1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ cuối thế kỷ XX cho đến nay, nhân loại đang chứng kiến sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học công nghệ (KHCN) và sự hình thành một nền văn minh
mới văn minh hậu công nghiệp; đồng thời xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh
mẽ, làm cho thế giới trở thành một “thế giới phẳng”, thế giới với đặc trưng là sự
liên kết. Những dỡ bỏ rào cản về chính trị cùng với cách mạng KHCN mở ra cho
các nước những phương thức sản xuất, những hình thế địa chính trị và địa kinh
tế hoàn toàn mới. Trong bối cảnh đó, để bảo đảm sự phát triển bền vững, các
quốc gia không thể chỉ dựa vào tài nguyên, vốn, kỹ thuật công nghệ mà phải
chủ yếu dựa vào chất lượng nguồn nhân lực.
Quan điểm coi phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển
nhanh và bền vững của mỗi quốc gia đã trở nên phổ biến. Phát triển nguồn nhân
lực nhằm mục đích không ngừng nâng cao hiệu quả và hiệu năng của nhân tố con
người trong tổ chức, tạo sự cân bằng về mọi mặt giữa cá nhân và tổ chức.
Giáo dục đào tạo (GDĐT) nói chung, giáo dục đại học (GDĐH) nói riêng
là một bộ phận của nền kinh tế xã hội. Trong quá trình hội nhập, tính quốc tế,
tính khu vực của giáo dục đại học cũng được định hình. Các trường đại học trở thành
nơi hội tụ, chuyển giao kinh nghiệm và phát triển học thuật, giao lưu, hội nhập văn
hóa giữa các nước. Mục tiêu đào tạo của trường đại học không chỉ hướng vào truyền
thụ hệ thống tri thức khoa học mà chủ yếu phát triển năng lực tư duy, năng lực hoạt
động nghề nghiệp và kỹ năng sống cho người học. Sự chuyển đổi về mục tiêu đào
tạo trong các nhà trường đại học đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng nội dung,
tìm kiếm các biện pháp quản lý phù hợp, hiệu quả trong quá trình xây dựng đội ngũ
giảng viên (ĐNGV) (người dạy) đội ngũ có vai trò quyết định chất lượng đào tạo
của nhà trường đại học. Phát triển ĐNGV, vì vậy là một nhiệm vụ sống còn của mỗi
cơ sở giáo dục đại học.
Xây dựng ĐNGV các trường đại học gần đây đã được quan tâm nghiên cứu.
triển ĐNGV của Học viện đáp ứng yêu cầu đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực hội nhập quốc tế được nâng cao, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Học viện trong thời kỳ mới là một yêu cầu
khách quan và bức thiết. Từ tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng
tôi chọn đề tài “Phát triển đội ngũ giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến
sỹ, với mong muốn góp phần vào sự phát triển của Học viện trong bối cảnh mới.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng ĐNGV
và công tác phát triển ĐNGV tại Học viện, luận án đề xuất các biện pháp chủ
yếu nhằm phát triển ĐNGV Học viện CTQG Hồ Chí Minh theo hướng nâng cao
năng lực ĐNGV trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quá trình phát triển ĐNGV Học viện CTQG
Hồ Chí Minh.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng khung năng lực giảng viên và các
biện pháp phát triển ĐNGV Học viện CTQG Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội
nhập quốc tế.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển ĐNGV trong bối cảnh hội nhập
quốc tế.
4.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng ĐNGV và phát triển ĐNGV của Học viện
CTQG Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
4.3. Đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGV Học viện CTQG Hồ Chí Minh
trong bối cảnh hội nhập quốc tế và thực nghiệm biện pháp ưu tiên.
5. Giả thuyết khoa học
Việt Nam đang trên đường hội nhập quốc tế sâu rộng trên các lĩnh vực,
trong đó có giáo dục đào tạo đại học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Xu thế tất yếu
bồi dưỡng cán bộ; trong bối cảnh đổi mới đất nước và hội nhập thế giới. Việc
xem xét các thành tố nội tại giúp ta nhận rõ được tính đặc thù; việc xem xét
ĐNGV với môi trường trong nước và thế giới giúp chúng ta thấy rõ được tính
phổ biến của ĐNGV cũng như quá trình phát triển đội ngũ.
