HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ HÀ VÂN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
HÀ NỘI - 2019
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ HÀ VÂN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
Mã số: 62 31 02 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. ĐỖ NGỌC NINH
2. TS. NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN
HÀ NỘI - 2019
20
1.3. Kết quả và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ
27
Chương 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA - NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
29
2.1. Đảng Cộng sản Việt Nam và công tác bảo vệ môi trường ở nước ta
29
2.2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường nước ta khái niệm, nội dung và phương thức
60
Chương 3: CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG - THỰC TRẠNG,
NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
68
3.1. Thực trạng công tác bảo vệ môi trường ở nước ta
68
3.2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường - thực trạng,
152
PHỤ LỤC
166
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT
: Bảo vệ môi trường
CNH, HĐH
:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH
:
Chủ nghĩa xã hội
CTBVMT
: Công tác bảo vệ môi trường
HTCT
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những vấn đề sống còn của nhân
loại; là nhân tố rất quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo sức khỏe
của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế, xã hội; ổn định chính
trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Tại Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta khẳng định: “…bảo vệ môi trường vừa là
mục tiêu, vừa là một trong những nội dung của phát triển bền vững” [60, tr.141].
Nhận thức rõ tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống của con người, trong
tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, Đảng ta luôn coi
BVMT là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu song hành với nhiệm vụ phát triển, bền
vững kinh tế - xã hội ở nước ta.
Lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đã làm thay đổi diện mạo của đất
nước và đời sống của nhân dân trong giai đoạn hiện nay là tất yếu. Tuy nhiên, do
còn nhiều hạn chế trong lãnh đạo, quản lý về công tác bảo vệ môi trường
(CTBVMT) của Đảng, Nhà nước và các cấp ủy, chính quyền địa phương cùng với
ý thức trách nhiệm của người dân chưa cao nên ở nhiều địa phương môi trường
chưa được bảo vệ tốt. Ở khá nhiều nơi môi trường xuống cấp nhanh chóng, đáng
báo động, tác động xấu đến sự phát triển mọi mặt, nhất là kinh tế - xã hội. Ở một vài
nơi, ô nhiễm môi trường tiềm ẩn những yếu tố trở thành vấn đề chính trị. Từ thực
trạng đó, Đảng ta đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị về BVMT và lãnh đạo, chỉ đạo
thực hiện một cách quyết liệt. Cụ thể, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41NQ/TW ngày 15/11/2004 “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nghị quyết chỉ rõ: “Xây dựng nước ta trở
thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện
tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi
trường, sống thân thiện với thiên nhiên” [50, tr.3]. Nghị quyết Đại hội Đại XII của
Đảng tiếp tục khẳng định:
Những yếu kém trong CTBVMT chủ yếu từ những hạn chế, bất cập trong
lãnh đạo của Đảng đối với CTBVMT. Cụ thể là, Đảng còn lúng túng trong xác định
nội dung và phương thức lãnh đạo (PTLĐ) CTBVMT; chưa xác định rõ trọng tâm,
trọng điểm lãnh đạo trong từng khoảng thời gian nhất định; còn lúng túng trong
lãnh đạo Nhà nước về BVMT; sự phân công, phân cấp trách nhiệm của các cấp ủy
3
đảng về lãnh đạo CTBVMT có một số điểm chưa cụ thể, rõ ràng; công tác tư tưởng
đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân về CTBVMT còn hạn chế, hiệu quả chưa
cao. Sự lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng trong xác minh và xử lý tập thể, cá
nhân vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường có lúc chưa kịp thời, quyết
liệt và nghiêm minh; việc lãnh đạo hợp tác quốc tế về BVMT còn nhiều hạn chế,
hiệu quả thấp… Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, tìm giải pháp khả thi
phát huy ưu điểm, khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên; tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với CTBVMT giai đoạn hiện nay thực sự là vấn đề rất cấp thiết.
Để góp phần giải quyết vấn đề cấp thiết nêu trên, nghiên cứu sinh chọn và
thực hiện đề tài luận án tiến sỹ “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công tác bảo
vệ môi trường giai đoạn hiện nay”.
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo CTBVMT, luận án đề xuất giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với CTBVMT đến năm 2030.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, chỉ ra kết quả
đạt được và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ.
