ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHÙNG BÍCH PHƯỢNG
ẢNH HƯỞNG CỦA THIẾT CHẾ LÀNG XÃ ĐỐI VỚI
VIỆC
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG BỐI CẢNH XÂY
DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI 2016
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
Phản biện 1: ......................................................................
Phản biện 2: ......................................................................
việc tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả đặt ra yêu cầu tất yếu là
Nhà nước phải tuân thủ tuyệt đối các quy định pháp luật.
Ở nước ta, xuất phát từ đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội, mà đời sống của người dân Việt Nam từ bao đời nay luôn
gắn bó với làng. Thiết chế làng xã xuất hiện từ rất sớm và tồn tại
bền vững cho đến ngày nay. Mặc dù hiện nay, quản lý hành chính Nhà
nước là quản lý ở cấp xã, thôn nhưng trên thực tế trong một xã, thôn
vẫn luôn tồn tại trong đó yếu tố làng. Yếu tố làng luôn tồn tại cùng
với đó là các mối quan hệ gắn kết giữa các thành viên trong cộng
đồng làng. Trong một xã có thể có một hoặc nhiều làng, tương tự như
vậy trong một thôn cũng gồm một hoặc nhiều làng.
Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, với mục tiêu biến nước ta trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại, cùng với đó là quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế với quy mô ngày càng sâu rộng đã tác động đến mọi mặt của
đời sống xã hội làng xã cùng với đó là sự tác động đến tâm lý, thói quen,
2
ý thức, trách nhiệm của người dân với pháp luật. Sự đan xen giữa những
yếu tố đặc trưng truyền thống, tính cộng đồng, tự trị ăn sâu, chi phối,
tác động đến nhận thức, hành động của người dân với yếu tố hiện đại
đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, hành động của người dân mà
biểu hiện trước hết là thái độ với pháp luật, việc thực hiện pháp luật
của người dân không chỉ ở làng xã mà cả những đô thị lớn. Bên cạnh
những ảnh hưởng tích cực của thiết chế làng xã đối với việc thực hiện
pháp luật như việc tăng cường hiệu quả, hiệu lực pháp luật thông qua
những tác động tích cực của dư luận xã hội; việc nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật thông qua hoạt động tự quản của thiết chế làng xã;
người dân sẽ tự giác thực hiện các quy định của làng xã, quy định pháp
trị, văn hóa, lối sống, pháp luật của làng xã
Tìm hiểu những thay đổi căn bản trong đời sống kinh tế, chính
trị, văn hóa xã hội của thiết chế làng xã trong bối cảnh hiện nay để từ
đó tìm ra những tác động tích cực, tiêu cực của thiết chế làng xã cũng
như nguyên nhân của những tác động này đối với việc thực hiện pháp
luật hiện nay.
Đưa ra bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong bối cảnh xây dựng nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu nét đặc trưng của làng xã,
những tác động của thiết chế làng xã đối với việc thực hiện pháp luật
để từ đó đề ra phương hướng, giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả thực hiện pháp luật ở làng xã Việt Nam trong bối cảnh xây dựng
Nhà nước pháp quyền hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở việc nghiên cứu thiết chế làng
xã Việt khu vực đồng bằng Bắc Bộ, nơi làng xã hình thành từ sớm, có
kết cấu bền chặt.
4
4. Đóng góp mới của Luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hóa các cơ sở lý luận và làm rõ hơn
những vấn đề liên quan đến làng xã và thiết chế làng xã, các đặc trưng
của thiết chế làng xã, sự biến đổi của yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội làng xã ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật. Từ đó, đề xuất
những giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục ảnh
hưởng tiêu cực của thiết chế làng xã đối với việc thực hiện pháp luật ở
nước ta hiện nay.
5. Kết cấu của luận văn
Thiết chế xã hội được hình thành và thiết lập từ nhu cầu khách
quan trong hoạt động sống của con người và được thực hiện thông qua
hành vi xã hội của con người.
Thiết chế xã hội không chỉ là mô hình hành vi mà còn là công cụ
để kiểm soát và quản lý xã hội.
Thiết chế xã hội có chức năng điều tiết các quan hệ xã hội trong
các lĩnh vực khác nhau của hệ thống xã hội, là phương tiện để điều hòa,
kiểm soát xã hội và mục đích cuối cùng của thiết chế xã hội là nhằm
thỏa mãn nhu cầu xã hội.
1.1.1.2. Đặc điểm của thiết chế xã hội
Thiết chế xã hội hình thành trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội
nhất định. Thiết chế xã hội hình thành trong điều kiện kinh tế xã hội
khác nhau sẽ có điểm khác biệt với nhau mà khác biệt đầu tiên và rõ
ràng nhất mà có ta có thể dễ dàng nhận thấy là sự thay đổi về tính
chất của đối tượng tác động.
