Luận văn Thạc sĩ Khoa học: Nghiên cứu xây dựng quy trình phát hiện nhanh virus cúm gia cầm A/H5N1 trong mẫu bệnh phẩm bằng kỹ thuật Multiplex Reverse Transcription Polymerase Chain Reaction - Pdf 59

MỞ ĐẦU
Trong những năm gần  đây, dịch cúm gia cầm do virus A/H5N1 là vấn  đề 
quan tâm đối với cả thế giới, đặc biệt là đối với các nước châu Á như Việt Nam, 
Indonesia,   Thái   Lan,   Trung   Quốc...   Kể  từ   cuối   năm  2003  đến   nay,   dịch   cúm 
A/H5N1 đã gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm và gây tử vong cho 
hàng trăm người. Cả  thế  giới  đang lo sợ  trước nguy cơ  có thể  xảy ra một  đại 
dịch cúm trên người do virus A/H5N1 giống như các vụ đại dịch cúm đã xảy ra 
trong thế kỷ 20. Các nước trên thế giới đã tiêu tốn hàng tỷ đô la cho việc chuẩn 
bị chống lại một đại dịch cúm H5N1 có thể xảy ra trong tương lai như mua thuốc 
và các thiết bị y tế, nghiên cứu sản xuất vaccine, thực hành các phương án phòng 
chống dịch,  thực  hiện  các  chiến  lược  nhằm  kiểm soát  chặt chẽ  đường biên 
giới... 
Ở Việt Nam, kể từ năm 2003 đến nay, dịch cúm gia cầm liên tục xảy ra ở 
hầu hết các tỉnh thành trên toàn quốc. Mỗi năm có hàng triệu gia cầm bị chết và 
tiêu hủy. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam đang đứng thứ 2 
trên thế giới (sau Indonesia) về số người nhiễm và tử vong do virus A/H5N1.
Virus cúm A/H5N1 là virus có khả năng biến đổi gen nhanh chóng và hình 
thành nên các chủng virus mới nên việc sử  dụng vaccine  để  dự  phòng thường 
không đạt được hiệu quả cao. Ở Việt Nam hiện nay, dịch cúm A/H5N1 vẫn liên 
tục xảy ra trên gia cầm và người, mặc dù mức  độ  không trầm trọng như  giai 
đoạn trước đây nhưng nếu không được phát hiện và có các biện pháp dập dịch 
kịp thời thì dịch có thể trở nên bùng phát. 
Khi có dịch cúm gia cầm, một phương pháp chẩn đoán nhanh, nhạy và chính  
xác là cần thiết cho việc điều trị, kiểm soát và ngăn chặn kịp thời tránh lây lan 
rộng ra cộng đồng. Để phát hiện virus cúm A/H5N1 trong các mẫu bệnh phẩm ở 
người và gia cầm, hiện nay hầu hết các phòng xét nghiệm đều áp dụng kỹ thuật 
RT­PCR (Reverse Transcription ­ Polymerase Chain Reaction).  Đây là kỹ  thuật 

1



1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ VIRUS CÚM A/H5N1
1.1.1. Phân loại học và danh pháp 
1.1.1.1. Phân loại virus cúm
Theo ủy ban Quốc tế về phân loại virus (ICTV ­ International Committee on 
Taxonomy of Viruses), virus cúm thuộc nhóm V, họ  Orthormyxoviridae, gồm 3 
type là A, B và C. Chúng là các virus có vật liệu di truyền là RNA sợi đơn âm 
[32]. 
Sự phân biệt virus cúm A, B và C dựa trên sự khác nhau về  đặc tính kháng 
nguyên của nucleoprotein (NP) và protein nền M1 (matrix protein). Ngoài ra, hệ 
gen của virus cúm A và B  đều có 8 đoạn RNA còn virus cúm C chỉ  có 7 đoạn 
RNA [36].
Trong 3 type thì type A là virus có giới hạn vật chủ rất rộng, lưu hành phổ 
biến trên gia cầm và một số động vật có vú như lợn, ngựa, chó, mèo, hải cẩu,…  
và cả  con người [32]. Virus cúm A là loại có độc lực mạnh nhất, có khả  năng 
biến đổi gen rất lớn và nguyên nhân chủ  yếu gây ra các vụ đại dịch cúm trong 
thế kỷ qua. Dựa vào sự khác biệt về  đặc tính kháng nguyên của hai glycoprotein 
là haemagglutinin (HA) và neuraminidase (NA), virus cúm A còn được chia thành 
16   subtype   HA   (H1­H16)   và   9   subtype   NA   (N1­N9).   Sự   tái   tổ   hợp   giữa   các 
subtype HA và NA, về mặt lý thuyết sẽ  tạo ra nhiều subtype khác nhau về  độc 
tính và khả năng gây bệnh [2]. Tất cả các subtype HA và NA đều hiện diện trên 