+ Tính phổ biến của ĐNGV của Học viện CTQG Hồ Chí Minh được quy
định bởi bối cảnh nền giáo dục đại học Việt Nam và quá trình hội nhập quốc tế
về giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao. Tính đặc thù của
ĐNGV Học viện CTQG Hồ Chí Minh được quy định bởi vị trí đặc thù của Học
viện, mục tiêu, đối tượng đào tạo, bồi dưỡng. Tính phổ biến và đặc thù này càng
được chú trọng khi đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGV.
Tiếp cận quản trị nguồn nhân lực:
+ Nhận thức rõ vai trò quyết định của nguồn nhân lực. Mục tiêu cuối cùng
của phát triển nguồn nhân lực không dừng ở chỗ để có nguồn nhân lực đủ về số
4
lượng, cân đối về cơ cấu, có chất lượng cao mà quan trọng hơn là vấn đề sử
dụng nguồn nhân lực đó như thế nào để đem lại hiệu quả cao cho sự phát triển
bền vững của tổ chức, của quốc gia.
+ Phải xem xét, đánh giá từ khâu lập kế hoạch phát triển ĐNGV; thu hút,
tuyển dụng; bố trí, sử dụng đến đào tạo, bồi dưỡng; đánh giá, sàng lọc, chính
sách đãi ngộ và tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ này trong mối quan hệ biện
chứng với nhau, trong điều kiện đổi mới và hội nhập.
Tiếp cận quản lý sự thay đổi: Phát triển ĐNGV Học viện CTQG Hồ Chí
Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế cần phải xem xét các yêu cầu của bối
cảnh mới, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, hội nhập kinh tế
quốc tế, sự hội nhập và giao lưu giữa các quốc gia, các thể chế chính trị và nền
văn hóa, tác động mạnh mẽ đến ĐNGV về tầm nhìn, quan điểm và đòi hỏi những
yếu tố mới trong khung năng lực của giảng viên. Phát triển ĐNGV ở các cơ sở
5
Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này được thực hiện qua trao
đổi, tọa đàm với 10 cán bộ quản lý/ lãnh đạo và giảng viên Học viện về những
vấn đề liên quan để làm rõ thực trạng,… bổ sung tư liệu cho đề tài nghiên cứu.
Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này được thực hiện bằng cách xin
ý kiến chuyên gia. Qua đó làm rõ hơn về vấn đề nghiên cứu và kiểm chứng tính
cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm trong công tác
xây dựng, phát triển ĐNGV của Học viện Trung tâm và các Học viện khu vực từ
năm 2006 đến nay, tiếp thu những kinh nghiệm thành công, khắc phục những bất
cập để đề xuất những biện pháp theo tiếp cận phát triển trong bối cảnh mới.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu các sản phẩm
hoạt động của giảng viên và các nhà quản lý/lãnh đạo Học viện trong công tác
phát triển ĐNGV.
Phương pháp thống kê toán học, sử dụng phần mềm SPSS để xử lý các
kết quả điều tra, xử lý số liệu.
8. Các luận điểm bảo vệ
Học viện CTQG Hồ Chí Minh là một cơ sở giáo dục đặc thù trong hệ
thống giáo dục ở nước ta. ĐNGV của Học viện có những đặc điểm chung của
ĐNGV đại học, đồng thời có những đặc điểm riêng biệt do vị trí, vai trò, sứ
mệnh của Học viện quy định. Phát triển ĐNGV của Học viện CTQG Hồ Chí
Minh vừa tuân thủ những nguyên lý chung của phát triển nguồn nhân lực xã hội
vừa phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị của
Việt Nam.
Hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu khách quan và là một trong những định
hướng lớn của đường lối đổi mới đất nước và đổi mới giáo dục Việt Nam. Với
sứ mệnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung/cao cấp của hệ thống
chính trị lực lượng có khả năng dẫn dắt, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước
và hội nhập quốc tế, ĐNGV của Học viện đang đứng trước những cơ hội và yêu
7
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
Vai trò quan trọng của ĐNGV trong việc đảm bảo, nâng cao chất lượng đào
tạo của các trường đại học đã dẫn đến sự phát triển của các mô hình quản lý và
phát triển ĐNGV của các trường đại học. Từ đó, các nghiên cứu về ĐNGV ngày
càng được triển khai một cách khá hệ thống trên qui mô rộng lớn.
