1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, trong bối cảnh thế giới đang
thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường, như Nghị quyết Đại hội XI chỉ rõ:
“Trên thế giới: Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ
có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường.
Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ,
bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các
yếu tố đe doạ an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao trong các
lĩnh vực tài chính tiền tệ, điện tử viễn thông, sinh học, môi trường…
còn tiếp tục gia tăng. Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế
dân chủ hoá trong quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển nhưng các nước lớn
vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế” [35, tr.182183]. Vì thế, Việt Nam
đang đứng trước nhiều thời cơ và vận hội mới, nhưng đồng thời cũng có
nhiều thách thức đan xen. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản cách mạng
đang ra sức chống phá công cuộc đổi mới của Việt Nam bằng mọi âm
mưu, thủ đoạn rất tinh vi và xảo quyệt, trên mọi lĩnh vực: Kinh tế, chính
trị, văn hoá, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Trước tình hình đó, để góp
phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện phát
triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh nhằm tạo sức
mạnh tổng hợp răn đe và sẵn sàng chiến thắng khi có tình huống xảy ra.
Phát triển kinh tế xã hội là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân, của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở. Một số
2
tỉnh biên giới phía Bắc có vị trí chiến lược rất quan trọng trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là địa bàn có tiềm năng kinh tế lớn, có ý
phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc” làm luận án tiến sỹ.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu:
Trên cơ sở làm rõ lý luận về phát triển kinh tế xã hội gắn với đảm
bảo quốc phòng, an ninh và phân tích, đánh giá thực trạng ở một số tỉnh
biên giới phía Bắc Việt Nam, luận án đề xuất những quan điểm cơ bản và
những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc
phòng, an ninh ở một số địa phương.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục tiêu trên, luận án có các nhiệm vụ
sau:
+ Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển kinh tế xã hội gắn
với đảm bảo quốc phòng, an ninh; chỉ ra những nội dung đã được đề cập
nghiên cứu, cũng như những vấn đề chưa được đề cập, nghiên cứu.
+ Hệ thống hoá và làm rõ khuôn khổ lý thuyết của việc phát triển kinh tế
xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh trong điều kiện hiện nay ở Việt
Nam.
+ Phân tích và đánh giá đúng việc thực hiện phát triển kinh tế xã
hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc,
chỉ rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của chúng và những vấn đề
đặt ra trong thời kỳ mới.
+ Đề xuất quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên
giới phía Bắc trong thời kỳ mới.
4
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định là phát triển kinh tế
xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía
Bắc. Cụ thể là: mối quan hệ giữa phát triển kinh tế xã hội gắn với đảm
phòng, an ninh là chủ quyền quốc gia không bị xâm phạm, an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội được đảm bảo (môi trường hoà bình, ổn định được đảm bảo),
theo đó luận án nghiên cứu đảm bảo quốc phòng, an ninh theo nghĩa rộng.
Về không gian: luận án nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội gắn
với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc, trong
đó tập trung vào 3 tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn và Cao Bằng.
Về thời gian: luận án nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội gắn với
đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc, tập trung
vào 3 tỉnh: Quảng Ninh, Lạng Sơn và Cao Bằng từ năm 2001 đến 2013.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận, thực tiễn
Luận án được nghiên cứu dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh tế quân sự, học thuyết bảo
vệ Tổ quốc và các văn kiện của Đảng, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam về phát triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc
phòng, an ninh; những chủ trương, phương hướng phát triển kinh tế xã
hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng biên giới phía Bắc; các chỉ
thị, nghị quyết của Bộ Quốc phòng; các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê
của các cơ quan, sở, ban, ngành ở một số tỉnh biên giới phía Bắc; các công
trình liên quan đến đề tài đã được công bố; kết quả điều tra khảo sát
6
nghiên cứu thực tế có liên quan đến đề tài là cơ sở lý luận, thực tiễn của
luận án.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của kinh tế
chính trị Mác Lênin; sử dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, kết
hợp các phương pháp lôgíc và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống kê so
sánh và phương pháp chuyên gia để làm sáng tỏ nội dung luận án. Phương
quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc. Phương pháp nghiên
cứu trong chương này kết hợp sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng
hợp, thống kê so sánh, chuyên gia; sau đó sử dụng phương pháp phân tích và
phương pháp trừu tượng hoá khoa học. Trên cơ sở đó hoàn thành chương 4:
quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc
phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc trong thời kỳ mới.