3


các chủng virus lưu hành ở các loài thủy cầm hoang dã. Tuy nhiên, chỉ có một số 
subtype nhất  định thường xuyên lưu hành trên người như  H1N1, H1N2, H2N2, 
H3N2 [11]. Cúm A/H5N1 là một subtype có khả  năng gây nhiễm cao của virus 
cúm. Các chủng của virus cúm gia cầm có thể  xâm nhiễm vào nhiều loại động 
vật khác nhau như chim, lợn, ngựa, hải cẩu, cá voi và con người.
Virus cúm B và virus cúm C lưu hành chủ yếu trên người và chỉ gây ra các 

nhau, mỗi clade còn có thể phân thành các subclade (phân dòng) [5, 46]. Hiện tại 
chỉ có các virus thuộc clade 0, 1, 2 và 7 là lây nhiễm cho người. Clade 2 gồm một 
số subclade khác nhau vẫn đang lưu hành và tiếp tục hình thành các subclade mới 
[5]. Kể từ 2008, các clade A/H5N1 hiện đang lưu hành và gây bệnh ở người gồm 
có clade 2.3.2 (Trung Quốc), 2.3.4 (Trung Quốc và Việt Nam) 2.2 (Ai Cập), 2.1 
(Indonesia), 1 (Campuchia) và 7 (Trung Quốc) [51].
1.1.1.3. Danh pháp virus cúm
Tổ  chức Y tế  thế giới (WHO) đã quy định thống nhất danh pháp c ủa virus 
cúm theo thứ tự kí hiệu: type virus (A, B hoặc C), vật chủ (có thể bỏ qua nếu vật 
chủ là người), địa điểm phân lập virus, mã số chủng virus và năm phân lập. Nếu 
là virus cúm A thì phải thêm kí hiệu của kháng nguyên HA và kháng nguyên NA 
đặt trong dấu ngoặc đơn.
Ví dụ: A/Hong Kong/156/1997 (H5N1) là chủng virus cúm A ở người, phân 
lập ở Hong Kong, mã số chủng là 156, phân lập năm 1997, có kháng nguyên HA 
là H5 và kháng nguyên NA là N1.
A/Chicken/Vietnam/G62/2005 (H5N1) là chủng virus cúm A phân lập ở  gà 
tại Việt Nam năm 2005, mã số chủng là G62, kháng nguyên HA là H5 và kháng 
nguyên NA là N1.
1.1.2. Hình thái và cấu trúc virus cúm A/H5N1
Virus cum H5N1 la môt subtype cua virus cum A, thuôc ho 
́
̀ ̣
̉
́
̣
̣ Orthomyxoviridea. 
Virus cúm A/H5N1 mang cac đăc điêm cua virus cum A (hình 1.1).
́ ̣
̉
̉

1.1.3. Hệ gen và các protein của virus A/H5N1

6


H5N1 có hệ gen là RNA sợi đơn âm bao gồm 8 phân đoạn gen mang tên từ 
1­8 với kích thước phân tử giảm dần hoặc gọi theo tên protein mà chúng mã hóa 
tổng hợp là PB2, PB1, PB1­F2, PA, HA, NP, NA, M (M1 và M2) và NS (NS1 và 
NEP) (hình 1.2).

