Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Nghiên cứu thực trạng nhiễm giun xoắn (Trichinella spp) tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và hiệu quả biện pháp can thiệp (2015 – 2017) - Pdf 59

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, bệnh giun xoắn được phát hiện trên người từ năm 1967. Đến nay
đã có ít nhất 5 vụ dịch giun xoắn xảy ra tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La,
Yên Bái, Thanh Hóa với trên 140 người mắc và 15 người tử vong. Bệnh giun xoắn
được xếp ở nhóm C trong Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm số 3/2007/QH 12,
ngày 21 tháng 11 năm 2007. Các nghiên cứu dịch tễ Trichinella tại Việt Nam còn
hạn chế, chủ yếu là mô tả hình thái dịch, triệu chứng lâm sàng và điều trị và phòng
chống bệnh giun xoắn tại các vụ dịch xảy ra. Do vậy cần có một nghiên cứu toàn
diện hơn về bệnh giun xoắn tại cộng đồng để tìm hiểu về dịch tễ sự lưu hành bệnh,
sự tồn tại các ổ bệnh trong tự nhiên, loài giun xoắn và diễn biến của bệnh trong
cộng đồng tại những vùng đã từng xảy dịch để từ đó đề xuất được các biện pháp dự
phòng và chống dịch bệnh giun xoắn hiệu quả.
Từ thực tiễn và ý nghĩa nêu trên, đề tài: “Nghiên cứu thực trạng nhiễm giun
xoắn (Trichinella spp) tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và hiệu quả biện
pháp can thiệp (2015 – 2017)” được triển khai.
Mục tiêu
1. Mô tả thực trạng nhiễm giun xoắn trên người và động vật tại 4 tỉnh: Yên Bái,
Sơn La, Điện Biên và Thanh Hóa năm 2015.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan tới tình trạng nhiễm giun xoắn ở người tại
các điểm nghiên cứu.
3. Đánh giá hiệu quả can thiệp cộng đồng bằng truyền thông giáo dục sức khỏe
tại các điểm nghiên cứu.
TÍNH KHOA HỌC, TÍNH MỚI VÀ TÍNH THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
-

Đánh giá được thực trạng nhiễm giun xoắn trên người và lợn nuôi, chuột tại 20 xã
thuộc 4 huyện có dịch giun xoắn cũ với tỷ lệ nhiễm ấu trùng trên người là 10,5% ở
Điện Biên; 9,8% ở Sơn La và 1,4% ở Thanh Hóa;

-


Tác nhân gây bệnh và ổ bệnh

- Tác nhân gây bệnh: Trichina spiralis giun tạo kén trong cơ.
- Ổ bệnh: trong tự nhiên lưu hành ở các loại động vật hoang dại như lợn rừng, gấu,
ngựa, chó sói, cáo, mèo rừng…và các động vật gần người như lợn nuôi thả rông,
chuột.
1.2.2

Đường truyền bệnh

Người hoặc động vật mắc bệnh giun xoắn do ăn thịt sống, thịt tái, tiết canh hoặc
những thực phẩm từ thịt chưa nấu chín có chứa nang ấu trùng giun xoắn. Giun xoắn
không lây truyền trực tiếp từ người sang người.
1.2.3

Khối cảm nhiễm và miễn dịch

Mọi người không phân biệt giới tính, tuổi, dân tộc, đều có thể mắc bệnh giun
xoắn khi ăn thịt chưa nấu chín có chứa nang ấu trùng giun xoắn. Tuy nhiên trẻ em
có ít biến chứng và phục hồi nhanh hơn người lớn. Chứng tăng bạch cầu ái toan
(BCAT) máu và mô là đặc trưng bệnh giun xoắn ở người và IgE tổng số tăng xuất
hiện ở nhiều trường hợp nhiễm bệnh. Tuy nhiên, vai trò bảo vệ của quần thể tế bào
này chống lại ký sinh trùng Trichinella như thế nào vẫn còn gây tranh cãi. Hơn nữa,
khi số lượng bạch cầu ái toan rất lớn, có thể gây độc hại đối với các mô chủ. Triệu
chứng bệnh ở thai phụ thường nhẹ hơn so với những người không mang thai, có ghi
nhận sẩy thai hoặc thai chết lưu do giun xoắn. Các triệu chứng của bệnh giun xoắn
nặng một cách điển hình ở các phụ nữ đang cho con bú hơn là phụ nữ không cho



khói, thịt treo gác bếp, thịt nấu chưa chín kỹ. Bệnh thường xảy ra vào các ngày lễ
hội, nơi tập trung ăn uống nhiều người có giết mổ lợn hoặc săn được thú rừng. Hay
gặp ở cộng đồng có hiểu biết về bệnh giun xoắn và biện pháp phòng chống bệnh
giun xoắn còn hạn chế. Đặc biệt, nơi có tập quán nuôi lợn thả rông hoặc bán thả
rông, đặc biệt ở là các dân tộc ít người ở vùng rừng núi và trung du.
1.4. Chẩn đoán và điều trị bệnh giun xoắn
1.4.1.Chẩn đoán: Bệnh giun xoắn là bệnh thuộc nhóm C trong Luật phòng chống,