Trong suốt quá trình viết luận án, nhất là sự chuyển tiếp, kế thừa nội
dung các chương và nội dung toàn luận án cần phải chú ý vận dụng tốt
phương pháp logic và lịch sử.
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
Hệ thống hoá và làm rõ hơn một bước cơ sở khoa học về phát triển
kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Phân tích, đánh giá thực trạng và nhận diện những vấn đề đang đặt
ra đối với phát triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh
ở một số tỉnh biên giới phía Bắc, đặc biệt là trong tình hình phức tạp hiện
nay.
8
Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội gắn
với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số tỉnh biên giới phía Bắc thời gian tới.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: phần mở đầu; 4 chương, 12 tiết; kết luận; danh mục
các công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận
án; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Phát triển KT XH gắn với đảm bảo QP, AN không phải là vấn đề riêng
của thời đại ngày nay, không chỉ là vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt
10
cũng phải sẵn sàng đối phó với mọi kẻ thù, nhiệm vụ đánh giặc giữ nước gắn
với nhiệm vụ xây dựng đất nước. Thực chất, đây là sự nhận thức về tính tất
yếu của việc kết hợp KT với QP trên cơ sở nhận thức mối quan hệ chặt chẽ
giữa KT với chiến tranh, KT với QP: “Thực túc, bình cường”, “Phú quốc, binh
cường”; đất nước giàu mạnh là cơ sở vật chất tạo ra sức mạnh QP đủ sức ngăn
ngừa, đẩy lùi, làm thất bại các âm mưu, kế hoạch xâm lược của kẻ thù; QP
mạnh tạo ra môi trường hoà bình cho xây dựng, phát triển đất nước. Kế sách
“Dựng nước đi đôi với giữ nước” của ông cha ta trong thời kỳ phong kiến được
biểu hiện tập trung ở những nội dung sau:
Một là, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam đã đề ra nhiều kế sách
giữ nước sáng tạo, linh hoạt; thể hiện sự gắn kết chặt chẽ KT với QP, tiêu
biểu là kế sách “Ngụ binh ư nông” dưới các triều đại phong kiến Lý, Trần
và Lê Sơ; “Lấy dân làm gốc”, dân giàu nước mạnh, quốc phú binh cường...
“Ngụ binh ư nông” là gửi một bộ phận quân vào nông dân, nông thôn, kết
hợp quân với dân cùng xây dựng quân đội, chỉ duy trì một số lượng quân
thường trực hợp lý. Kế sách “Ngụ binh ư nông” là sản phẩm của nhận
thức coi trọng việc binh với vai trò quan trọng của nông nghiệp nhằm bảo
đảm sự cân đối, hợp lý giữa phát triển KT và củng cố QP, giữa xây dựng
LLVT thường trực với LLVT dự bị. Khi Bàn về kế sách “Ngụ binh ư
nông”, nhà sử học Ngô Thì Sĩ đánh giá: “Chế độ binh lính của nhà Lý…
mỗi tháng lên cơ ngũ một lần, gọi là đi canh, hết canh lại về quê làm
ruộng, quân không phải cấp lương… không có phí tổn nuôi lính, mà có
công hiệu dùng sức lính, cũng là chế độ hay” [63, tr.27]. Nhà sử học Phan
Huy Chú cũng đưa ra lời bình: “Đời xưa binh lấy nghề nông là có ý phục
việc nguy hiểm vào nơi thuận tiện… Trong thành vua có quân Túc vệ, đội
ngũ đông nghiêm. Còn quân ở ngoài thì vẫn theo ý nghĩa đời xưa, lúc vô sự
phục vụ nhu cầu giao lưu phát triển KT, vừa đảm bảo QP, QS như: cơ
động lực lượng, phương tiện QS, vận tải tiếp tế, thông tin liên lạc khi
chiến tranh xảy ra.