Hình 1.2. Các phân đoạn gen và các protein của virus cúm A/H5N1
Đặc điểm các phân đoạn gen của virus cúm A/H5N1 như sau:
Các phân đoạn mã hóa cho các kháng nguyên bề mặt của virus (đặc trưng  
theo từng chủng virus):
­ Phân đoạn 4 (gen HA): Có kích thước khoảng 1704­1707 bases, mang gen 
mã hóa tổng hợp protein HA, là một kháng nguyên bề mặt của virus cúm có bản 
chất là glycoprotein. Kháng nguyên này có vai trò trong việc giúp cho virus gắn 
với tế bào vật chủ và vận chuyển vật liệu di truyền của nó vào bên trong tế bào 
vật chủ. Quá trình này có thể bị chặn lại nếu có các kháng thể đặc hiệu gắn kết 
với các kháng nguyên trên bề mặt của virus. Protein HA còn là kháng nguyên bề 
mặt quan trọng của virus cúm A, kích thích cơ thể sinh ra đáp ứng miễn dịch dịch  
thể đặc hiệu với từng subtype HA, và tham gia vào phản ứng trung hòa virus. HA  
là protein vừa quyết định tính kháng nguyên, vừa quyết định độc lực của virus, là  
đích của bảo vệ  miễn dịch nhằm ngăn chặn sự  xâm nhiễm của virus  ở  cơ  thể 
nhiễm, là cơ  sở  điều chế  các vaccine phòng cúm hiện   nay.  Một  đặc  điểm di 

7


truyền để phân biệt giữa virus cúm gia cầm và virus cúm người là: virus cúm gia 

polymerase của virus, chịu trách nhiệm khởi đầu phiên mã RNA virus [2]. Nghiên 
cứu thấy rằng, trên PB2 tất cả  các virus cúm gia cầm đều có axit amin  ở  vị  trí 
627 là glutamine, còn PB2 ở các chủng A/H5N1 phân lập từ người mang đột biến  
chứa axit amin lysine  ở vị trí 627. Sự  có mặt của lysine  ở vị  trí 627 của PB2 s ẽ 
tạo thuận lợi cho virus phát triển ở cả đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới 
của động vật có vú, là nguyên nhân làm cho A/H5N1 có độc lực cao [29].
­ Phân đoạn 2 (gen PB1) có kích thước khoảng 2431 bases, mang gen mã hóa 
tổng   hợp   protein   PB1   và   PB1­F2.   PB1   là   tiểu   đơn   vị   xúc   tác   của   phức   hợp 
enyzme polymerase, chịu trách nhiệm gắn mũ RNA [5]. PB1­F2 liên quan đến độc 
lực của virus và có thể  có vai trò quan trọng trong việc xác  định mức  độ  nguy 
hiểm của dịch cúm [43]. Khi so sánh các chủng virus trong vụ dịch ở Hong Kong 
năm 1997, người ta nhận thấy sự biến đổi axit amin asparagine ở vị trí 66 thành 
serine (N66S) trên PB1­F2 liên quan đến độc lực của virus. Sự thay đổi axit amin 
N66S cũng được phát hiện trên PB1­F2 của virus cúm gây ra đại dịch cúm năm 
1918 [17]. 
­ Phân đoạn 3 (gen PA) có kích thước khoảng 2233 bases, là phân đoạn gen 
bảo   tồn   cao,   mã   hóa   tổng   hợp   protein   PA,   là   một   tiểu   đơn   vị   của   enzyme  
polymerase chịu trách nhiệm kéo dài RNA trong quá trình tổng hợp RNA của  
virus [40].
Các phân đoạn mã hóa các protein chức năng khác của virus, chúng có kích 
thước tương đối ổn định giữa các chủng virus cúm A, gồm:
­ Phân đoạn 5 (gen NP) có kích thước khoảng 1556 bases, mã hóa tổng hợp 
nucleoprotein (NP), chịu trách nhiệm vận chuyển RNA giữa nhân và bào tương tế 
bào chủ. NP có đặc tính kháng nguyên biểu hiện theo nhóm virus, tồn tại trong 
các hạt virus ở dạng kết hợp với mỗi phân đoạn RNA.
­ Phân đoạn 7 (gen M): có kích thước khoảng 1027 bases, mang gen mã hóa 
tổng hợp protein nền M1 và M2 của virus. Các protein này kết hợp với 2 kháng 