Có thể khái quát các nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận
án thành bốn nhóm:
i) Các nghiên cứu về ĐNGV với tư cách là nhân tố quyết định chất lượng giáo
dục
ii) Các nghiên cứu về kiến thức, chuyên môn, kỹ năng và các phẩm chất của
ĐNGV
iii) Các nghiên cứu về kinh nghiệm quản lý và phát triển ĐNGV
1.2. ĐÁNH GIÁ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.2.1. Những vấn đề đã được tập trung nghiên cứu
Từ tổng quan trên, có thể thấy các nghiên cứu đã đề cập khá sâu sắc và toàn
diện vấn đề quản lý và phát triển ĐNGV.
Các công trình đã làm rõ cách tiếp cận đối với vấn đề nghiên cứu (1) Tiếp cận
quản lý và phát triển nguồn nhân lực theo sơ đồ của Christian Batal; (2) Tiếp cận theo
phương pháp quản lý, gồm: phương pháp giáo dục, vận động, tuyên truyền; phương
pháp hành chính; phương pháp kinh tế; (3) Tiếp cận nội dung phát triển ĐNGV.
1.2.2. Những vấn đề chưa được đề cập hoặc chưa được nghiên cứu
một cách sâu sắc
Khái quát các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển ĐNGV trong
trên diện rộng chưa cao.
vi) Thiếu những nghiên cứu hệ thống về phát triển ĐNGV của Học viện
CTQG HCM trong bối cảnh hội nhập quốc tế về giáo dục đại học.
1.2.3. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
(i) Trong bối cảnh hội nhập quốc tế về giáo dục đại học hiện nay, các giải
pháp phát triển ĐNGV của Học viện CTQG HCM cần phải dựa vào lí thuyết,
quan niệm hay tiếp cận nào thì có hiệu quả?
(ii) Với những đặc điểm của Học viện CTQG HCM một thiết chế giáo
dục đặc thù trong hệ thống giáo dục của nước ta, điều kiện để có thể lựa chọn
mô hình/lý thuyết quản lý nguồn nhân lực cụ thể để thực thi công tác phát triển
ĐNGV của học viện là gì?
(iii) Những giải pháp nào về phát triển ĐNGV của Học viện CTQG HCM là giải
pháp vừa đảm bảo tính đặc thù của Học viện vừa giúp cho ĐNGV của Học viện đáp
ứng tốt xu hướng hội nhập quốc tế của Học viện, đồng thời nâng cao năng lực hội
nhập quốc tế trong lao động nghề nghiệp của mình.
1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG
VIÊN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1. CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
2.1.1. Giảng viên
2.1.1.1. Khái niệm "Giảng viên"
Từ những nghiên cứu của các tác giả có thể khái quát: GV là những nhà giáo
giảng dạy ở các trường ĐH, CĐ, có tiêu chuẩn, chức trách, nhiệm vụ và quyền
hạn theo quy định của Nhà nước nói chung và những quy định đặc thù của từng
9
thế càng bền vững. Xây dựng luôn gắn với sự phát triển, phát triển phải dựa trên
cơ sở của sự ổn định.
2.1.3.2. Phát triển đội ngũ giảng viên
Phát triển ĐNGV là tạo ra một ĐNGV đủ về số lượng, đảm bảo về chất
lượng (có trình độ, được đào tạo đúng quy định, có phẩm chất đạo đức, có năng
lực trong các hoạt động đào tạo của cơ sở giáo dục đại học), trên cơ sở đó, đội
ngũ này đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu của chương trình đào tạo cũng như
các yêu cầu của giáo dục đại học.
2.2. LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN THEO TIẾP
CẬN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
10
2.2.1. Nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực
2.2.1.1. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm
việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức
mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù
hợp.
2.2.1.2. Mô hình quản lý nguồn nhân lực
2.2.1.3. Nội dung của quản lý nguồn nhân lực
Để hoạt động của tổ chức có hiệu quả, cần tập trung vào ba vấn đề cơ bản
sau:
Mục tiêu, mục đích của tổ chức được xác định rõ ràng (sản xuất cái gì;
sản xuất để làm gì; sản xuất cho ai; sản xuất bằng phương thức nào...)