Bốn là, để chuẩn bị cho công cuộc giữ nước từ thời bình, các triều
đại phong kiến thường xuyên quan tâm đến phát triển nhiều ngành KT có
tính lưỡng dụng, tiêu biểu là các ngành thủ công nghiệp trong nước, nhất là
các ngành nghề có liên quan đến QP để vừa đáp ứng nhu cầu dân sinh, vừa
đảm bảo nhu cầu QP của đất nước.
Trên thực tế, từ thế kỷ XI, ở nước ta (Đại Việt) đã hình thành và phát
triển các xưởng thủ công của triều đình vừa sản xuất các sản phẩm mang tính
chất KT như sản xuất các sản phẩm dân sinh dùng trong hoàng gia, cung đình,
vừa sản xuất sản phẩm trực tiếp đảm bảo cho các nhu cầu QS như: đảm bảo
nhu cầu xây dựng LLVT, quân đội, thuyền chiến, vũ khí… Thời Lý đã sản
xuất được thuyền lớn đảm bảo cho thuỷ quân tác chiến trên sông lớn và biển
gần; vũ khí hạng nặng như máy bắn đá… Thời Trần đã sản xuất được “Thần
cơ song pháo” là một loại hoả pháo có uy lực mạnh. Thời Lê đã sản xuất ra các
loại thuyền chiến, vũ khí rất phong phú và có tác dụng chiến đấu rất cao… Các
lò thủ công gia đình cũng được quan tâm phát triển, thời bình tập trung sản xuất
các sản phẩm dân sinh đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân địa phương;
thời chiến sẵn sàng chuyển sang sản xuất các sản phẩm đảm bảo nhu cầu QS
như: khai mỏ, đúc đồng, rèn sắt, đóng thuyền, sản xuất vũ khí… Đây là các cơ
sở sản xuất cung cấp chủ yếu các loại vũ khí cho các lực lượng dân binh, thổ
binh và còn đảm bảo cung ứng, sửa chữa vũ khí cho cả quân triều đình khi
chiến tranh xảy ra. Những nội dung trên cho thấy, các triều đại phong kiến
nước ta đã quan tâm phát triển nhiều ngành KT có tính lưỡng dụng, vừa đáp
13
ứng nhu cầu dân sinh, vừa đáp ứng nhu cầu tăng cường khả năng đảm bảo QP,
AN của đất nước.
quốc… “Chỉ thị toàn quốc kháng chiến” là sự phát triển nhận thức của Đảng
về phát triển KT với đảm bảo QP.
Để tiếp tục thực hiện chủ trương trên, Nghị quyết Hội nghị cán bộ
Trung ương của Đảng (từ ngày 3 đến 6/4/1947) đã xác định: “Tổ chức căn
cứ địa không những ở vùng rừng núi mà ở cả đồng bằng”; “Áp dụng chiến
thuật tiêu thổ kháng chiến một cách rộng rãi”; “Phá KT địch bằng cách tẩy
chay và QS phá hoại”; “Tích cực xây dựng kinh tế của ta, vừa kháng chiến,
vừa kiến quốc, và lập nền kinh tế tự túc”; “Thực hành việc bộ đội tăng gia
sản xuất” [26, tr.180181, 185]. Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ III
(15/6/1947), tiếp tục khẳng định vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ tăng
gia sản xuất của quân đội: “Các chính trị viên cần làm cho bộ đội hiểu
rằng tăng gia sản xuất là một nhiệm vụ quan trọng” [25, tr.172]; mặc dù
trong thời kỳ này, thực hiện chức năng, nhiệm vụ chiến đấu là chủ yếu,
nhưng quân đội đã quán triệt và nhận thức sâu sắc nhiệm vụ sản xuất.