9


́ ợp RNP được vân chuyên vao nhân tê bao đ
̣
̉
̀
́ ̀ ể tổng hợp sợi 
dương RNA. Sợi dương RNA được làm khuôn để  sao mã tạo mRNA và tái bản 
sợi âm RNA của virus. mRNA được đưa ra tế  bào chất để  tổng hợp protein của  
virus. Quá trình tổng hợp protein và tái bản hệ gen của virus là quá trình phức tạp  
được điều hoà bởi nhiều yếu tố của virus cũng như của tế bào. Các protein PB1,  
PB2, PA và NP của virus sau khi được tổng hợp sẽ được đưa vào nhân tế bào và 
kết hợp với RNA virus hình thành các phức hợp RNP và phức hợp được đưa ra  
tế bào chất. Các protein khác (HA, NA và M2) được glycosyl hoá nhờ mạng lười  
nội sinh chất và phức hệ  golgi của tế  bào. Sau khi hoàn thiện, các protein này 
được đưa đến màng tế  bào gắn vào lớp lipid kép và khi mật độ  đủ  lớn thì các  
phức hợp RNP và protein M1 cũng tập hợp lại trên màng để hình thành hạt virus  
thế hệ con gắn trên bề mặt tế bào nhờ liên kết giữa HA với nhóm sialic acid của 
glycoprotein màng tế  bào. Các hạt virus sau đó giải phóng khỏi màng nhờ  tác  
dụng cắt nhóm sialic acid của enzyme neuraminidase. 
Thời gian từ  khi virus xâm nhiễm tế  bào  đến khi hình thành thế  hệ  virus con 
trung bình khoảng 6 giờ. Sự  giải phóng các hạt virus mới không phá tan tế  bào  
nhiễm, nhưng các tế  bào này bị  rối loạn hệ  thống tổng hợp các đại phân tử  và 
rơi vào quá trình chết theo chương trình (apoptosis) làm tổn thương mô của cơ 
thể vật chủ [48].
1.1.5. Hiện tượng biến đổi kháng nguyên của virus cúm A
Virus cúm A là loại virus đặc biệt nhất trong các virus đường hô hấp do có 
hệ gen phân thành 8 đoạn và khả năng biến đổi kháng nguyên nhanh chóng. Khả 

11




glycosyl hóa xảy ra khi tổng hợp chuỗi polypeptide HA hay NA, làm thay đổi đặc 
tính kháng nguyên của HA và NA, giúp cho virus thoát khỏi tác động miễn dịch 
bảo vệ của cơ thể chủ và điều hoà sự nhân lên của virus [7].
Hiện tượng  lệch kháng nguyên  và  glycosyl hóa  tao ra nh
̣
ưng biên đôi di
̃
́
̉
 
truyên nho nh
̀
̉ ưng diên ra liên t
̃
ục trong qua trinh l
́ ̀ ưu hanh cua virus trong t
̀
̉
ự nhiên. 
Ngược lai, hi
̣
ện tượng trao đôi kháng nguyên
̉
 có thể xảy ra với tất cả các chủng 
của virus cúm A khi co hiên t
́ ̣ ượng đồng nhiễm, tao ra cac biên đôi di truyên l
̣
́
́ ̉

nhiên rất khó kiểm soát. Virus cúm A có khả  năng gia tăng biên độ  vật chủ 
của chúng trong quá trình lây truyền ở tự nhiên (hình 1.4).