Giữa thiết chế xã hội và điều kiện kinh tế xã hội có tác động
qua lại với nhau.
Thiết chế xã hội phản ánh tính giai cấp một cách rõ rệt.
6
Thiết chế xã hội bao gồm nhiều loại hình thiết chế khác nhau như
thiết chế kinh tế, thiết chế chính trị, thiết chế văn hóa, thiết chế tôn
giáo, thiết chế giáo dục...
1.1.1.3. Chức năng của thiết chế
Có thể xem xét đến hai chức năng cơ bản của thiết chế đó là điều
hòa xã hội và kiểm soát xã hội.
Chức năng điều hòa xã hội của thiết chế nhằm khuyến khích, điều
chỉnh, điều hòa hành vi của con người cho phù hợp với quy phạm và
chuẩn mực của thiết chế.
lại, yếu tố kinh tế, phục vụ mục đích sản xuất là nguyên nhân chủ yếu và
cơ bản cố kết con người lại với nhau và cũng là yếu tố cơ bản hình thành
nên làng xã.
1.1.2.2. Đặc điểm của thiết chế làng xã Việt Nam
Thứ nhất, thiết chế làng xã là tổng hợp của nhiều mối quan hệ, là
tổ hợp được hình thành không phải theo một mà nhiều cách, nhiều
nguyên tắc khác nhau, tạo nên nhiều loại hình, nhiều cách tập hợp
người khác nhau nhưng hoà đồng trong phạm vi làng.
Thứ hai, thiết chế làng xã tồn tại như những đơn vị độc lập tương
đối.
Thứ ba, thiết chế làng xã có kết cấu tổ chức đa dạng, chặt chẽ.
Thứ tư, tính cộng đồng của thiết chế làng xã.
Thứ năm, tính tự trị của thiết chế làng xã.
1.1.2.3. Các thiết chế làng xã cơ bản hiện nay
Tương tự như thiết chế xã hội, thiết chế làng xã cũng bao gồm
nhiều loại hình thiết chế khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội
làng xã. Từ đó, có thể kể đến một số thiết chế làng xã cơ bản như: thiết
chế kinh tế, thiết chế chính trị, thiết chế văn hóa… Ngoài ba bộ phận
cơ bản của thiết làng xã này, có thể kể đến những thiết chế làng xã phụ
trợ khác như thiết chế gia đình, thiết chế giáo dục, thiết chế tôn giáo…
8
1.1.3. Chính sách, pháp luật về thiết chế làng xã hiện nay
Hiện nay, các văn bản pháp luật đề cập khá nhiều đến các nội dung liên
quan đến việc điều chỉnh mối quan hệ của thiết chế làng xã. Trong đó, có thể
kể đến là các quy định liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng thôn,
làng, ấp, bản; việc xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước của làng xã như
Nghị định số 79/2003/NĐCP ngày 07/7/2003 của Chính phủ về ban hành Quy
chế thực hiện dân chủ ở xã; Thông tư liên tịch số
thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (trong khuôn khổ
những hành vi mà pháp luật cho phép).
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó
nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách để
tổ chức cho các thủ thể pháp luật thực hiện các quy định pháp luật hoặc
tự mình căn cứ quy định của pháp luật để ban hành quyết định nhằm
làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt hoặc đình chỉ quan hệ pháp luật cụ
thể.
Các hình thức thực hiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ, biện
chứng với nhau trong hoạt động thực hiện pháp luật. Quá trình và kết
quả của các hình thức thực hiện pháp luật là thước đo hiệu quả điều
chỉnh pháp luật. Thực hiện pháp luật nhằm tạo ra “đời sống thứ hai”
cho pháp luật.
1.2.2.2. Cơ chế thực hiện pháp luật
Cơ chế thực hiện pháp luật có thể hiểu là những cách thức tác
động, những yếu tố ảnh hưởng tới việc các cá nhân, nhóm xã hội lựa
chọn hành vi của mình trong việc quyết định thực hiện hay không thực
hiện các quy định pháp luật. Từ đó, cơ chế thực hiện pháp luật bao
gồm:
Mối liên hệ giữa hoạt động thực hiện pháp luật và trình độ tri
thức, hiểu biết pháp luật của con người.
Cơ chế tâm lý bắt chước trong thực hiện pháp luật.
10
Cơ chế lây lan tâm lý trong thực hiện pháp luật.
Cách thức các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp
luật.
1.3. Khái quát chung về Nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền có thể hiểu là một hình thức tổ chức nhà
các quan hệ xã hội.
Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với
Nhà nước, không ngừng đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với Nhà nước.
Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nhà nước quản lý xã hội
bằng pháp luật, coi trọng việc nâng cao giá trị đạo đức.
