Luận văn: Thực trạng việc QL hoạt động giảng dạy ở một số trường tiểu học huyện Chợ Lách - Bến Tre - Pdf 59

Thực trạng việc QL hoạt động giảng dạy
ở một số trường tiểu học huyện Chợ LáchBến Tre
Nguyễn Văn Tạo


MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài:
Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng đònh mục tiêu đưa nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Sự nghiệp phát triển đất nước, sự nghiệp công
nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước đang đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với mọi ngành.Trong đó
ngành Giáo dục- Đào tạo có một trách nhiệm lớn là đào tạo ra đội ngũ lao động có trình độ khoa
học kỹ thuật, có trình độ tay nghề cao. Đánh giá được vai trò quan trọng của ngành Giáo dục- Đào
tạo, Đảng ta đã khẳng đònh “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.Vì vậy ngành giáo dục
cần “tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, trang bò đủ kiến thức cần thiết đi đôi với tạo ra
năng lực sáng tạo của học sinh”.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì GDTH là một bậc học hoàn chỉnh và là bậc học nền
tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng
vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Vì vậy GDTH phải
đảm bảo mục tiêu “Hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và
lâu dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kỹ năng cơ bản…”
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường thì trước hết phải xây dựng đội ngũ
giáo viên đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về chuyên môn nghiệp vụ, đảm bảo phẩm
chất chính trò, bởi vì giáo viên là lực lượng quyết đònh chất lượng dạy học và giáo dục thế hệ trẻ.
Trong giai đoạn hiện nay, ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới nội dung chương trình phương
pháp dạy học-giáo dục thì vai trò của người giáo viên lại càng có ý nghóa quan trọng. Người giáo
viên không còn là người truyền tải thông tin duy nhất đến học sinh, mà họ là người tổ chức, điều
khiển, hướng dẫn học sinh trong quá trình chiếm lónh tri thức. Xuất phát từ yêu cầu đó người giáo
viên phải có trình độ cao về chyuên môn, khoa học sư phạm và có phẩm chất đạo đức tốt của người
giáo viên.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:


Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài nhằm mục đích: Làm rõ thực trạng QL
hoạt động giảng dạy để từ đó đưa ra những giải pháp đảm bảo và nâng cao hiệu quả giảng dạy của
GV tiểu học huyện Chợ Lách- Bến tre .
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
a. Khách thể nghiên cứu: Cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên 12 trường tiểu học ở huyện
Chợ Lách - Bến Tre :
 Bốn trường chuẩn quốc gia:
-Tiểu học Sơn Đònh.
-Tiểu họcVónh Bình.
-Tiểu học Phú Sơn A.
-Tiểu học Long Thới A.
 Bốn trường khu vực đòa bàn dân cư phát triển:
-Tiểu học Thò Trấn.
-Tiểu học Hòa Nghóa B
-Tiểu học Vónh Thành A.
-Tiểu học Vónh Thành B
 Bốn trường vùng sâu vùng xa:
-Tiểu học Tân Thiềng A.
-Tiểu học Tân Thiềng B.
-Tiểu học Hưng Khánh Trung A.
-Tiểu học Hưng Khánh Trung B.
b. Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng việc quản lý hoạt động giảng dạy ở một số trường tiểu
học huyện Chợ Lách- Bến Tre.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
-Thực trạng việc quản lý hoạt động giảng dạy ở một số trường Tiểu học huyện Chợ Lách –
Bến Tre.


-

Chương 3 : Một số giải pháp góp phần nâng cao công tác quản lý hoạt động giảng
dạy ở trưởng TH huyện Chợ Lách – Bến Tre

PHẦN III – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.