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo CTBVMT trong giai đoạn hiện nay;
- Khảo sát, đánh giá thực trạng CTBVMT và thực trạng Đảng lãnh đạo
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và các
phương pháp: logíc kết hợp với phương pháp lịch sử; phân tích kết hợp với tổng
hợp; thống kê, so sánh; điều tra xã hội học; coi trọng phương pháp khảo sát, tổng
kết thực tiễn.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Khái niệm: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo CTBVMT là toàn bộ
hoạt động của Đảng, như: xây dựng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị về BVMT;
quán triệt, tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát việc thực hiện của các tổ chức
đảng và đảng viên, các tổ chức trong hệ thống chính trị (HTCT), tổ chức xã hội,
tổ chức kinh tế và nhân dân theo quy định làm cho môi trường trong lành, cân
bằng, bền vững.
5
- Hai kinh nghiệm về Đảng lãnh đạo CTBVMT từ năm 2004 đến nay. Một
là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc huy động và phát huy sức mạnh
tổng hợp của HTCT, các tổ chức, và toàn dân, mọi nguồn lực trong và ngoài nước
để BVMT. Hai là, Đảng đặc biệt coi trọng lãnh đạo việc xử lý kịp thời, nghiêm
minh những tổ chức và cá nhân vi phạm Luật BVMT.
- Hai giải pháp đột phá tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
CTBVMT đến năm 2030: thứ nhất, xây dựng Nhà nước và chính quyền các cấp
vững mạnh, bảo đảm thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về BVMT. Thứ
hai, xây dựng và phát huy vai trò của các tổ chức cơ sở đảng, cán bộ, đảng viên,
nhất là các đảng bộ xã, phường, thị trấn thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận
động, tổ chức nhân dân BVMT.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Đảng Cộng
sản Việt Nam lãnh đạo CTBVMT nước ta giai đoạn hiện nay.
Luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng nghiên cứu
xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo CTBVMT trong những năm tới.
con người” [99]. Tác giả nhận định: con người và xã hội loài người là bộ phận đặc
biệt của tự nhiên, cho nên trước khi biến đổi được tự nhiên con người cần phải thích
nghi được với nó; nhưng trong thực tế, con người hầu như không quan tâm tới mối
liên hệ biến đổi và thích nghi, bất chấp quy luật tự nhiên, bất chấp sự giới hạn của
giới tự nhiên và môi trường. Theo tác giả, chính sự khai thác tài nguyên quá mức
của con người đã làm suy thoái môi trường; phá vỡ tính đa dạng sinh học; hủy hoại
các hệ sinh thái.
Tác giả khẳng định, để phát triển bền vững mối quan hệ thích nghi và biến
đổi môi trường tự nhiên, cần có những giải pháp đồng bộ; như, giữ tỷ lệ tăng dân số
một cách hợp lý; trong sự tăng trưởng kinh tế cần có sự cân nhắc giữa chi phí và lợi
ích, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; nhanh chóng áp dụng thành tựu của
khoa học công nghệ mới vào khai thác tài nguyên và xử lý chất thải; đẩy mạnh giáo
dục nhận thức về môi trường sống.
7
- Nguyễn Minh Hằng, “Môi trường sinh thái - vấn đề của mọi người” [72]
Tác giả khẳng định, môi trường suy thoái (MTST) là một mạng lưới chỉnh
thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống
trong phạm vi toàn cầu. Vì vậy, chỉ cần rối loạn, bất ổn định ở một khâu nào đó
trong hệ thống sẽ gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng. Trong quá trình sinh sống,
con người là chủ thể bồi đắp cho thiên nhiên; nhưng cũng vì lợi ích và nhu cầu của
cuộc sống, đã khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên (TNTN) làm suy thoái
MTST, dần dần con người trở nên đối lập với thiên nhiên. Suy thoái môi trường
làm cho trái đất nóng lên do “hiệu ứng nhà kính”; ô nhiễm nguồn nước ngày càng
nghiêm trọng; tầng ôzon suy thoái tác động mạnh đến mọi sinh vật trên trái đất, làm
giảm khả năng miễn dịch của con người, gia tăng bệnh tật.
Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm, trong cuốn sách “Môi trường sinh thái - vấn
đề và giải pháp” [161].
Tác giả khẳng định: mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên là mối
trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay” [97].
