Bước 2: Xác định chuẩn đầu ra về phẩm chất và NL của từng bài học trong môn
ĐLCMCĐCSVN
Chuẩn đầu ra về phẩm chất và NL của từng bài học trong môn ĐLCMCĐCSVN là sự cụ
thể hóa mục tiêu của môn học thành kết quả đầu ra về phẩm chất và NL mà SV cần đạt được
sau mỗi bài học.
Việc xác định chuẩn đầu ra NL của bài học vừa là yêu cầu, đồng thời là một biện pháp
để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo
có hạn, cả GV và SV cần chú ý:
- Về phía SV
- Về phía GV
Bước 2: Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả TLN
Trong toàn bộ quy trình tổ chức sử dụng PPTLN theo ĐHPTNL, báo cáo sản phẩm
nhóm là khâu cuối cùng, kết thúc một chuỗi các hoạt động nỗ lực không ngừng của nhóm SV.
Do đó, kết quả hoạt động báo cáo sản phẩm của nhóm sẽ quyết định trực tiếp đến sự thành
công hay thất bại của quá trình làm việc
- Về phương án tổ chức cho đại diện nhóm báo cáo
- Về hình thức sản phẩm trình bày báo cáo của nhóm
3.2.2.3. Điều kiện thực hiện
- GV: phải điều khiển một cách linh hoạt sao cho phù hợp với từng tình huống cụ thể.
- SV: tranh luận, TL, phân tích, phản biện các ý kiến, lập luận để bảo vệ kết quả nghiên cứu.
3.2.3. Kiểm tra, đánh giá hoạt động TLN theo ĐHPTNL
3.2.3.1. Mục đích
Từ kết quả KT, ĐG, GV có thể phân loại được SV và đánh giá đúng, đủ, chính xác chất
lượng DH của cả thầy và trò.
Thông qua các hình thức KT, ĐG, cả người dạy và người học sẽ tích luỹ thêm nhiều
kinh nghiệm và có ý thức chọn lựa PP dạy và học hiệu quả hơn.
3.2.3.2. Nội dung thực hiện
Việc đổi mới KT, ĐG khi sử dụng PPTLN trong DH theo ĐHPTNL cần thực hiện theo
trình tự sau:
− Thứ nhất, trước khi ĐG, GV cần nghiên cứu kỹ mục đích của các hình thức KT, ĐG.
15
− Thứ hai, xác định đầy đủ thông tin và chi tiết nội dung của vấn đề KT, xây dựng các
tiêu chí, các thang điểm để ĐG với các chỉ tiêu rõ ràng cho từng nội dung cần ĐG.
− Thứ ba, GV phải độc lập phân tích bài làm của SV, so sánh kết quả bài làm với các tiêu
chuẩn rồi đưa ra nhận định khách quan nhất.
4.1. Kế hoạch thực nghiệm
4.1.1. Mục đích thực nghiệm
TN sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của quy trình sử dụng PPTLN
theo ĐHPTNL trong DH môn ĐLCMCĐCSVN ở bậc đại học tại TP.HCM.
4.1.2. Nguyên tắc tổ chức thực nghiệm
Quá trình tổ chức thực nghiệm sư phạm phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính khách quan, khoa học, tôn trọng nội dung trong giáo trình, chương trình
môn học ĐLCMCĐCSVN.
- Đảm bảo tính đa dạng của các trường thực nghiệm, các nhóm đối tượng của các khoa
học kỹ thuật, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn và chuẩn về trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ của các GV dạy thực nghiệm.
- Đảm bảo tính nhất quán, khách quan và toàn diện trong quá trình đánh giá cả hai nhóm
lớp thực nghiệm và đối chứng.
4.1.3. Đối tượng tổ chức thực nghiệm
Tiến hành TN ở nhiều trường đại học tại TP.HCM. Cụ thể: Đại học Bách khoa, Đại học
Sư phạm, Đại học Kiến trúc, Đại học Công nghiệp, Đại học Hoa Sen. Mỗi trường tôi chọn 2
lớp SV để làm TN và ĐC. Các lớp SV không quá chênh lệch về học lực và nền nếp học tập,
có trình độ nhận thức tương đương nhau.
4.1.4. Phương pháp thực nghiệm
Giai đoạn 1: Thực nghiệm thăm dò.
Giai đoạn 2: Thực nghiệm tác động.
4.2. Tổ chức thực nghiệm
4.2.1. Thời gian, đơn vị triển khai thực nghiệm
Tiến hành TN sư phạm trong năm học 2016 – 2017.