Lòch sử nghiên cứu vấn đề:
QL quá trình giảng dạy và giáo dục trong nhà trường tiểu học là công tác khó khăn của

người Hiệu trưởng. Mục tiêu chủ yếu của công tác này là đảm bảo chất lượng giảng dạy và GD học
sinh theo yêu cầu của “Mục tiêu đào tạo bậc tiểu học”. Để góp phần làm tốt công tác QL của
người Hiệu trưởng, nhiều nhà QLGD đã nghiên cứu thực tiễn QL nhà trường để tìm ra các biện
pháp QL hiệu quả nhất.
1.1.1. Đôi nét về giáo dục Tiểu học trên thế giới:
Ngày nay, luận điểm đi lên bằng giáo dục đã được khẳng đònh và trở thành xu thế của thời
đại. Khái niệm về một cường quốc GD đang là mục tiêu phấn đấu của một số nước có tham vọng
lớn ở thế kỉ XXI. Hầu hết các nước điều quan niệm để có được là cường quốc giáo dục thì phải bắt
đầu từ bậc học “ nền móng” – bậc tiểu học.
Chúng tôi xin được trình bày đôi nét về GDTH của một số nước cụ thể:
* Trung Quốc.
Chính phủ Trung Quốc đặt biệt coi trọng giáo dục tiểu học:
- Đưa vào GDTH nhiều môn học gắn liền với đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc, cụ thể như

Bảng 1.1: Số giờ hàng tuần ở các trường tiểu học Nhật Bản
Năm học 1
Môn
Quốc ngữ
Xã hội học
Toán
Khoa học
Tự nhiên học
Nhạc
Họa
Gia chánh
Thể dục
Các môn khác
Tổng số

9
0
4
0
3
2
2
0
3
2
25

2

3


8
3
5
3
0
2
2
0
3
3
29

6
3
5
3
0
2
2
2
3
3
29

6
3
5
3
0


Toán

5

Tìm hiểu thế giới, giáo dục công dân

4

Giáo dục nghệ thuật, rèn luyện thân thể và thể thao

6

Học tập có hương dẫn

2

Tổng cộng

26

Bảng 1. 3: Giai đoạn chuyên sâu
Giai đoạn chuyên sâu
Tiếng pháp và ngoại ngữ
Toán

Số giờ
9
5giơ 30


đồng này rất lớn trong bàn bạc quyết đònh phương hướng phát triển nhà trường, công tác tổ chức
công tác GD, tài chánh… đối với đại diện cộng đồng tùy theo yêu cầu thiết thực mà nhà trường mời
có thể là đại diện của quận và cũng có trường mời cả nghò só quốc hội. Mục đích mời đại diện cộng
đồng là giúp trường những việc lớn đang bức xúc.
Ở Úc đối với GDTH không bắt buộc nhân dân đóng góp, học sinh được hưởng công bằng
trong học tập, song nước Úc làm công tác XHHGD rất tốt, nhất là thông qua vai trò của hội đồng
GD nên cộng đồng có sự hỗ trợ rất lớn về vật chất cho nhà trường. Phụ huynh có ý thức đóng góp
cho nhà trường rất nhiều về tiền của.
1.1.2. Một số vấn đề rút ra từ đôi nét giáo dục Tiểu học của một số nước trên thế giới:
Các nước quan tâm đặc biệt đến GDTH bởi họ ý thức được tầm quan trọng của bậc học này.
- Quan điểm của nhà nước đối với GDTH: Đây là bậc học phổ cập, bậc học đặt nền móng
cho sự phát triển nhân cách của từng con người nói riêng và toàn xã hội nói chung, do vậy các nước
quan tâm từ đội ngũ giáo viên đến ngân sách và CSVC khác.


- Chương trình tiểu học được trải rộng nhằm GD toàn diện cho học sinh. Tiếng mẹ đẻ và bản
sắc văn hóa dân tộc được chú trọng trong chương trình, phương pháp dạy học chủ động, năng động
sáng tạo hướng dẫn học sinh đi tìm kiến thức trở thành xu hướng, phù hợp với nền kinh tế thò trường
và thơiø đại hội nhập của thế giới.
- Chi phí cho tiểu học gần như nhà nước bao cấp.
- Đội ngũ giáo viên được đào tạo có chất lượng, nghiêm túc, phần nghiệp vụ sư phạm đặc
biệt được chú trọng trong chương trình đào tạo giáo viên. Điều này đối với GD Việt Nam cần được
quan tâm xem xét lại. Hàng năm giáo viên đều được bồi dưỡng cập nhật chương trình, các vấn đề
mới và nâng cao trình độ. Việt Nam có chương trình bồi dưỡng thường xuyên, nhưng chất lượng còn
phải xem xét lại, có nơi còn làm chiếu lệ.
- Nền GDTH, hệ thống GD quốc dân của các nước văn minh, tiên tiến trải qua các giai đoạn
phát triển phân chia thành các bậc học, trong đó có bậc tiểu học. Hệ thống GD quốc dân của các
nước cũng đều là hệ thống hoàn chỉnh thống nhất.Đó là sự thống nhất về tư tưởng GD, về các quan
điểm GD và về nguyên lý vận hành của nền GD. Đó cũng là sự thống nhất trong tính đa dạng của
các bậc học, là sự thống nhất nhưng không đồng nhất các bậc học. Mỗi bậc học có đặc điểm riêng,