Dưới góc độ triết học, tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa
tăng trưởng kinh tế với BVMT sinh thái và khẳng định: tăng trưởng kinh tế tác
động tới bảo vệ MTST thông qua yếu tố người lao động, tài nguyên thiên nhiên,
khoa học và công nghệ - là những yếu tố cơ bản quyết định tới sự tăng trưởng của
nền kinh tế và ảnh hưởng tới quá trình bảo vệ MTST. Ngược lại, MTST giữ vai trò
tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự hình thành, phát triển của con người cũng như
nền sản xuất vật chất của xã hội; nó cung cấp những điều kiện vật chất - tức là
nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn để con người sản xuất ra của cải, duy trì sự sinh
tồn và phát triển. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ MTST là hai nhiệm
vụ quan trọng xuyên suốt, luôn đồng hành với nhau trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội.
Tuy nhiên, trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, nước ta đang đối mặt
với nhiều thách thức, hàng loạt mâu thuẫn nẩy sinh giữa tăng trưởng kinh tế và bảo
vệ MTST đòi hỏi phải nhận thức, tìm cách giải quyết để đưa đất nước phát triển
ngày càng bền vững.
- Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Thị Hoàng Yến, “Bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững ở Việt Nam” [162].
Các nhà khoa học nhận định, muốn phát triển bền vững phải tính đến yếu tố
môi trường. Môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội có quan hệ chặt chẽ, khăng khít,
tác động qua lại lẫn nhau. Chính trong quá trình sản xuất, con người do thiếu ý thức,
thiếu hiểu biết, tận khai thác đã và đang tác động tiêu cực đến môi trường; hủy hoại
những giá trị của môi trường. Các tác giả đã đánh giá cụ thể về hiện trạng của ô
9
nhiễm môi trường; như, mức độ ô nhiễm ở hạ lưu các con sông ngày càng tăng,
chất lượng đất và diện tích đất canh tác bị thu hẹp, ô nhiễm không khí, tiếng ồn giao
thông… sẽ gây ra nhiều hậu quả xấu cho đời sống, sức khỏe con người, cho sự phát
triển kinh tế - xã hội; hậu quả đó không phải chỉ một quốc gia phải gánh chịu và còn
10
thi duy nhất để tăng trưởng kinh tế lâu bền là cân bằng các nguồn lực kinh tế, sinh
thái, con người.
Trên cơ sở đánh giá những thuận lợi và chỉ rõ những hậu quả về mặt môi
trường của các chính sách kinh tế tự do hóa thương mại gây ra; tác giả cho rằng,
quy mô hoạt động thương mại tăng, sẽ dẫn đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, và ô nhiễm MTST cũng tăng theo; các hoạt động tự do hóa thương mại
như nhập hàng hóa kém chất lượng, rác thải công nghiệp, xuất khẩu gỗ, thủy hải
sản… để lại nhiều hậu quả về MTST; tự do hóa thương mại dẫn tới tăng trưởng
kinh tế cao hơn, nhu cầu sử dụng tài nguyên cho các ngành công nghiệp gia tăng,
việc khai thác TNTN sẽ dẫn đến tình trạng MTST ô nhiễm ngày càng nặng nề hơn.
Tác giả rút ra kết luận: sự phát triển tự do thương mại trong điều kiện kinh tế
thị trường ở nước ta ảnh hưởng rõ rệt tới MTST, nhưng tự do hóa thương mại có vai
trò thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững; vì vậy, cần phải có biện pháp để BVMT
sinh thái trong điều kiện tự do hóa thương mại ở nước ta.
- Nguyễn Đình Hòa, “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
ở nước ta hiện nay - khía cạnh môi trường sống” [81].
Tác giả khẳng định, ở nước ta các vấn đề về môi trường sống nảy sinh trong
quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay đang trở nên hết sức phức
tạp, tạo nên sức ép to lớn đối với môi trường sống khu vực này, nếu không được
giải quyết kịp thời sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng, cản trở quá trình phát triển.
Nguy cơ cạn kiệt một số nguồn tài TNTN do các hoạt động sản xuất và dân sinh,
vấn đề ô nhiễm môi trường do tác động của quá trình CNH, HĐH; nguy cơ giảm đa
dạng sinh học chủ yếu do các hoạt động sản xuất và dân sinh; các khu công nghiệp,
cụm công nghiệp được triển khai tại nhiều địa phương góp phần gây ô nhiễm… là
vấn đề cấp bách hiện nay cần có những giải pháp căn cơ để khắc phục.
- Nguyễn Thị Nga, “Vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam hiện nay” [121].