Cơ cấu tổ chức được thiết kế một cách khoa học, hợp lý và phù hợp với
môi trường tổ chức cũng như mục tiêu của tổ chức.
Nguồn nhân lực bao gồm nguồn nhân lực của tổ chức và khả năng khai
thác của tổ chức nguồn nhân lực xã hội nói chung. Hay nguồn lực cả bên trong và
khu vực. Thứ hai, cách hiểu rộng, coi “hội nhập quốc tế” là sự mở cửa và tham
gia vào mọi mặt của đời sống quốc tế, đối lập với tình trạng đóng cửa, cô lập
hoặc ít giao lưu quốc tế.
2.3.2. Tác động của hội nhập quốc tế đối với giáo dục đại học và
giảng viên đại học
Tác động đến giáo dục đại học
Tác động đến người giảng viên đại học
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động
và quan hệ giữa con người. Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan
hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng. Nhiều cộng đồng liên kết với nhau
tạo thành xã hội và các quốc giadân tộc. Các quốc gia lại liên kết với nhau tạo
thành những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới.
2.3.3. Tác động của hội nhập quốc tế đến quá trình xây dựng đội ngũ
giảng viên ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị
Những tác động tích cực của hội nhập quốc tế đến công tác xây dựng ĐNGV.
Những khó khăn và tác động tiêu cực trong quá trình hội nhập quốc tế.
2.3.4. Khung năng lực người giảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc
tế
Vận dụng tiếp cận trên, xem xét những yêu cầu cụ thể đối với người GV
đại học trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay và trong bối cảnh hội nhập quốc
tế, khung năng lực của GV sẽ được xem xét bởi các yếu tố cần thiết sau đây:
1) Phẩm chất chính trị
2) Đạo đức nghề nghiệp, lối sống
3) Kiến thức, năng lực chuyên môn
4) Năng lực sư phạm
5) Năng lực nghiên cứu khoa học
6) Năng lực hoạt động thực tiễn, hoạt động chính trị xã hội
7) Năng lực phát triển nghề nghiệp, phát triển bản thân
2.4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG
VIÊN
13
Chương 3
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
CỦA HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
3.1. GIỚI THIỆU VỀ HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
3.1.1. Giới thiệu về Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là một trung tâm quốc gia đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý; trung tâm quốc gia nghiên cứu chủ nghĩa
Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; trung tâm quốc gia nghiên cứu lý luận chính
trị của Đảng và Nhà nước, có vai trò đặc biệt quan trọng, có bề dày lịch sử và
truyền thống vẻ vang, đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của
dân tộc, được Đảng và Nhà nước tặng nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý.
Hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh được tổ chức trên cơ
sở phân công, phân cấp trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo
đối tượng, tính chất, lĩnh vực, chuyên ngành và theo địa giới hành chính khu vực.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã đào tạo, bồi dưỡng được hàng trăm
nghìn lượt cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp ở các ngành, địa phương, cán
bộ lãnh đạo của Đảng và hệ thống chính trị. Quy mô và hình thức đào tạo ngày
càng được mở rộng và phát triển tăng gấp nhiều lần so với trước đây. Chỉ 5 năm
từ 2009 đến 2014 là thời kỳ sáp nhập Học viện Hành chính vào Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh để trở thành Học viện Chính trị Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh thì Học viện đã đào tạo, bồi dưỡng được hơn 90 nghìn lượt học
viên, sinh viên với nhiều hệ lớp.
3.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Học viện
3.1.3. Tính đặc thù của Học viện và giảng viên Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh
3.2. GIỚI THIỆU TỔ CHỨC KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
3.2.1. Mục đích khảo sát
* Cơ cấu chuyên ngành
Học viện CTQG HCM hiện có 11 Viện chuyên ngành, số cán bộ nghiên
cứu, giảng dạy bao gồm tất cả các cán bộ ở các khoa, viện từ trợ giảng đến
giảng viên chính, cao cấp.