17
Để đảm bảo tính khách quan và đánh giá hiệu quả của việc nghiên cứu luận án, tác giả
chọn 5 trường ĐH lớn, tiêu biểu trên địa bàn TP.HCM: ĐH Bách khoa, ĐH Kiến trúc, ĐH
Bên cạnh đó, tôi tiến hành phỏng vấn bằng phiếu hỏi và phỏng vấn sâu đối với cả GV và
SV sau giờ dạy TN để có thêm cơ sở ĐG chính xác hơn mặt định tính về kết quả TN dựa trên
những biểu hiện sau:
- Về thái độ
- Về kỹ năng
- Đánh giá kết quả tổ chức hoạt động học của sinh viên
Đánh giá mức độ phát triển năng lực TLN theo các cấp độ: tốt, khá, trung bình và yếu.
4.2.4. Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm
Sau khi có số liệu, tác giả tổng hợp và xử lý kết quả theo PP thống kê toán học trong
khoa học giáo dục. Chúng tôi đã tiến hành đo kiến thức, KN (bằng bài kiểm tra) và thái độ SV
sau tác động (bằng bảng hỏi). Các dữ liệu thu thập được đã được chúng tôi nghiên cứu xử lí
theo các thao tác của phương pháp nghiên cứu tác động (action research). Từ các số liệu thu
được và mức độ ảnh hưởng để xác định độ tin cậy của kết quả thu được, tác giả khẳng định
kết quả của quá trình thực nghiệm là cơ sở khoa học và có ý nghĩa triển khai trong thực tiễn
quy trình đề xuất trong luận án.
4.3. Kết quả thực nghiệm
4.3.1. Giai đoạn 1 – Thực nghiệm thăm dò
Kết quả ở nhóm lớp TN cao hơn nhóm lớp ĐC. Điểm trung bình của lớp TN là 7,719
trong khi đó điểm trung bình của lớp ĐC là 6,995. Độ chênh lệch điểm trung bình của lớp
TN so với lớp ĐC là 0,724. Trong đó, độ lệch chuẩn của lớp TN là 1,402; độ lệch chuẩn
của lớp ĐC là 1,623. Như vậy, qua quá trình GV dạy TN, kết quả học tập của SV lớp TN
đã có sự tiến bộ hơn ở lớp ĐC. Điều này biểu hiện trước hết trong kết quả của hai nhóm
lớp TN và ĐC có sự khác nhau về các mức độ điểm giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. Ở các
lớp TN, SV đạt điểm yếu kém, trung bình thấp hơn lớp ĐC và tỉ lệ SV đạt điểm khá giỏi
lại tương đối cao, cao hơn tỉ lệ này ở các lớp ĐC (điểm yếu - kém và trung bình ở nhóm
lớp TN chiếm 58%, điểm đạt khá giỏi chiếm 43%. Ngược lại ở nhóm lớp ĐC, điểm yếu
kém và trung bình chiếm 62% và khá giỏi chiếm 38%).
4.3.2. Giai đoạn 2 – Thực nghiệm tác động
Ở giai đoạn này tác giả tiến hành TN đối chứng qua 2 giáo án.
Kết quả KT, ĐG TN tác động được đánh giá qua những nội dung sau:
Từ việc nghiêm cứu và TN các biện pháp sử dụng PPTLN theo ĐHPTNL trong DH ở
trên, tác giả rút ra những kết luận như sau:
1. Việc DH trong trường ĐH nói riêng và trong hệ thống giáo dục nói chung ở nước ta
hiện nay các hoạt động dạy phải hướng vào người học để khai thác mọi tiềm năng trí tuệ của
họ. DH bằng PPTLN là một trong những biện pháp quan trọng nhằm tích cực hóa hoạt động
nhận thức của người học, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước
về đổi mới giáo dục nói chung trong đó có đổi mới PPDH, việc sử dụng PPTLN theo
ĐHPTNL trong DH góp phần nâng cao chất giáo dục nói chung và DH môn ĐLCMĐCSVN ở
các trường đại học tại TP.HCM hiện nay nói riêng.
2. Đối với hệ thống lý luận về PPTLN, luận án đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề
trong DH. Cụ thể, luận án nêu rõ một số khái niệm cơ bản như: PPDH, PPDH đại học,
PPTLN, PPTLN theo ĐHPTNL; bản chất và vai trò quan trọng của TLN theo ĐHPTNL trong
DH... Sử dụng PPTLN theo ĐHPTNL với những quy trình được đề xuất là điều cần thiết
trong việc tích cực hóa các hoạt động của người học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.