13


Hình 1.4. Các vật chủ tự nhiên và khả năng lây nhiễm giữa các loài vật chủ của  
virus cúm A.
http://www.medicalecology.org/diseases/influenza/print_influenza.ht
Nhờ đặc tính luôn thay đổi kháng nguyên trong tự nhiên, virus cúm A có  
khả  năng xâm nhiễm nhiều loài vật chủ  trung gian khác nhau như  gia cầm,  
một số loài động vật có vú (hải cẩu, cá voi, ngựa, lợn…) và cả  con người, tạo  
nên tính thích  ứng lan truyền “ nội loài” như gà ­ gà, hay “ ngoại loài” như gà ­ 
lợn; gà ­ lợn ­ người. Đặc điểm thích  ứng vật chủ  này là điều kiện thuận lợi  
cho virus cúm A trao đổi, tái tổ  hợp các phân đoạn gen, đặc biệt là các phân  
đoạn gen kháng nguyên (HA và NA) giữa các chủng, tạo ra một ch ủng virus  
cúm mới có khả  năng thích  ứng xâm nhiễm  ở  loài vật chủ  mới của chúng đặc 
biệt khi chúng vượt qua đượ c “rào cản loài” dễ dàng thích ứng lây nhiễm gây 
bệnh từ gia cầm sang người và giữa người với người [15].
Các nghiên cứu về virus H5N1 trong thời gian gần đây cho thấy virus đã có 
những biến đổi để thích nghi lây nhiễm trên người. Hai chủng virus H5N1 phân 
lập trên người năm 2003 (Hong Kong) cho thấy có hiện tượng giảm ái lực với 
thụ thể của gia cầm và có ái lực (mặc dù chỉ ở mức thấp) với thụ thể của người 
và sự thay đổi axit amin ở vị trí 227 (Ser thành Asn) là nguyên nhân làm thay  đổi 

14


tính  đặc   hiệu   với   thụ  thể  của   virus   [23].  Đột   biến  ở  vị   trí   182   hoặc   192 
(Asn182Lys hoặc Gln192Arg) làm cho H5N1 thay  đổi  đặc tính gắn thụ  thể, từ 

lại, protein HA của HPAI lại có nhiều axit amin kiềm tại vị trí phân cắt, do đó có 
thể chịu tác dụng của các protease nội bào (intracellular protease) phổ biến như 
furin [44]. Chính vì vậy mà HPAI có thể gây bệnh ở nhiều mô, cơ quan khác nhau 
trên cơ thể vật chủ và gây nên các triệu chứng nặng nề và tỉ lệ tử vong cao. 
Độc lực và khả năng gây bệnh của virus A/H5N1 được quyết định chủ yếu  
bởi các protein của virus là HA, PB2, NS1 và PB1­F2: Protein HA là kháng nguyên 
bề  mặt quan trong cua virus cúm, giup cho virus co thê găn v
̣
̉
́
́ ̉ ́ ơi cac thu thê sialic
́ ́
̣
̉
 
acid đăc hiêu trên bê măt tê bao, hoa mang va xâm nhiêm tê bao chu. V
̣
̣
̀ ̣ ́ ̀
̀
̀
̀
̃ ́ ̀
̉ ị trí  phân căt́ 
protein HA cua A/H5N1 mang nhiêu axit amin kiêm nên dê dang bi phân căt b
̉
̀
̀
̃ ̀
̣

́ ̀
̃ ̀ ́ 
ban cua virus. Protein NS1 co thê tham gia điêu hoa đap 
̉
̉
́ ̉
̀ ̀ ́ ứng miên dich 
̃ ̣ ở  vât chu,
̣
̉ 
do đo cung la môt yêu tô quyêt đinh đôc l
́ ̃
̀ ̣
́ ́
́ ̣
̣ ực cua virus đôi v
̉
́ ới con ngươi. PB1­F2
̀
 
có vai trò gây ra hiện tượng apoptosis làm tổn thương mô, cơ  quan của cơ  thể 
nhiễm.
1.1.8. Sức đề kháng của virus cúm A
Virus cúm A tương đối nhạy cảm với các tác nhân vật lí hay hóa học. Các hạt  
virus tồn tại thích hợp trong khoảng pH từ 6.5 đến 7.9. Ở pH quá acid hay quá kiềm,  
khả năng lây nhiễm của virus bị giảm mạnh. Lớp vỏ ngoài của virus bản chất là lớp 
lipid kép, có nguồn gốc từ màng tế bào nhiễm, dễ bị phá hủy bởi các dung môi hòa tan  
lipid, chất tẩy rửa và các chất sát trùng: formaldehyde, phenol,  β­propiolacton, sodium 
hypochloride, acid loãng và hydroxylamine. Virus bị bất hoạt dưới ánh sáng trực tiếp sau 
40 giờ, tồn tại được 15 ngày ánh sáng thường, tia tử ngoại bất hoạt được virus nhưng 