1.4. Thiết chế làng xã trong mối tương quan với thực hiện pháp
luật
1.4.1. Mối tương quan giữa yếu tố kinh tế của thiết chế làng
xã với việc thực hiện pháp luật
Nếu điều kiện kinh tế xã hội phát triển một cách năng động, bền
vững sẽ là điều kiện, tiền đề thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp
luật, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp
luật của các tầng lớp xã hội; đời sống vật chất được nâng cao, người
dân có nhiều điều kiện để tiếp cận với pháp luật, hiểu biết pháp luật và
thực hiện pháp luật một các tích cực, chủ động. Ngược lại, khi kinh tế
xã hội chậm phát triển, kém năng động và hiệu quả sẽ có thể ảnh
hưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật.
Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự nhận thức, hiểu biết pháp luật và
thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện
pháp luật của các chủ thể pháp luật.
1.4.2. Mối tương quan giữa yếu tố chính trị của thiết chế làng
12
xã với việc thực hiện pháp luật
Môi trường chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với hoạt
động thực hiện pháp luật bởi nó củng cố niềm tin của nhân dân đối với
hệ thống chính trị, hệ thống trực tiếp quản lý, đảm bảo quyền và lợi ích
của người dân. Ngược lại, sự bất ổn định về chính trị sẽ ảnh hưởng
quy định pháp luật của Nhà nước đi vào thực tiễn. Từ việc xác định
được mối tương quan giữa các yếu tố pháp luật và việc thực hiện pháp
luật ở thiết chế làng xã sẽ góp phần tìm hiểu và phân tích những tác
động, ảnh hưởng của yếu tố này đến việc thực hiện pháp luật ở làng
xã.
Chương 2
THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA THIẾT CHẾ LÀNG XÃ
ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP KHẮC
PHỤC ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC VÀ PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG
TÍCH CỰC CỦA THIẾT CHẾ LÀNG XÃ ĐỐI VỚI VIỆC THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1. Những thay đổi căn bản trong đời sống kinh tế, chính trị,
văn hóa – xã hội của thiết chế làng xã trong bối cảnh hiện nay
2.1.1. Những thay đổi về mặt kinh tế của thiết chế làng xã
trong bối cảnh hiện nay
Sự thay đổi của phương thức lao động, sản xuất, các thành phần
kinh tế trở nên đa dạng. Từ đó, vai trò tự chủ của kinh tế gia đình được
tái xác lập. Trong lao động sản xuất có sự phân công chuyên môn hóa,
tính chất thủ công của công cụ lao động và lao động sản xuất dần được
thay thế bằng máy móc, áp dụng công nghệ tiến tiến vào sản xuất. Đời
sống người dân ngày một phát triển. Quan hệ lợi ích, quan hệ xã hội
của cá nhân bị ảnh hưởng bởi quan hệ thị trường với sự tính toán thiệt
14
hơn. Chính những thay đổi về kinh tế đã tác động đến tâm lý con người,
cách nhìn nhận của con người trong mối quan hệ với nhau và với pháp
luật. Từ đó đặt ra vấn đề cần giải quyết được những xung đột lợi ích
trên đồng thời phòng ngừa sự chuyển hóa xung đột xã hội đó thành xung
đột chính trị nhằm đảm bảo an ninh, sự phát triển bền vững của thiết
các quy định pháp luật, cũng như việc thực hiện các quy định pháp luật
trở nên dễ dàng hơn. Người dân sẵn sàng thực hiện các quy định, quy
ước của làng và những quy định pháp luật nếu dư luận cho đó là đúng
và nên làm. Bên cạnh những ảnh hưởng từ phản ứng tích cực của dư
luận xã hội thì sự phán xét, bất bình của dư luận xã hội với những hành
vi vi phạm pháp luật, với những điều dư luận cho là không đúng cũng sẽ
có tác động rất lớn đến việc điều chỉnh ý thức pháp luật của cá nhân.
2.2.1.2. Hoạt động tự quản của thiết chế làng xã là công cụ giúp
việc thực hiện pháp luật đạt hiệu quả trên thực tế
Hoạt động tự quản của thiết chế làng xã phát huy vai trò trong
nhiều lĩnh vực như sản xuất kinh doanh, đảm bảo an ninh trật tự tại địa
bàn dân cư, giữ gìn, bảo vệ môi trường sống, bảo vệ và phát triển các
giá trị văn hóa xã hội… từ đó góp phần phát triển kinh tế xã hội, ổn định
an ninh chính trị và quản lý xã hội, tạo chuyển biến tích cực trong cộng
đồng dân cư, mở rộng dân chủ cơ sở. Hoạt động tự quản làng xã chủ
yếu dựa trên quy ước, hương ước, lệ làng – văn bản điều chỉnh mọi
mặt đời sống của làng xã, được mọi người dân trong làng thừa nhận và
áp dụng. Hoạt động tự quản không chỉ bổ sung, trợ giúp chính quyền địa
phương quản lý xã hội mà còn tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận
thức, hành động của nhân dân với pháp luật, nâng cao chất lượng cuộc
sống của người dân đồng thời nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở, phát huy tính cộng đồng, tự quản của cá nhân, tổ chức, làm
sáng rõ bản chất của nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ
16
nghĩa của dân, do dân, vì dân.