3. Khảo sát thực trạng sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMĐCSVN ở các trường ĐH
tại TP.HCM cho thấy: phần lớn các thầy cô dạy có sử dụng PPTLN trong DH nhưng chưa có
cách thức, biện pháp khoa học, cụ thể. Qua khảo sát, tác giả cũng thấy rõ GV còn gặp khó
khăn khi sử dụng PPTLN theo ĐHPTNL trong DH, GV chưa có một cách tổ chức khoa học,
hợp lý theo những nguyên tắc và một quy trình cụ thể. Chính vì vậy, chất lượng DH bộ môn
chưa cao, SV chưa tích cực học tập. Với việc nghiên cứu lý luận PPTLN theo ĐHPTNL trong
DH đã có một số tác giả nghiên cứu nhưng chưa có những gợi ý xác đáng, sâu sắc về phạm vi,
đối tượng và cách thức vận dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMĐCSVN theo ĐHPTNL ở các
trường ĐH tại TP.HCM.
4. Luận án nghiên cứu kiến thức về ĐLCMĐCSVN và chọn lựa những nội dung kiến
thức phù hợp, thiết thực có thể áp dụng PPTLN theo ĐHPTNL. Từ những định hướng chung
cho việc vận dụng PPTLN theo ĐHPTNL, luận án đề xuất một số nguyên tắc và quy trình cụ
thể nhằm vận dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMĐCSVN theo ĐHPTNL. Trong quá trình tổ
chức DH, việc xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ của một giờ dạy luôn được nêu rõ là: trang
bị cho SV đủ tri thức khoa học bộ môn, các kĩ năng, NL nghề nghiệp cho SV, từ tri thức đã
học được SV vận dụng sáng tạo trong học tập và thực tế cuộc sống đặt ra. GV được khuyến
KIẾN NGHỊ
Quá trình khảo sát và triển khai TN cũng cho thấy một số vấn đề tồn tại trong việc
DH môn ĐLCMĐCSVN bằng PPTLN theo ĐHPTNL hiện nay hoàn toàn có thể khắc phục
được. Theo đó, tác giả xin đưa ra những kiến nghị sau đây:
1. Với Bộ Giáo dục và Đào tạo: cần nghiên cứu và đổi mới nội dung, chương trình
môn học, khuyến khích việc tự chủ trong xây dựng chương trình của các trường tại địa
phương để kiến thức môn ĐLCMĐCSVN gắn liền với thực tiễn địa phương và ngành nghề
đào tạo. Cần tăng thời lượng TL trong chương trình môn học. Đây là điều kiện giúp giải
22
quyết vấn đề thời gian khi thực hiện nhiệm vụ và trình bày kết quả của nhóm. Sẽ có tình
trạng chiếu lệ, hình thức trong TLN nếu thời gian dành cho lý thuyết quá nhiều.
2. Với các trường ĐH, CĐ: cần đảm bảo tốt cơ sở vật chất thuận lợi cho việc học tập
theo nhóm. Việc tiến hành TLN trong DH môn ĐLCMĐCSVN theo ĐHPTNL cần đảm
bảo các điều kiện sau:
Một là, về không gian DH. Không gian DH hợp lý sẽ giúp cho GV chia nhóm, giám
sát sự hoạt động của cá nhân và cả nhóm một cách dễ dàng. Không những thế, sự hợp tác
của các thành viên trong nhóm cũng trở nên chặt chẽ hơn. Từ đó, nhờ sự liên kết tạo nên
sức mạnh tập thể của các nhóm, nhiệm vụ chung của nhóm sẽ được giải quyết nhanh hơn.
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng TLN và tính khách quan của kết quả
TLN là khoảng cách giữa các nhóm trong lớp học. Để hạn chế điều này, hệ thống bàn ghế
nên được thiết kế theo hướng linh hoạt, dễ di chuyển nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị và
gia tăng sự kết nối của tất cả các thành viên trong nhóm. Trong quá trình thực hiện, những
cảm xúc tích cực của SV sẽ được tạo ra khi có sự thay đổi không gian DH một cách
thường xuyên.
Hai là, các phương tiện hỗ trợ cho việc tiến hành PPTLN. Do tư duy trừu tượng chỉ
có thể hình thành trên nền tảng của trực quan sinh động nên phương tiện DH là trợ thủ đắc
lực trong quá trình thực tổ chức TLN. Việc trang bị máy tính, máy chiếu sẽ giúp SV dễ