đường   tiêu   hóa)   [6].  Không   giông
́   như   cum
́   mua,
̀   bênh
̣   nhân   nhiêm
̃   A/H5N1 
thương không co biêu hiên nhiêm trung đ
̀
́ ̉
̣
̃
̀
ường hô hâp trên ma th
́
̀ ương biêu hiên
̀
̉
̣  

17


tinh trang viêm phôi va nhiêm trung đ
̀
̣
̉ ̀
̃
̀ ường hô hâp d
́ ưới. Đăc điêm lâm sang nay co
̣

́
̀  
lượng môt sô protein huyêt thanh nh
̣
́
́
ư  aminotransaminase, lactate dehydrogenase  
va creatine phosphokinase; đ
̀
ường huyêt tăng ro, co thê liên quan đên viêc s
́
̃ ́ ̉
́
̣ ử dung
̣  
corticosteroid va co thê tăng creatinine mau [31]. 
̀ ́ ̉
́
Ở nhưng bênh nhân co tai l
̃
̣
́ ̉ ượng  
virus cao trong dich mui va dich nôi khi quan, nh
̣
̃ ̀ ̣
̣
́ ̉
ưng bênh nhân 
̃
̣

̃ ́ ̣
́
́
̀ ̣
̉
ở  hâu hêt cac mô trong c
̀ ́ ́
ơ 
thê, bao gôm: phôi, khi quan, gan, niêm mac ruôt non, ruôt gia, tuy x
̉
̀
̉
́ ̉
̣
̣
̣
̀ ̉ ương va nao. 
̀ ̃
Tỉ lệ tử vong đối với bệnh nhân nhiễm cúm A/H5N1 nhập viện tương đối 
cao, xấp xỉ 60% [13, 16], mặc dù tỷ lệ tử vong chung có lẽ thấp hơn nhiều. Trái 
ngược với năm 1997, khi phần lớn các ca tử  vong xảy ra  ở  bệnh nhân trên 13 
tuổi, cúm A/H5N1 hiện nay gây tỷ lệ tử vong cao ở trẻ nhỏ. Ở trẻ dưới 15 tuổi, 
tỷ lệ tử vong là 89% [16]. Thời gian trung bình từ khi có triệu chứng đầu tiên đến 
khi tử vong là 9­10 ngày (thay đổi từ 6­30 ngày) và hầu hết bệnh nhân tử vong do 
suy hô hấp tiển triển [5, 16].
1.2.2. Các phương pháp xét nghiệm và chẩn đoán nhiễm cúm A/H5N1
Chẩn đoán lâm sàng nhiễm cúm A/H5N1 là rất khó vì triệu chứng của bệnh 
rất đa dạng và tương tự như một số bệnh khác. Để chẩn đoán xác định người ta 
thường phải dựa vào các kết quả xét nghiệm xác định sự có mặt của virus, kháng 
nguyên, kháng thể hoặc RNA của virus trong mẫu bệnh phẩm. 

phôi có thể bị chết trong vòng 24 giờ sau khi gây nhiễm.
Phân  lập từ  tế  bào:  Khi nuôi  cấy các  virus   cúm  mùa  LPAI   trên tế   bào 
MDCK, người ta phải bổ sung trypsin để virus có thể tái bản. Tuy nhiên, đối với 
các virus cúm A/H5N1, vì là HPAI nên virus có thể tái bản mà không cần bổ sung 
trypsin. 