Tác giả phân tích những đặc điểm của môi trường tự nhiên ở nước ta; chỉ rõ
nội dung cơ bản của công tác BVMT trong tiến trình CNH, HĐH ở nước ta trong
công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường được đẩy mạnh. Tuy nhiên,
MTST nước ta cũng đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức như biến đổi
khí hậu, nước biển dâng, triều cường, xâm nhập mặn, ô nhiễm môi trường gia tăng.
Tác giả nhấn mạnh, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và đẩy mạnh
công tác bảo vệ tài nguyên môi trường là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn; là nhiệm
vụ của cả HTCT; là cơ sở tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển
kinh tế, xã hội; là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là trách
12
nhiệm của mỗi tổ chức cá nhân và cộng đồng, trong đó nhà nước giữ vai trò chủ đạo
dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia giám sát của toàn xã hội.
- Trần Đắc Hiến, “Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay - thực trạng và
một số giải pháp khắc phục” [75].
Tác giả cho rằng, trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, việc
phát triển kinh tế gắn với môi trường chưa chú trọng đúng mức, dẫn đến ô nhiễm
môi trường ở Việt Nam ngày càng nghiêm trọng, nóng bỏng và là vấn đề gây bức
xúc trong dư luận xã hội. Theo tác giả, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng
nghiêm trọng là do bất cập của cơ chế, chính sách; quyền hạn pháp lý của các cơ
quan BVMT chưa đủ mạnh; chính quyền chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng
của CTBVMT. Giải quyết được tình trạng này, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống
pháp luật về BVMT, trong đó các chế tài xử phạt phải đủ sức răn đe; tăng cường
công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường; chú trọng công tác quy hoạch khu
công nghiệp, cụm công nghiệp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo
dục nhân dân nâng cao ý thức trách nhiệm BVMT.
- Trần Thị Thu Hường, “Tăng cường hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường” [90].
Trên cơ sở nghiên cứu Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, tác giả chỉ rõ tám
nhóm hành vi vi phạm chính về quy định BVMT gồm: hành vi vi phạm về kế hoạch
BVMT, đánh giá tác động môi trường; hành vi gây ô nhiễm môi trường; hành vi vi
Tác giả đánh giá kết quả đạt được khi người dân tham gia BVMT trong thời
gian qua như: xu hướng người dân tham gia trực tiếp vào CTBVMT ở địa bàn cơ
sở ngày càng tăng; việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã từng
bước cụ thể hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trên
nhiều lĩnh vực, tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng
nông thôn mới, trong đó có BVMT. Tuy nhiên, theo tác giả, ở nhiều nơi người dân
chưa biết được việc xử lý, BVMT trên địa bàn của mình như thế nào nên cũng
không thể bàn và kiểm tra, do các khu công nghiệp, khu chế xuất và các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được bao bọc, khép kín và người dân bất khả
xâm phạm. Tác giả nhận định, trách nhiệm trước hết là do người đứng đầu cấp ủy,
chính quyền địa phương và các cơ quan tham mưu, thẩm định dự án về môi
trường; các tổ chức đoàn thể chưa đủ chuyên môn về môi trường để giám sát và
phản biện. Tác giả cho rằng, để thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra” trong công tác BVMT cần phải có các quy chế, quy định
mang tính pháp quy; phát huy hơn nữa thế mạnh của các phương tiện thông tin đại
14
chúng; việc công khai phê bình các tổ chức, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp về vi
phạm BVMT trên báo chí cần phải được tái lập, đây là những giải pháp thiết thực
để nhân dân tham gia công tác BVMT.
- Bùi Cách Tuyến, “Giám sát xã hội và bảo vệ môi trường ở Việt Nam” [164].
Tác giả đã nhận định: để nâng cao hiệu quả của CTBVMT thì một trong
những biện pháp cần được thực hiện thường xuyên đó là làm tốt chức năng giám sát
xã hội đối với hoạt động này. Tác giả xác định rõ, chủ thể của giám sát xã hội là
MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, cá nhân, công dân
hoặc cộng đồng dân cư, các cơ quan truyền thông đại chúng. Đối tượng chịu sự
giám sát xã hội là cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân hoạt động sản xuất kinh
doanh, họ có nghĩa vụ chấp hành Luật BVMT.