* Về cơ cấu độ tuổi
Trong tổng số đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện thì cán bộ trẻ chiếm
hơn 50%. Đây vừa là thế mạnh nhưng cũng đồng thời là khó khăn, thách thức
không nhỏ đối với quá trình hoạt động và phát triển của Học viện CTQG HCM.
3.3.2. Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh trước yêu cầu hội nhập quốc tế
3.3.2.1. Quan điểm về hội nhập quốc tế của giảng viên
* Nhận thức về sự cần thiết tham gia hội nhập quốc tế
Kết quả khảo sát cho thấy lý do khiến cho giảng viên thấy rằng việc tham
gia hội nhập quốc tế của giảng viên là rất cần thiết vì nó mang lại cho họ nhiều
cơ hội phát triển nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, tiếp cận với các
phương pháp giảng dạy hiện đại…
Khi được hỏi lý do giảng viên Học viên CTQG HCM cần thiết tham gia hội
nhập quốc tế, có 96% giảng viên đồng ý rằng tham gia hội nhập quốc tế sẽ có cơ
hội được nâng cao trình độ chuyên môn học thuật; 95,5% giảng viên đồng ý với
sự cần thiết tham gia hội nhập là để tiếp cận với các phương pháp giảng dạy
hiện đại của nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. 96.5% giảng viên đồng ý với ý
kiến tham gia hội nhập quốc tế là để cập nhật tình hình thời sự chính trị quốc
tế.Tỷ lệ giảng viên đồng ý với các lý do như tham gia hội nhập để mở rộng quan
điểm, thái độ, tầm nhìn, để giao lưu khoa học phát triển hợp tác quốc tế và nâng
15
cao trình độ ngoại ngữ, dịch thuật tài liệu phục vụ giảng dạy và nâng cao khoa
học đều chiếm tỷ lệ trên 95%
đức nghề nghiệp và lối sống cũng rất cần được quan tâm. Theo kết quả điều tra
thì có 67,2% giảng viên được hỏi đánh giá vấn đề yêu nghề, gắn bó với nghề dạy
học ở Học viện là rất cần thiết, 32,8% đánh giá ở mức độ cần thiết; 75,8% giảng
viên đánh giá việc giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo ở trường chính
trị của Đảng là rất cần thiết 24,2% đánh giá ở mức cần thiết. Về vấn đề sống
trung thực lành mạnh là tấm gương đối với học viên thì có 72,4% cho rằng điều
đó rất cần thiết và 27,6% cho rằng cần thiết, không có giảng viên nào phủ nhận
hoặc cho rằng các phẩm chất về nghề nghiệp, lối sống trên của giảng viên là
không cần thiết trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
16
* Kiến thức, năng lực trình độ chuyên môn
71% giảng viên được hỏi đều đánh giá ở mức độ “rất cần thiết” đối với các
phẩm chất về kiến thức năng lực trình độ chuyên môn 43,24% đánh giá ở mức độ
“cần thiết” và hầu như không có giảng viên nào đánh giá ở mức độ “không cần thiết”
* Năng lực sư phạm
Đối với nội dung về năng lực sư phạm, phần lớn giảng viên Học viện
CTQG HCM được hỏi đều đánh giá ở mức độ “rất cần thiết” và “cần thiết”. Kết
quả khái quát cho thấy tỷ lệ đánh giá ở hai mức độ này đối với yêu cầu năng lực
sư phạm là tương đối cân bằng, cụ thể hơn: Ở nội dung “Xây dựng kế hoạch
dạy học” có 50% giảng viên đánh giá ở mức độ rất cần thiết và 49,5 đánh giá ở
mức độ là cần thiết, tương tự như vậy với nội dung “ Xây dựng và phát triển
chương trình môn học” thì có 49,5% giảng viên đánh giá ở mức độ rất cần thiết
và 50.5% giảng viên còn lại đánh giá ở mức độ cần thiết. Có một điều đáng chú ý
là trong nội dung “Sử dụng các phương tiện dạy học hiệu quả” có 2,5% giảng
viên được hỏi trả lời là ở mức độ “Không cần thiết”; và có khoảng 2,0% giảng