19


Là tiêu chuẩn vàng, nhưng phân lập virus đòi hỏi phải có phòng an toàn sinh 
học cấp 3 (BioSafety Level 3 ­ BSL3) và thời gian nuôi cấy tương đối lâu, từ 2­6 
ngày. Ngoài ra, sau khi phân lập được virus vẫn phải thực hiện các xét nghiệm 
khác để chẩn đoán xác định subtype virus.
Phương pháp phát hiện kháng nguyên
Là phương pháp dùng kháng thể đặc hiệu để phát hiện kháng nguyên virus. 
Người ta có thể phát hiện kháng nguyên của virus trực tiếp từ  mẫu bệnh phẩm 
bằng một số kỹ thuật khác nhau, tuy nhiên kỹ thuật được sử dụng phổ biến hơn 
do thời gian xét nghiệm nhanh là: 
Kỹ  thuật   miễn   dịch   huỳnh   quang   trực   tiếp  (direct   immunofluorescence 
assay):   Tế   bào   niêm   mạc  đường   hô   hấp  được   cố  định   trên   lam   kính,   kháng 
nguyên của virus được phát hiện bằng kháng thể đặc hiệu có gắn huỳnh quang 
và quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang. 
Kỹ thuật miễn dịch gắn men (EIA: Enzyme­linhked Immunosorbent Assay): 
Kỹ  thuật sử  dụng kháng thể  đặc hiệu gắn enzyme  để  phát hiện kháng nguyên 
virus. Mẫu bệnh phẩm được gắn lên thành giếng, sau khi được ủ với kháng thể 
có gắn enzyme thì bổ  sung cơ  chất phù hợp. Nếu có kháng nguyên virus trong 
mẫu bệnh phẩm thì enzyme sẽ tác dụng với cơ chất làm đổi màu. 
Kỹ thuật phát hiện kháng nguyên virus nhanh, đơn giản nhưng chỉ phát hiện 
được các kháng nguyên bảo thủ của virus cúm như  NP và M. Do đó, kết quả xét 
nghiệm dương tính cũng chỉ  có thể  kết luận là nhiễm virus cúm A, không xác 

các băng nhỏ, ủ với mẫu huyết thanh pha loãng, kháng thể  đặc hiệu trong huyết 
thanh sẽ liên kết với kháng nguyên gắn trên màng. Tiến hành ủ các băng nêu trên 
với kháng kháng thể đặc hiệu có gắn enzyme, chất chỉ thị màu (phosphatase kiềm 
hoặc peroxidase cải củ  cay) hoặc biotin và  được nhận biết bằng streptavidin­
HRP. Vị trí gắn kháng thể kháng virus sẽ được xác định khi ủ các băng này với 
cơ  chất của enzyme hoặc chất tạo màu. WB có  độ  nhạy cao, thường được sử 
dụng kết hợp với kĩ thuật HI hoặc EIA để làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu [42].

21


Kĩ thuật trung hoà virus: Mẫu virus được ủ với huyết thanh bệnh nhân sau 
đó hỗn hợp  được sử  dụng  để  gây nhiễm trong hệ  thống phù hợp (tế  bào nuôi 
cấy, phôi trứng)  để  xác  định sự  xâm nhiễm của virus. Nếu không có sự  xâm 
nhiễm của virus, tức là kết quả dương tính, khi đó huyết thanh có kháng thể đặc 
hiệu với virus. Người ta đã áp dụng kỹ thuật này trong vụ dịch ở Hong Kong năm 
1997 để phát hiện kháng thể kháng H5N1 trong huyết thanh bệnh nhân và có thể 
phát hiện được 14 ngày sau khi bệnh nhân biểu hiện triệu chứng [35]. Kỹ thuật 
này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, có thể sử dụng để phát hiện kháng thể kháng 
H5N1  ở  người nhưng do sử  dụng mẫu virus cúm gia cầm nên cũng phải thực 
hiện trong phòng an toàn sinh học cấp độ 3. 
Kỹ  thuật trung hòa vi lượng  (Microneutralization ­ MN): là kĩ  thuật trung 
hoà virus được thực hiện trên tấm 96 giếng, kết quả được đọc bằng phản ứng 
EIA sau 18­22 giờ kể  từ  khi gây nhiễm. Kĩ thuật MN dựa trên phản ứng trung 
hòa virus với kháng thể  đặc hiệu. Huyết thanh bệnh nhân được pha loãng ở các 
nồng  độ  khác nhau và  được  ủ  cùng một lượng virus nhất  định trước khi tiến 
hành gây nhiễm tế bào. Nếu trong huyết thanh bệnh nhân có kháng thể đặc hiệu 
kháng H5N1 thì kháng thể  sẽ  trung hòa virus và virus không thể  gây nhiễm tế 
bào. Sau khi ủ, các tế bào được gắn cố định và tiến hành xác định sự có mặt của 
protein NP của virus trong các tế bào nhiễm virus bằng phản ứng EIA. Hiện nay, 