trác h công tác giảng dạy – giáo dục trong một nhà trường.
Ba tác giả Nguyễn Thò Bích Yến với đề tài: “biện pháp quản lí của Hiệu trưởng đảm bảo
chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên ở một số trường tiểu học”, Nguyễn Đăng Ngưng với đề
tài: “các biện pháp quản lí chuyên môn của Hiệu trưởng tiểu học ở Quản Nam “ và Hoàng Văn Vẽ
với đề tài Năng lực quản lí chuyên môn của Hiệu trưởng trường tiểu học Đồng nai”… cũng chỉ đề
cập đến công tác quản lí chuyên môn của người Hiệu trưởng.
Trong những năm gần đây có nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã quan tâm đến
chất lượng dạy học của bậc tiểu học. Các tác giả nghiên cứu về GDTH các nước trong khu vực
Châu Á-Thái Bình Dương (Lê Ngọc Trà, Nguyễn Ngọc Thanh …) cho biết Chính phủ các nước
trong khu vực rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng toàn diện của GDTH đồng thời đã nêu lên
nhiều phương hướng cải tiến nội dung và phương pháp dạy học, trong đó khẳng đònh các nhà làm
công tác QLGD phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng điều hành và QL của mình để qua


đó tác động một cách có hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộ phận của hệ
thống GD ở các vi mô cũng như vó mô.
Tác giả Đỗ đình Hoan cùng các cộng sự đã nghiên cứu xây dựng chương trình dạy học năm
2000. Các tác giả: Đỗ Đình Hoan, Nguyễn Hữu Dũng, Đăng Vũ Hoạt… đã nghiên cứu về lí luận
dạy học nêu lên phương hướng triển vọng của việc đổi mới phương pháp dạy học và cơ sở lí luận
của việc vận dụng những phương pháp dạy học mới vào việc dạy học ở trường tiểu học .
Về nghiên cứu thực nghiệm để cải tiến phương pháp dạy học của từng môn học ở trường tiểu
học cũng có nhiều tác giả như: Đỗ Đình Hoan, Phạm Thanh Tâm, Trần Tuấn Lộ, Thái văn Thành,
Đào Thái Lai – Phạm Toàn, Nguyễn Việt Bắc…Bên cạnh đó, có một số tác giả đúc kết kinh
nghiệm bản thân trong quá trình dạy học để nêu lên những vấn đề cụ thể về đổi mới phương pháp
dạy học Tiếng Việt, Toán ở bậc tiểu học.
Các nhà nghiên cứu QLGD nước ngoài cũng như Việt Nam đã nghiên cứu và nêu lên một số
biện pháp QL của Hiệu trưởng nhưng các tác giả chỉ nêu lên những biện pháp chung cho các
trường phổ thông hoặc việc cải tiến nội dung và phương pháp dạy học bộ môn, mà chưa đề cập đến
biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm giúp giáo viên thực hiện có hiệu quả các phương pháp đó
. Ở đề tài này tác giả đi sâu phân tích “Thực trạng việc quản lý hoạt động giảng dạy ở một số