viên cũng cho rằng không cần thiết ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
* Nghiên cứu khoa học
Hiện nay, hàng năm hệ thống Học viện có trên 20 đoàn ra trao đổi học
thuật, kinh nghiệm với các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtraylia, Nhật, Hàn Quốc,
Singapore, Lào… Qua trao đổi với lãnh đạo Vụ hợp tác quốc tế và các giảng viên
được cử đi nghiên cứu, trao đổi ở nước ngoài cho thấy đây là cơ hội tốt giúp
giảng viên phát triển về chuyên môn, nghiên cứu khoa học, nhất là đối với một số
chuyên ngành mới. Mặt khác, thông qua việc mời các học giả nước ngoài đến
Học viện trao đổi về học thuật, giảng bài ở một số lớp nguồn cán bộ cao cấp,
thông qua các hội thảo quốc tế ĐNGV Học viện có điều kiện mở rộng tầm nhìn,
cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu và mặt khác cũng có điều kiện để thể hiện, để
trao đổi về học thuật, kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu. Nhiều luận điểm khoa
học và kinh nghiệm của giảng viên cao cấp, Học viện không chỉ được giới học
thuật ở Lào, Trung Quốc, Thái Lan đánh giá cao mà cả giới học thuật ở các nước
phát triển như Mỹ, Anh, Nhật, Hàn Quốc thừa nhận. Rõ ràng quá trình hội nhập
không chỉ đặt ra cho ĐNGV Học viện tiếp nhận cái mới từ bên ngoài mà còn đặt
ra vấn đề đội ngũ này phải có, phải chuẩn bị tiền đề để hội nhập khu vực và
quốc tế.
3.3.4. Đánh giá chung về thực trạng đội ngũ giảng viên Học viện Chính
trị trong bối cảnh hội nhập quốc tế
3.3.4.1. Điểm mạnh
Về nhận thức, đa số giảng viên của Học viện đã xác định được yêu cầu
nhiệm vụ, nên đã tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ theo kế hoạch đào
tạo, bồi dưỡng của Học viện. Hầu hết giảng viên Học viện có bản lĩnh chính trị
vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nhất định, có tinh
thần trách nhiệm gắn bó với chuyên môn nghề nghiệp, nhiều giảng viên có bề
dày kinh nghiệm trong hoạt động chuyên môn, phát huy tác dụng tốt trong đội
ngũ.
Học viện có ĐNGV giàu kinh nghiệm ở hầu hết các chuyên ngành, đủ
sức đảm đương nhiệm vụ đào tạo, có kiến thức chuyên sâu về lý luận Mác
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật nhà nước và cập nhật thông tin các vấn đề mới về lý luận và thực tiễn.
3.4. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN HỌC VIỆN CHÍNH
TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
3.4.1. Thực trạng quy hoạch giảng viên
Công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên của Học viện chỉ đạt ở mức trung bình
và khá là chủ yếu với trung bình chung lựa chọn là 45,24% và 26%. Trong đó còn có
một số nội dung quy hoạch mà có tỉ lệ bình chọn yếu và trung bình chiếm đa số đó
là quy hoạch về cơ cấu chuyên môn, quy hoạch về cơ cấu độ tuổi, quy hoạch về cơ
cấu giới tính. Nhìn chung thì công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên theo đánh giá
qua thực tế khảo sát vẫn chưa đáp ứng được với mục tiêu phát triển của nhà trường
hiện nay.
3.4.2. Thực trạng tuyển dụng, tuyển chọn giảng viên
Qua bảng điều tra, cho thấy công tác tuyển dụng, tuyển chọn đội ngũ giảng
viên của Học viên qua đánh giá chiếm ở mức khá là chủ yếu với trung bình đánh
giá là 53.5% các nội dung, còn lại mức tốt đạt trung bình là 24%, trung bình đạt
19,5 và vẫn còn tồn tại yếu với mức trung bình chung là 2.9%.