Tiếp tục chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, Hội nghị lần thứ nhất Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (tháng 3 năm 1951) xác định: Muốn kháng
chiến trường kỳ, phải luôn luôn bồi dưỡng lực lượng KT, tài chính, phải coi
nhiệm vụ KT, tài chính là một nhiệm vụ rất quan trọng. Đây chính là những phát
triển mới trong nhận thức phù hợp với thực tiễn của Đảng ta về mối quan hệ
giữa KT với chiến tranh và QP; đồng thời, thể hiện sự nhất quán trong thực hiện
chủ trương kết hợp KT với QP ở nước ta trong giai đoạn này.
15
Kể từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược thắng
lợi, nhân dân ta thực hiện công cuộc khôi phục KT đất nước sau gần 2
năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II đã họp Hội nghị lần thứ 12
(mở rộng), ra Nghị quyết về kế hoạch nhà nước năm 1957. Nghị quyết xác
định: “Trong khi thực hiện nhiệm vụ kinh tế, các ngành công tác còn phải
kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ củng cố các khu vực tự trị, nhiệm vụ củng
Đường lối đó chỉ ra, xây dựng nền KT đất nước trong thời bình, phải đồng
thời đáp ứng cùng một lúc các nhu cầu: cải thiện đời sống nhân dân, thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá
XHCN; mở rộng quan hệ KT với các nước, đảm bảo QP, AN thường
xuyên vững chắc. Theo đó, vấn đề kết hợp QP với KT trong hoạt động của
quân đội tiếp tục có sự phát triển trong nhận thức của Đảng, Nhà nước.
Ngày 17 tháng 3 năm 1976, Bộ Chính trị khoá IV đã ra Nghị quyết số 250
NQ/TW “Về vấn đề quân đội làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế”. Nghị quyết
đã xác định mục đích, nhiệm vụ KT và phương hướng nhiệm vụ căn bản
trong xây dựng KT của quân đội. Đây là mốc đánh dấu sự chuyển biến kịp
thời trong nhận thức của Đảng về kết hợp QP với KT trong điều kiện mới, đất
nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH.
Tuy nhiên, khi mọi việc mới bắt đầu được vạch ra với mục tiêu
phục vụ nền KT đất nước sau chiến tranh, thì chúng ta phải đương đầu với
những khó khăn, phức tạp mới; trong đó nổi lên là hai cuộc chiến tranh xâm
lược biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của các thế lực thù địch.
Trước tình hình đó, Đại hội V của Đảng tiếp tục có nhận thức sâu sắc về
kết hợp KT với QP: “Kết hợp chặt chẽ KT v ới QP, QP v ới KT, t ừng b ước
17
phát triển kinh tế quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực KT của đất
nước”.
Những năm đầu của thập kỷ 80, thế kỷ XX, đất nước vừa có hoà
bình, vừa xảy ra chiến tranh, nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất, ổn định và bảo
đảm đời sống của nhân dân trở nên cấp bách. Để phát huy vai trò của quân
đội, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết bổ sung về nhiệm vụ quân đội làm KT
trong 5 năm (1981 1985). Theo đó, quân đội tập trung vào thực hiện một
số nhiệm vụ cụ thể trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,
công nghiệp, xây dựng cơ bản, hàng không dân dụng, hợp tác KT với Lào,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, diễn ra trong bối
cảnh chúng ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước, Đại hội xác định, kết hợp KT với QP gắn liền với phát huy sức
mạnh tổng hợp của toàn dân, từng bước tăng cường tiềm lực QP và AN
của đất nước. Đại hội chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ KT với QP trong việc quy
hoạch và phát triển các vùng kinh tế, các ngành công nghiệp, lấy hiệu quả
kinh tế gắn với yêu cầu bảo đảm QP AN làm cơ sở cho những chủ
trương cụ thể” [32, tr.184].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục phát triển
đường lối, chủ trương kết hợp KT với QP của Đại hội VIII và cụ thể hoá
trong những năm đầu của thế kỷ XXI, Đại hội xác định: “Kết hợp chặt chẽ
kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong
các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội” [33,
tr.40]. Theo đó, Nghị quyết số 71/ĐUQSTW ngày 25/4/2002 của Đảng uỷ
19
QS Trung ương về: “Nhiệm vụ sản xuất xây dựng KT của quân đội trong
thời kỳ mới, tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
doanh nghiệp quân đội”. Nghị quyết số 21, 37, 39, 53 của Bộ Chính trị
(Khoá IX) về phát triển KT XH và đảm bảo QP, AN của 4 vùng (đồng
bằng sông Cửu Long, Đông Nam bộ và vùng KT trọng điểm phía Nam, Bắc
Trung bộ và duyên hải miền Trung, trung du và miền núi phía Bắc) và Nghị
quyết 54 NQ/TW ngày 14/9/2005 về phát triển KT XH và đảm bảo QP,
AN vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020. Những định hướng cơ bản đó đảm bảo về chính trị và cơ sở khoa
học cho giải quyết quan hệ phát triển KT gắn với QP AN trong từng khu
vực.