Vũ Hoạt nêu: “QL là một quá trình đònh hướng, quá trình có mục tiêu, QL một hệ thống là quá
trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất đònh. Những mục tiêu này đặc
trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn”. GS Hoàng Chúng và Phạm
Thanh Liêm nêu lên đònh nghóa “QL là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm
tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động”.
 Theo PGS. TS Đặng Quốc Bảo: Công tác QL lãnh đạo một tổ chức, xét cho cùng là thực
hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: quản và lý. Quá trình “ Quản” gồm sự coi sóc, gìn
giữ, duy trì hệ ở trạng thái ổn đònh. Quá trình lý gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào thế
phát triển”. [ 13]


 Theo Nguyễn Bá Sơn “ Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để
tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [29]
 “ Quản lý còn là một phương thức làm cho những hoạt động tiến tới mục tiêu được hoàn
thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác. Quản lí là những hoạt động cần thiết
được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu
chung” [28]
 Quản lí chính là sự tác động liên tục có tổ chức, có ý thức hướng mục đích của chủ thể
vào đối tượng nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” [38]
Các đònh nghóa trên đây tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng vẫn phản ánh được bản chất
và mục đích của hoạt động quản lí, do vậy có thể hiểu khái niệm quản lí như sau: Quản lí là sự tác
động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm
đạt tới mục đích đã đề ra. Sự tác động của quản lí phải bằng cách nào đó để người bò quản lí luôn
luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức
và cho xã hội.
Sơ đồ 1.1 quan hệ trong hệ thống quản lý

Chủ thể QL

Xác đònh

người
-Chức năng kiểm tra- đánh giá: Nhằm xác đònh hoạt động thực tế của đối tượng QL có phù
hợp hay không phù hợp với trạng thái đònh trước, trên cơ sở đó kòp thời điều chỉnh những lệch lạc,
thiếu sót. Muốn làm tốt chức năng này chủ thể QL cần thực hiện tốt các qui trình từ khâu xây dựng
tiêu chuẩn đo lường thực trạng đến đo lường thực tế hoạt động và xử lí các kết quả, qua đó mà điều
chỉnh hoạt động của tổ chức, đánh giá năng lực hoạt động của từng cá nhân.
Các chức năng quản lý trên lập thành chu trình quản lý, chủ thể quản lý khi triển khai hoạt
động của mình đều phải thực hiện chu trình này.


Sơ đồ 1.2. Chu trình quản lý
Chức
năng
kế
hoạch
hóa

Chức
năng tổ
chức

Chức
năng
chỉ đạo

Chức
năng
kiểm
tra


Khái niệm về QLGD, cho đến nay đã có nhiều đònh nghóa khác nhau, nhưng cơ bản đều
thống nhất với nhau về nội dung, bản chất.
“QLGD theo nghóa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm
đẩy mạnh công tác ĐT thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của XH” [11].
*Xét về khoa học thì QLGD là sự điều khiển toàn bộ những hoạt động của cả cộng đồng,
điều khiển quá trình dạy và học nhằm tạo ra những thế hệ có đức, có tài phục vụ sự phát triển của
xã hội.
* Xét về bản chất. QLGD là một hiện tượng xã hội được thể hiện các mặt:
-QLGD là một loại hình hoạt động, tuy chuyên biệt nhưng ảnh hưởng đến toàn xã hội, mọi
quyết đònh, thay đổi của GD đều có ảnh hưởng đến đời sống xã hội.
-Bản thân QLGD là hoạt động mang tính xã hội, đòi hỏi phải huy động nguồn nhân lực lớn.
-GD truyền đạt, lónh hội những giá trò kinh nghiệm lòch sử xã hội tích lũy qua các thế hệ. Xã
hội muốn tồn tại, phát triển thì phải phát triển GD-ĐT.
*Nội dung QLGD bao gồm một số vấn đề cơ bản: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược,
qui hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển GD, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm
pháp luật về GD, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn CSVC thiết bò trường học, tổ chức bộ máy
QLGD, tổ chức, chỉ đạo việc bồi dưỡng CBQL, giáo viên, huy động QL các nguồn lực…
Như vậy, “QLGD là tập hợp những biện pháp ( tổ chức, cán bộ, kế hoạch hóa…) nhằm đảm
bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống GD, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và
mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”.[21]