3.4.3. Thực trạng sử dụng đội ngũ giảng viên
Qua bảng điều tra chúng tôi thấy, một điểm tích cực ở thực trạng sử dụng
ĐNGV của học viện là không có ý kiến đánh giá ở mức độ yếu. Mức độ đánh giá
là trung bình là chủ yếu chiếm 56.7%, tốt là 35.8% và trung bình là 7.5%. Trong
đó những nội dung được thực hiện ở mức khá là chủ yếu là bổ nhiệm giảng viên
giỏi, có năng lực hội nhập quốc tế vào các vị trí chủ chốt (76.7%), phân công
nhiệm vụ đúng người, đúng việc (57.8%), phát hiện giảng viên giỏi, giao việc để
19
phát triển năng lực giảng viên (58.9%). Điều này cho thấy các nội dung sử dụng
đội ngũ giảng viên của nhà trường đang chỉ dừng lại ở mức khá cần có những
giải pháp sử dụng phù hợp hơn để phát huy tối đa năng lực của giảng viên
3.4.4. Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
này đồng nghĩa với việc bị đánh giá ở mức trung bình và yếu sẽ tăng lên, cụ thể
mức trung bình cho nội dung này là 39,4% và mức yếu là 8,3%.
3.4.8. Đánh giá chung về công tác phát triển giảng viên ở Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
3.4.8.1. Kết quả đạt được
Qua phân tích thực trạng phát triển ĐNGV của Học viện, nhận thấy có một
số mặt mạnh sau:
20
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và giảng viên lý luận
chính trị đã bám sát mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch đề ra. Việc triển khai thực
hiện kế hoạch được tiến hành khẩn trương, về cơ bản đã bảo đảm đúng tiến độ.
Nhìn chung, các lớp đào tạo, bồi dưỡng được tổ chức trong 3 năm qua đều đạt
chất lượng và hiệu quả tốt, được học viên đánh giá cao. Cho tới nay, sau 3 năm
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và giảng viên lý luận chính trị của
Học viện đã đạt được 63,13% chỉ tiêu kế hoạch đề ra trong 5 năm.
Hiện nay, công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV tập trung vào các nội dung
như: đào tạo, bồi dưỡng lại đội ngũ này, từng bước xây dựng ĐNGV có trình độ
chuyên môn, kỹ năng sư phạm và tiến hành thay thế dần những người không đảm
bảo tiêu chuẩn và có đủ năng lực, uy tín giảng dạy trên thực tế; xây dựng cơ chế,
chính sách khuyến khích ĐNGV nâng cao trình độ; đổi mới nội dung chương trình
giáo trình theo hướng khoa học và thực tiễn...Phương thức đào tạo, bồi dưỡng đã
được đa dạng hoá mang lại hiệu quả thiết thực cho đội ngũ cán bộ, công chức và
giảng viên, nhất là các khoá đào tạo ở nước ngoài hay mời các đối tác có uy tín
bên ngoài Học viện vào tham gia trình bày chuyên đề. Thông qua các khoá,
chương trình, các lớp đào tạo, bồi dưỡng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
và giảng viên lý luận chính trị đã nâng lên rõ rệt, góp phần tích cực vào việc thực
hiện tốt nhiệm vụ chung của Học viện.
của cả đội ngũ và từng cá nhân, không kích thích được sự phấn đấu trong chuyên
môn
Kết luận chương 3
Trên cơ sở lý luận từ chương 1 và 2, các nghiên cứu ở chương 3 đã khái
quát hóa quá trình phát triển của Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh. Đi
sâu phân tích thực trạng đội ngũ GV của Học viện cả về phẩm chất chính trị, số
lượng, chất lượng, cơ cấu và khảo sát, phân tích thực trạng của công tác phát
triển đội ngũ giảng viên tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nói
chung;Trong đó làm sáng tỏ được mức độ đáp ứng về năng lực nghề nghiệp của
giảng viên nhà trường trong thời kỳ hội nhập quốc tế ; phân tích thực trạng phát
triển đội ngũ GV nhà trường trên các mặt quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng, đánh giá, tạo động lực phát triển và phân tích rõ yếu tố cơ sở
vật chất, chính sách đối với quá trình phát triển đội ngũ giảng viên trong Học
viện; qua đó đánh giá những ưu điểm, nhược điểm và những thách thức đặt ra đối
với ĐNGV cũng như công tác phát triển ĐNGV Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay.
Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để tác giả nghiên cứu đề xuất các giải
pháp nhằm phát huy những ưu điểm, khắc phục những nhược điểm, vượt qua các
thách thức, tận dụng cơ hội để xây dựng ĐNGV đủ về số lượng, hợp lý về cơ
cấu, ngày càng nâng cao về chất lượng đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng,
NCKH trong quá trình hội nhập quốc tế.