Thực tiễn nêu trên đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của
Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển các khu KT QP, xây dựng các khu
luôn gắn với đảm bảo QP, AN, góp phần đảm bảo thực hiện thắng lợi hai
nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
1.2. Những công trình khoa học nghiên cứu có liên quan đến phát
triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh
1.2.1. Những công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến phát
triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số
quốc gia trên thế giới
Jayawardena , trong công trình nghiên cứu “ Một kết cấu khái niệm
nghiên cứu quốc phòng và phát triển kinh tế quốc gia”, [84] đã làm rõ: thứ
nhất, quan niệm hiện nay và cấu trúc lý luận của QP; thứ hai, xác định các
đặc điểm bối cảnh QP của Sri Lanka và thứ ba, phát triển cấu trúc khái
21
niệm để nghiên cứu quan hệ giữa QP và phát triển KT. Theo Dr MM
Jayawardena, phần lớn các nghiên cứu đã tập trung vào mối quan hệ giữa
QP và tăng trưởng KT hoặc các yếu tố liên quan của nó chứ không phải là
phát triển KT; theo Ông, Sandler và Hartely đã khảo sát và trình bày kết
luận của nhiều nghiên cứu về khía cạnh KT vĩ mô của QP với chủ để
“Tăng trưởng KT, phát triển và chi tiêu quân sự” nhưng hầu như chưa có
bất kỳ một phân tích toàn diện nào về QP và phát triển KT. Vì vậy, trong
bối cảnh hiện nay, một nghiên cứu tổng quan về QP và phát triển KT mà
tăng trưởng KT được đưa ra xem xét là yêu cầu cần thiết. Nghiên cứu này
về cơ bản sẽ mở ra những nghiên cứu nghiêm túc cả về lý thuyết và thực
nghiệm; trong bối cảnh này, kết luận rằng những lý do chính cho những sai
sót về tri thức chủ yếu là do thiếu những nghiên cứu tổng quan toàn diện
về QP và nền KT, hoặc phát triển KT sẽ cung cấp cơ sở cho những nghiên
cứu chuyên sâu mà có thể lấp khoảng trống trong kiến thức về QP và phát
triển KT.