PCR được thực hiện trong một tube phản  ứng, tất cả các thành phần của 2 giai 
đoạn được cho vào cùng một lần. Ở đây, toàn bộ sản phẩm cDNA đều tham gia 
vào PCR và không nhất thiết phải có mồi riêng cho RT vì chính mồi của PCR sẽ 
được sử dụng làm mồi cho RT. RT­PCR một bước thuận tiện hơn và tránh được  
nguy cơ ngoại nhiễm sản phẩm khuếch đại.
Kỹ thuật RT­PCR phát hiện các trình tự gen đặc trưng cho virus cúm A (gen 
M) hoặc cho subtype HA và NA của virus dựa trên các cặp mồi được thiết kế 
đặc hiệu với từng gen, do đó có thể xác định được các subtuye virus cúm A với 
độ  nhạy và độ  đặc hiệu cao. Để  chẩn  đoán các trường hợp nghi nhiễm cúm 
A/H5N1, người ta thường phải thực hiện vài phản ứng RT­PCR, bao g ồm phản 

23


ứng xác định nhiễm cúm A và các phản ứng xác định subtype HA và NA. Thời 
gian để thực hiện xét nghiệm bằng kỹ thuật này mất khoảng từ 12­24 giờ hoặc 
hơn, tùy thuộc vào từng phòng thí nghiệm. Kỹ thuật realtime RT­PCR chẩn đoán 
A/H5N1 giúp rút ngắn thời gian xét nghiệm xuống còn 4­6 giờ, tăng độ nhạy và 
độ đặc hiệu đồng thời có thể xác định được mật độ virus trong mẫu bệnh phẩm 
[18, 41]. Do không phải điện di phân tích kết quả nên kỹ thuật realtime RT­PCR 
hạn chế  được hiện tượng dương tính giả  do nhiễm sản phẩm PCR. Kỹ  thuật 
này cho kết quả nhanh và chính xác nhưng chi phí cao, tốn kém. 
Kỹ thuật multiplex RT­PCR: Sử dụng cả 3 cặp mồi đặc hiệu phát hiện cả 3 
gen M, HA và NA của virus cúm A/H5N1 trong cùng một phản ứng. Kỹ thuật này  
khắc phục được nhược điểm của hai kỹ  thuật trên nhưng để  xây dựng được  
phản ứng multiplex RT­PCR thì quan trọng nhất là phải thiết kế được các mồi có  
nhiệt độ gắn mồi (Ta­ Annaeling temperature) vào DNA đích tương đương nhau 
và quan trọng nữa là độ nhạy phát hiện từng tác nhân đích không bị  giảm so với  
độ nhạy của RT­PCR đơn mồi. 
Kỹ thuật RT­PCR chẩn đoán cúm A/H5N1 với độ nhạy và độ đặc hiệu cao.  

liều gấp đôi (150 mg x 2 lần/ngày) và tăng thời gian dùng thuốc [49]. Oseltamivir 
vẫn có tác dụng tốt đối với các trường hợp điều trị muộn nếu có dấu hiệu virus 
vẫn  đang nhân lên [49, 20].  Điều trị  phối hợp các thuốc kháng virus với nhau 
hoặc phối hợp thuốc kháng virus với thuốc kháng viêm hoặc thuốc điều trị miễn 
dịch cũng được áp dụng, tuy nhiên hiệu quả của các phương pháp điều trị  phối 
hợp đều chưa được đánh giá đầy đủ. Corticosteroid là thuốc được sử dụng phổ 
biến nhưng hiệu quả  điều trị  chưa rõ ràng. Thậm chí một nghiên cứu còn cho 
thấy trong số 7 bệnh nhân được điều trị bằng corticosteroid có tới 6 bệnh nhân tử 
vong [47]. Rõ ràng là cần phải có những nghiên cứu tiếp theo  để  đánh giá về 
hiệu quả điều trị khi phối hợp thuốc kháng virus với các thuốc khác. Ở giai đoạn 
toàn  phát   của   bệnh,  đặc   biệt  là   khi   bệnh  nhân  đã   biểu   hiện   ARDS  và/hoặc 

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status