22
Chương 4
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
4.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN HỌC VIỆN
định quy mô, ngành nghề đào tạo, cơ cấu nguồn nhân lực, phân tích hiện trạng
đội ngũ. Từ đó, xác định nhu cầu cần bổ sung, chuyển đổi và tiến hành các biện
pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ
23
4.3.3. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giảng
viên, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế
Đổi mới phương pháp đào tạo
Đổi mới phương pháp giảng dạy bao gồm việc kết hợp phương pháp truyền
thống với phương pháp hiện đại và việc áp dụng các phương pháp đối thoại, đàm
thoại... chuyển dần từ phương pháp thông tin một chiều sang thông tin hai chiều bằng
trao đổi, đối thoại giữa giảng viên với học viên và tổ chức các bài tập tình huống.
* Nâng cao trách nhiệm, hiệu quả của công tác quản lý, chỉ đạo của lãnh
đạo Học viện và các Vụ, viện trong Học viện
* Kết hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền quản lý và kiểm tra kết quả
đào tạo, bồi dưỡng GV
* Phát huy vai trò chủ động tích cực của bản thân giảng viên
4.3.4. Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ
giảng viên
Mục tiêu, ý nghĩa.
Nội dung và cách thức thực hiện.
4.3.5. Tăng cường đầu tư kinh phí, nâng cấp cơ sở vật chất, hiện đại
hoá các phương tiện kỹ thuật, nâng cao chất lượng đào tạo; đổi mới chế độ
đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên
Tăng nguồn đầu tư ngân sách cho đào tạo, bồi dưỡng. Thực hiện công
bằng trong đào tạo, bồi dưỡng; đảm bảo cho giảng viên giỏi phát triển tài năng
Cơ sở vật chất bao gồm hệ thống giảng đường, hội trường, thư viện, nhà
làm việc cho cán bộ, giảng viên, khu ký túc xá của học viên, nhà văn hoá, thể
4.5.1. Mục đích khảo nghiệm
4.5.2. Đối tượng khảo nghiệm
4.5.3. Nội dung khảo nghiệm
4.5.4. Kết quả khảo nghiệm
4.5.4.1. Kết quả khảo nghiệm nhận thức về mức độ cần thiết
Qua bảng số liệu cho thấy tuy có sự đánh giá khác nhau về mức độ cần
thiết, nhưng tổng hợp kết quả trung bình cho thấy độ chênh lệch không nhiều từ
2,6 đến 3,0. Đây là mức độ đánh giá tốt điều này cho thấy các khách thể khảo sát
đều đã nhận thức được sự cần thiết của các giải pháp phát triển đội ngũ giảng
viên ở Học viện Chính trị Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu hội nhập do luận án đề
xuất.
4.5.4.2. Kết quả khảo nghiệm nhận thức về tính khả thi
Qua bảng tổng hợp kết quả đánh giá của khách thể về tính khả thi cua
những giải pháp đề xuất cho thấy: đa số khách thể đều tán thành và nhận định có
khả thi, mức độ trung bình đánh giá khá cao từ 2,62 5đến 2,81 ứng với mức độ 3,
chứng tỏ các biện pháp được đề xuất có tính khả thi tương đối cao.
4.5.4.3. Kết quả khảo nghiệm sự tương quan giữa mức độ cần thiết và
tính khả thi của các giải pháp đề xuất
Với r = 0,77 chứng tỏ tương quan thống nhất và chặt chẽ, nghĩa là có sự
phù hợp giữa mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các giải pháp phát triển
đội ngũ giảng viên ở Học viện Chính trị Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu hội nhập
do luận án đề xuất.
4.6. THỬ NGHIỆM GIẢI PHÁP
4.6.1. Mục đích, ý nghĩa của việc thử nghiệm
4.6.2. Nội dung thử nghiệm
4.6.3. Tiến trình thử nghiệm
4.6.4. Phạm vi, đối tượng thử nghiệm
4.6.5. Đánh giá kết quả thử nghiệm
*. Đánh giá về mức độ thiết thực của khung năng lực nghề nghiệp giảng
viên và lớp văn bằng 2 tiếng Anh cho giảng viên.