Theo tác giả, thời gian qua, hoạt động giám sát xã hội về BVMT ở Việt Nam
cụ thể như, so sánh về mô hình tổ chức và hoạt động của chính phủ trong quản lý
nhà nước về môi trường, thông qua nghiên cứu điển hình và phân tích chuyên sâu
về các mô hình tổ chức này tại Hàn Quốc và Việt Nam trong mỗi giai đoạn phát
triển kinh tế, xã hội khác nhau. Từ đó, tác giả khẳng định những kinh nghiệm của
Hàn Quốc trong BVMT mà Việt Nam cần ưu tiên vận dụng đó là: cần quyết liệt và
nhanh chóng triển khai các chính sách phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong tất cả
các ngành kinh tế; tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đặc biệt là công tác kiểm
tra, giám sát, kiềm chế ô nhiễm môi trường thông qua một đầu mối để tránh sự
chồng chéo, trùng lắp và tiết kiệm ngân sách; cải cách mạnh mẽ chính sách phí và
thuế môi trường.
Trần Thị Duyên, “Các giải pháp, chính sách của Đài Loan đối với các vấn
đề môi trường” [41].
Tác giả phân tích và chỉ rõ, kế hoạch BVMT mang tính tổng thể đã được
chính quyền Đài Loan đặc biệt lưu tâm từ năm 1990. Luật BVMT ở Đài Loan
không chỉ tiến bộ về mặt tinh thần mà còn phối hợp với cơ chế kiểm soát môi
trường hiện đại để hạn chế những tác động xấu của các vấn đề môi trường đặt ra.
Bài viết đã phân tích cụ thể các chính sách của chính phủ Đài Loan đối với việc
BVMT không khí và tầng ozone; chính sách BVMT nước, kiểm soát tiếng ồn;
chính sách, biện pháp để giảm thiểu và tái chế rác thải... Tác giả nhấn mạnh, vấn
đề môi trường là vấn đề manh tính toàn cầu; vì vậy, để giải quyết triệt để vấn đề
này, không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của riêng Đài Loan, mà cần có sự hợp tác của tất
cả các nước trên thế giới để vừa phát triển kinh tế, vừa đảm bảo giữ vững môi
trường sinh thái.
16
- Phạm Thị Xuân Mai, “Đối sách của Trung Quốc trước các vấn đề môi
trường” [114].
Tác giả nhận định, Trung Quốc hiện đang trong giai đoạn phát triển nhanh
chóng của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Đây cũng là giai đoạn mâu
17
BVMT cần phải dự báo và kiểm soát ảnh hưởng tiềm tàng của phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội đang diễn ra nhanh và tất
yếu hiện nay.
1.1.2. Công trình khoa học ở nước ngoài
- Hilary French, “After the Earth Summit: the Future of Environmental
Governance”, “Tương lai của công tác quản lý nhà nước về môi trường sau Hội
nghị thượng đỉnh trái đất” [175].
Cuốn sách đã tổng hợp tiến trình phát triển quản lý nhà nước về BVMT trên
thế giới. Từ việc khẳng định vai trò quản lý nhà nước đối với CTBVMT, tác giả
nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và công tác
quản lý nhà nước về môi trường để giải quyết các vấn đề về môi trường do đặc tính
“xuyên biên giới” và quy mô toàn cầu của vấn đề này. Đặc biệt, tác giả chỉ rõ
những thành tựu và khó khăn, thách thức đặt ra đối với CTBVMT trong bối cảnh
toàn cầu hóa và vấn đề biến đổi môi trường theo chiều hướng xấu diễn ra mạnh mẽ
khắp toàn cầu. Trên cơ sở đó, cuốn sách đã đưa ra một số kết luận quan trọng, cần
tham khảo cho CTBVMT của các quốc gia; cụ thể, thể chế hóa hoạt động BVMT,
đưa quy định trách nhiệm BVMT vào Hiến pháp để nâng cao hiệu quả của công tác
này; nỗ lực của toàn cầu và khu vực nhằm giải quyết hiệu quả những khó khăn,
thách thức về nguồn lực tài chính cho hoạt động BVMT; không lạm dụng các
nguồn tài nguyên và đòi hỏi quá mức về môi trường sẽ làm cho nền kinh tế thế giới
bị hạn chế. Tác giả cho rằng, bên cạnh nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi
trường, cần tập trung cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nghèo là biện pháp
quan trọng để BVMT, tránh cho môi trường bị hủy hoại, xuống cấp.