2.2.1.3. Nhân dân tự giác thực hiện các quy định chung của làng và
các quy định pháp luật của Nhà nước khi được chính quyền làng xã triển
khai
việc thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay
2.2.2.1. Tác động tiêu cực của thiết chế làng xã đối với việc thực
hiện pháp luật ở nước ta hiện nay
Thứ nhất, vấn đề trách nhiệm cá nhân trong thiết chế làng xã
không được phát huy. Hình thành thói dựa dẫm, ỷ nại, những quy định
về trách nhiệm cá nhân trong các văn bản pháp luật không được coi
trọng trong khi trên thực tế các vấn đề này cần phải được làm rõ. Đối
với các cán bộ công chức và những người giữ chức vụ quan trọng trong
bộ máy quản lý làng xã, tính cộng đồng cũng có ảnh hưởng không nhỏ.
Cán bộ không dám nghĩ, không dám làm vì sợ chịu trách nhiệm, làm việc
tùy tiện. Từ đó gây ảnh hưởng đến sự phát triển của làng xã và sự minh
bạch trong tổ chức, hoạt động của làng xã.
Thứ hai, tính tự trị của thiết chế làng xã là nguồn gốc hình thành
xu hướng làm cho làng xã hoạt động độc lập hoàn toàn, xa rời quỹ đạo
quản lý của nhà nước, hình thành nên chủ nghĩa địa phương cục bộ.
Chính tính địa phương cục bộ là nguyên nhân khiến cho pháp luật của
nhà nước khó đi vào thực tế cuộc sống của làng. Tư tưởng của đội ngũ
cán bộ, công chức và những người giữ chức vụ quản lý của làng xã bị
ảnh hưởng, hình thành bè phái trong nội bộ cơ quan, không quan tâm
đến lợi ích chung, cấu kết, bao che cho nhau, chỉ quan tâm, tìm cách
mang lại lợi ích cho địa phương, cơ quan, dòng họ mình.
Thứ ba, thói quen tùy tiện trong thực hiện pháp luật. Thói quen
tùy tiện và cách hành xử không thượng tôn pháp luật diễn ra hàng
ngày, ở mọi nơi, mọi lúc không kể nông thôn hay thành thị, với mọi
18
đối tượng, dưới nhiều hình thức biểu hiện đa dạng và phức tạp. Thói
quen tùy tiện trong thực hiện pháp luật của người dân thể hiện trong
tất cả các ngành, các lĩnh vực.
được những thành tựu đáng kể, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.
Dưới những ảnh hưởng, tàn dư của nền kinh tế cũ đã tạo ra nhiều biến
đổi trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, lối sống của làng xã
đặc biệt là việc thực hiện pháp luật ở làng xã, việc thực hiện pháp luật,
suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức làng xã, những
người giữ chức vụ quản lý trong làng.
Thứ ba, nguyên nhân từ hệ thống pháp luật hiện nay. Hạn chế về
hình thức và nội dung quy phạm, kỹ thuật lập pháp vẫn tồn tại nhiều
vấn đề. Có những lĩnh vực mà các quy phạm pháp luật chưa điều chỉnh
đến, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Khoảng cách về sự phù
hợp giữa hương ước, lệ làng và pháp luật của nhà nước còn khá xa nhau
trong khi thói quen thực hiện các quy định của hương ước, lệ làng của
người dân còn khá phổ biến. Từ đó, ý thức chấp hành các quy định pháp
luật của người dân còn nhiều hạn chế. Cùng với đó là sự chưa hoàn
thiện, thống nhất, ổn định trong các quy định pháp luật, việc trình bày
các quy phạm đôi khi còn phức tạp, mập mờ làm cho việc áp dụng pháp
luật không đúng hoặc không thống nhất, đặc biệt là việc soạn thảo, ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật của xã.
Thứ tư, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa
được chú trọng đúng mức trong khi ý thức thực hiện pháp luật của
người dân ở làng xã còn nhiều hạn chế. Mặt khác, cơ chế, kế hoạch
phối hợp trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở
làng xã còn nhiều hạn chế. Từ đó, không phát huy được hết sức mạnh
của các đoàn thể, sự tham gia của các tổ chức đặc biệt là các tổ chức tự
quản làng xã trong công tác này.
Ngoài những nguyên nhân chính như đã trình bày ở trên, những tác
20
động, ảnh hưởng tiêu cực của thiết chế làng xã đối với việc thực hiện