1.2.3. Quản lý trường học
Nhà trường nói chung, và nhà trường phổ thông nói riêng là đơn vò cơ sở của giáo dục, giữ một vò
trí rất quan trọng và quyết đònh chất lượng giáo dục; đó là việc đào tạo ra thế hệ trẻ có đủ phẩm
chất và năng lực đáp ứng cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN. Cải tiến, đổi mới
quản lý theo tinh thần nghò quyết Hội nghò lần thứ VI ( khoá V ) của Ban chấp hành Trung ương
Đảng trước hết là vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất quản lý của Trung ương, vừa mở rộng
quyền chủ động sáng tạo cuả các cơ sở.
Quản lý trong nhà trường theo GS.VS Phạm Minh Hạc "là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng

-Về quá trình nhận thức: Học sinh tiểu học tri giác mang tính chất đại thể, ít đi vào chi tiết
và mang tính chất không chủ động. Trí nhớ và cả ghi nhớ không chủ đònh và có chủ đònh đều đang
phát triển, cuối bậc tiểu học ghi nhớ có chủ đònh phát triển mạnh. Trí tưởng tượng của học sinh tiểu
học còn tản mạn, ít có tổ chức. Tư duy chuyển từ tính cụ thể trực quan sang tính trừu tượng, khái
quát…
- Về nhân cách: Tính cách của học sinh tiểu học dễ bò kích động bởi những kích thích bên
trong và bên ngoài do vậy trẻ dễ có hành vi bột phát trẻ có tính vò tha và sự hồn nhiên, tình cảm
của trẻ rất dễ xúc động, sống nhiều bằng tình cảm, tình cảm của trẻ mang tính cụ thể trực quan và
giàu cảm xúc, ý chí của trẻ chưa có khả năng đặc mục đích xa và khá phức tạp cho hành động của
mình, chưa kiên trì khắc phục khó khăn, khi gặp thất bại dễ mất niềm tin…
 Đặc điểm về môi trường
Do độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi là còn nhỏ và phần lớn cha mẹ của các em ở vùng nông thôn, họ
lo lắng cho con trẻ nên vô tình hình thành nên không gian sinh hoạt của các em hạn hẹp – được
giới hạn: Gia đình – thôn xóm – nhà trường. Điều này nói lên:
- Học sinh phụ thuộc và chòu ảnh hưởng rất lớn của gia đình về nhiều phương diện. Gia đình
và từng thành viên trong gia đình ảnh hưởng rất lớn về học tập, sinh hoạt giao tiếp… phần lớn các
em sinh hoạt vui chơi, học ở nhà gắn với gia đình
-Thôn xóm và bạn cùng lứa cũng tác động rất lớn đến các em về ý thức phấn đấu nhiều mặt
và văn hóa làng xã.


Với những đặc điểm trình bày trên chúng tôi thấy rằng cần phải tạo được sự phối hợp chặt
chẽ ba khâu GD Nhà trường – Gia đình – Xã hội. Đồng thời tạo được môi trường văn hóa lành
mạnh ở thôn xóm và xây dựng nền nếp, nuôi dưỡng hứng thú …gia đình có vò trí đặc biệt.
 Đặc điểm về tri thức:
-Nhiều nước trên thế giới chương trình tiểu học trải rộng nhằm GD toàn diện cho học sinh.
Tiếng mẹ đẻ rất được chú trọng trong chương trình ( Pháp 9 giờ / tuần; Nhật Bản 9 giờ / tuần cho
lớp một và lớp hai 8 giờ/ tuần cho lớp ba và lớp bốn…) Ngọai ngữ được đưa vào các lớp sau của bậc
tiểu học. Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, hướng dẫn học sinh đi
tìm kiến thức.