- Tác giả Helige Jorgens, Helmut Weidner, với cuốn sách“Capacity building
in national Environmental policy comparative Study of 17 countries”, (Tăng cường
năng lực về chính sách môi trường - nghiên cứu so sánh 17 quốc gia) [170].
Đây là công trình của của tập thể tác giả nhằm phân tích, đánh giá, tổng kết,
rút ra những bài học kinh nghiệm trong quản lý môi trường nhiều quốc gia và đưa
ra các mô hình quản lý tối ưu cho công tác quản lý môi trường phù hợp cho các
quốc gia đang phát triển.
cải thiện được cuộc sống của con người; bảo vệ và phục hồi môi trường và hệ sinh
thái là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững, giảm bớt những khó khăn trong
cuộc sống của con người.
Tác giả Mohamed Labir Bouquerra với cuốn “La Polution in visible” (Nạn ô
nhiễm vô hình) [173].
Theo tác giả, trái đất đang ngày càng bị ô nhiễm nặng nề. Tác nhân gây nên
tình trạng ô nhiễm này là do hóa chất, vì hiện nay có tới trên 4 triệu hóa chất
19
thường xuyên luân chuyển quanh ta, chúng gây ra tác hại cho sức khỏe, sự sống
của con người và môi trường. Tác giả đã nghiên cứu thực trạng tác hại của ô
nhiễm môi trường ở các nước như Mỹ, Anh, Pháp, Ấn Độ và khẳng định, ô nhiễm
từ các loại hóa chất đang gây ra nhiều căn bệnh cho con người, gây ra gánh nặng
về kinh tế. Tác giả khẳng định, sự cần thiết và cấp bách trong cuộc đấu tranh
BVMT vì sự sống trên hành tinh của chúng ta; trong đó, việc hạn chế sử dụng hóa
chất và cấm sử dụng hóa chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe con người là biện
pháp cần thực hiện.
Cuốn “Umweltver Waltung” (Quản lý môi trường) của ManFRedSchReiner [172].
Theo tác giả, môi trường tự nhiên là đầu vào của hệ thống kinh tế và cũng là
nơi tiếp nhận chất thải; nguồn tài nguyên cũng như khả năng tiếp nhận của chất thải
của môi trường tự nhiên là có hạn. Vì vậy, khi tài nguyên suy giảm, môi trường bị
quá tải thì môi trường sẽ đòi hỏi cải thiện và đề bù. Tác giả cho rằng, nguyên nhân
dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay là do quan niệm về giá trị cuộc
sống. Đã có thời kỳ các nước phương Tây đưa ra phương châm hành động bị phê
phán “tổng sản phẩm xã hội và sự tăng trưởng của nó”, đây là nguyên nhân chính
gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường. Ngày nay, đã có sự thay đổi trong quan niệm
giá trị; thước đo tiêu chuẩn cuộc sống từ chỗ được đo bằng đại lượng tổng sản phẩm
xã hội thì ngày nay được thay bằng đại lượng “chất lượng cuộc sống”.
Tác giả Beria Leimona, Meine Van Noordwijk với cuốn sách“Payment for
HĐH nông nghiệp, nông thôn; những giải pháp cần thực hiện để tăng cường năng
lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn những năm tới.
- Trần Đình Nghiêm, “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” [123].
Cuốn sách tập trung luận bàn và giải quyết một số vấn đề về lý luận và
thực tiễn về PTLĐ; mối quan hệ giữa nội dung lãnh đạo và PTLĐ; sự cần thiết
đổi mới PTLĐ của Đảng đối với HTCT và các lĩnh vực đời sống của xã hội. Từ
thực trạng của PTLĐ, nguyên nhân ưu điểm và hạn chế, cuốn sách xác định các
giải pháp đổi mới PTLĐ của Đảng đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội.
Những nội dung này có giá trị tham khảo làm sáng tỏ nội dung lãnh đạo và
PTLĐ của Đảng đối với CTBVMT.
- Lê Văn Lý, “Sự lãnh đạo của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu của
đời sống xã hội nước ta” [111].
Cuốn sách đã chỉ ra và phân tích làm rõ những căn cứ chủ yếu để xác định
nội dung, PTLĐ của Đảng trong một số lĩnh vực trọng yếu; chức năng, nhiệm vụ, vị
trí, vai trò, đặc điểm của đảng cầm quyền; xác định nội dung, PTLĐ của Đảng đối