WolfgangPeter Zingel với tác phẩm: “An ninh quốc gia và phát triển
Keith [87] đã đề cập tới các nội dung: Dưới cách tiếp cận KT, QP được
coi là một loại hàng hoá công, hàng hoá công gắn với sự thất bại của thị
trường, do không có khả năng loại trừ việc sử dụng hàng hoá này nên nó
không khuyến khích thị trường sản xuất và cung cấp, trong khi cũng do
không có tính cạnh tranh nên nó cũng không có lý do hạn chế người sử
dụng (nói cách khác, chi phí cận biên cho người sử dụng là bằng không);
nói một cách đơn giản, hàng hoá công không thể đóng gói và bán trên thị
trường. Sự thất bại của thị trường sẽ dẫn đến các ngoại ứng và cần có sự
23
can thiệp của nhà nước. Công trình nghiên cứu còn nhấn mạnh rằng: Khi
xây dựng một lý thuyết để hiển thị mối quan hệ giữa QP trong phát triển,
nhà nghiên cứu cần phải tính toán những tác động về mặt cung (chẳng
hạn lợi ích phát sinh thêm về mặt công nghệ, ngoại ứng tích cực) và các
yếu tố về mặt cầu (ví dụ tác động chèn ép đầu tư hoặc xuất khẩu). Một
mô hình đầy đủ có thể được đặc trưng bởi mối quan hệ phức tạp giữa
lĩnh vực QP và phần còn lại của nền KT. Trên cơ sở đó, cuốn sách đã đi
vào phân tích nhu cầu QP, việc chạy đua vũ trang, chính sách liên minh,
công nghiệp, thương mại QP… KTQP không chỉ hướng tới chi tiêu quân
sự và các cuộc đối đầu có vũ trang mà chúng còn là lợi ích được hiểu là
động lực của chi tiêu vũ trang, xung đột và các khía cạnh KT liên quan của
lĩnh vực quân sự. Sự hiểu biết đúng đắn về những động lực này chắc chắn
sẽ thúc đẩy các biện pháp kiểm soát việc sản sinh các loại vũ khí và sự bất
ổn của xung đột, từ đó đóng góp cho phúc lợi và tương lại của nhân loại.
Trong cuốn “Sách tra cứu về kinh tế quốc phòng” của Sandler Todd
và Hartley Keith [88], các ông đã đi sâu vào ba vấn đề lớn: thứ nhất, chi tiêu
quân sự trên thế giới nhằm giải quyết các vấn đề xung đột, khủng bố, liên
minh quân sự và chạy đua vũ trang, thứ hai, phân tích chi tiêu QP và tăng
trưởng KT; khảo sát chi tiêu quân sự ở các nước đang phát triển, đi sâu
người mua (ví dụ BQP) có thể sẽ cân nhắc lại lựa chọn thay đổi thông số của
một hệ thống vũ khí được đề xuất vào thời điểm cuối cùng. Một hợp đồng
cộng thêm phí sẽ chuyển rủi ro của việc thay đổi tiêu chuẩn kỹ thuật từ người
cung cấp sang người mua.
25
1.2.2. Những công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến phát
triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở Việt
Nam
1.2.2.1. Những công trình khoa học nghiên cứu lý luận và thực tiễn
phát triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh ở một số
khu vực, tỉnh, thành phố trên cả nước
Cho tới nay đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu lý luận và
thực tiễn về phát triển KT XH gắn với đảm bảo QP, AN. Có thể nói, đây
là những công trình nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở khoa học cho chủ
trương phát triển KT XH gắn với đảm bảo QP, AN của Đảng, Nhà nước
ta:
Trần Xuân Trường và Nguyễn Anh Bắc, trong cuốn Vấn đề kết hợp
kinh tế với quốc phòng ở nước ta [77] đã khẳng định, vấn đề kết hợp KT
với QP là một nội dung của đường lối xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc
ở nước ta, một quy luật phổ biến với mọi nước XHCN. Từ khẳng định đó,
các tác giả đã phân tích, luận chứng làm rõ mối quan hệ, vai trò ngày càng
tăng của nhân tố KT với chiến tranh và QP; đồng thời, làm rõ tính quy luật;
yêu cầu, phương thức, đặc điểm, mức độ, trình độ, nội dung kết hợp KT
với QP ở nước ta. Tác giả còn chỉ ra, để KT và QP gắn bó khăng khít với
nhau đến mức như là một, phải có sự am hiểu, thống nhất hành động của
cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân; có một hệ thống tổ chức lãnh đạo,
quản lý thống nhất dựa trên một hệ thống pháp luật đầy đủ; có cơ quan
tham mưu và cán bộ tham mưu giỏi.