- Số lượng CBQL và các nhân viên khác ở một trường tiểu học.
* Nắm chắc nội dung các môn học ở tiểu học và kế hoạch dạy học.
Bậc tiểu học có 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5.
- Mỗi năm học có 35 tuần.
- Mỗi tuần có 5 buổi học.
- Mỗi buổi học kéo dài không quá 4 giờ (tức là 240 phút) và chia thành 5 tiết học trong đó
phải dạy đủ và coi trọng tất cả các môn học, mỗi tiết 35 phút. Giữa hai tiết học, học sinh nghỉ tại
chỗ 5 phút.
- Thực hiện chương trình GD, kế hoạch dạy học do Bộ trưởng BGD & ĐT quyết đònh ban
hành.
- Thực hiện thời gian học tập theo biên chế năm học do BGD &ĐT qui đònh cho mỗi năm
học.
- Dạy đủ 9 môn, dạy đúng chương trình, kế hoạch theo qui đònh của Bộ.
- Thực hiện việc dạy 2 buổi / ngày theo qui đònh của Bộ Giáo dục – Đào tạo.

Bảng 1.4: Thời lượng từng môn học một tuần ở bậc tiểu học Việt Nam.
Lớp học một buổi/ ngày
Môn học
Lớp 1 Lớp 2
Lớp 3
Lớp 4
Lớp 5
và họat động giáo dục
Tiếng việt
10
9
8
8
8



2

Khoa học

2

2

Lòch sử và đòa lý

2

2

Âm nhạc

1

1

1

1

1

Mó thuật

1


2

Chào cờ đầu tuần

1

1

1

1

1

Sinh họat lớp cuối tuần

1

1

1

1

1

22

23

- Là người trang bò kiến thức ban đầu, tuy không sâu, nhưng trải rộng, do vậy phải được
tiếp thu nhiều bộ môn khoa học cơ bản. Trong giai đoạn hiện nay, trên thực tế họ còn phải kiêm
dạy cả những môn mang tính năng khiếu như nhạc, họa, thể dục, hoạt động tập thể. Điều đó đòi
hỏi họ phải học tập, rèn luyện rất nhiều cả về lý thuyết và thực hành.
- Giáo viên tiểu học là người thầy đầu tiên trong cuộc đời của người học sinh, hình thành
nhân cách ban đầu cho những chủ nhân tương lai đất nước. Đây là giai đoạn hình thành nhân cách
nhanh và khắc dấu ấn sâu đậm của người học sinh từ GD của giáo viên, do vậy vai trò của họ rất
lớn lao trong hệ thống giáo dục phổ thông.
- Phương pháp giảng dạy có phát huy được trí lực học sinh hay không, có tạo cho học sinh
chủ động tìm tòi cái mới trong cuộc sống hay không cũng bắt đầu từ giáo viên tiểu học.
- Mối quan hệ với đòa phương, với cha mẹ học sinh khá chặt chẽ để phối hợp giáo dục, nên
người giáo viên tiểu học phải nhiệt tình, đặc biệt là năng lực giao tiếp, ứng xử trong các mối quan
hệ.
Qua những đặc điểm hoạt động của giáo viên tiểu học , rõ ràng người giáo viên tiểu học có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp kiến thức nền tảng và xây dựng nhân cách ban đầu,
thời kỳ phát triển nhanh của học sinh tiểu học. Vai trò của người giáo viên tiểu học phát huy bao
nhiêu thì chất lượng bậc học tốt hơn bấy nhiêu, tạo cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục ở các
bậc học sau.
Nhân loại trải qua thời kỳ hóa độ từ nền văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ. Trí
năng và tri thức của con người trở thành nguồn vốn chủ yếu của xã hội. Các quan niệm sư phạm
quen thuộc sẽ biến đổi. Song vai trò và vò trí của người giáo viên vẫn có ý nghóa quyết đònh chất
lượng – Cái cốt lõi của GD. Câu “tầm sư học đạo” vẫn đúng cho mọi thời đại. Thầy giáo phải giỏi
hơn, có năng lực cao hơn, có phương pháp tốt hơn khi thực hiện mục tiêu mới của GD, hiện nay đó
là thực hiện chương trình và sách giáo khoa mới.


Nghò quyết TW 2 ( khóa 8 ) đã khẳng đònh: “ Giáo viên là nhân tố quyết đònh chất lượng của
GD và được XH tôn vinh”. Raja Roy sinh là một học giả Ấn Độ nhận đònh: “ Không một hệ thống
giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó”.[ 35 ]
Trong thời đại mở cửa, hội nhập của nền kinh tế tri thức, thông tin… Vai trò của giáo viên có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status