4
bệnh truyền nhiễm (ICD-10 B75).
- Trường hợp bệnh nghi ngờ: Là trường hợp có ăn thịt lợn chưa nấu chín, tiết canh
kèm theo các triệu chứng (1) Sốt nhẹ sau tăng dần, sau 2-3 ngày thân nhiệt có thể
lên tới 39-40oC; (2) Đau cơ xuất hiện khi thở sâu, ho, khi nhai, nuốt, đại tiện, đau cả
mặt và cổ, đau khi vận động và cả khi ăn, nói; (3) Phù mi mắt, phù mặt, sau lan
xuống cổ và chi trên; (4) Có biểu hiện rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy hoặc táo bón).
- Trường hợp bệnh nghi ngờ có nồng độ creatine kinase máu tăng.
- Trường hợp bệnh xác định: Là trường hợp bệnh nghi ngờ và có một trong các kết
quả xét nghiệm (1) Xét nghiệm tìm kháng thấy kháng thể kháng giun xoắn bằng kỹ
thuật ELISA hoặc, (2) Sinh thiết tìm thấy ấu trùng giun xoắn trong cơ, hoặc (3) Xác
định được đoạn gen đặc hiệu của giun xoắn bằng kỹ thuật sinh học phân tử.
1.4.2.Điều trị: Điều trị đặc hiệu kết hợp với điều trị triệu chứng, biến chứng tim
mạch, phổi, viêm cơ, bù nước, điện giải và nâng cao thể trạng.
- Albendazol: Người lớn dùng 800mg/ngày (hoặc liều 15 mg/kg/ngày) x 7 ngày.
Trẻ em trên 2 tuổi dùng liều 10 mg/kg/ngày. Nếu nhiễm nặng có thể điều trị nhắc
lại sau đợt điều trị lần một 5 ngày.
- Mebendazol: liều 5-20mg/kg/ngày x 8 - 14 ngày.
- Thiabendazol: Liều 25mg/kg cân nặng/ngày x 24 ngà.
Điều trị triệu chứng: Chống dị ứng; Hạ sốt, giảm đau, an thần; Phòng và xử trí suy
hô hấp; Kháng sinh phòng và chống bội nhiễm; Nâng cao thể trạng: Bù nước, điện


độ để diệt ấu trùng tại -15°C trong 20 ngày hoặc -23°C trong 10 ngày, hoặc -29°C


5
trong 6 ngày. Thịt ướp muối, xông khói, hoặc làm khô thịt sẽ không tiêu diệt được
nang kén.
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Người: Những người dân từ 6 tuổi trở lên, không phân biệt dân tộc, giới tính, nghề
nghiệp sinh sống tại các địa điểm nghiên cứu được lựa chọn
- Động vật: Lợn nuôi hoặc thả rông tại điểm nghiên cứu không phân biệt nguồn
gốc, giống, tuổi; Chuột hoang bắt tại các cánh đồng điểm nghiên cứu.
- Ấu trùng giun xoắn thu được trên động vật và bệnh nhân trong các điểm nghiên
cứu (nếu có).
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
- Thực địa: Bốn tỉnh Yên Bái, Sơn La, Điện Biên, Thanh Hóa, mỗi tỉnh chọn chủ
đích 1 huyện gồm 1 xã đã từng có dịch giun xoắn và 4 xã giáp ranh chưa có dịch
- Phòng thí nghiệm: Phòng xét nghiệm Ký sinh trùng, Trường Cao đẳng Y tế
Đặng Văn Ngữ, Phòng xét nghiệm Khoa Sinh học phân tử, Viện Sốt rét - Ký sinh
trùng - Côn trùng Trung ương.
2.2. Thời gian thực hiện
Nghiên cứu được triển khai từ tháng 5/2015 đến tháng 5/2017.
2.3. Thiết kế nghiên cứu
- Mục tiêu 1 và 2: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả có phân tích.
- Mục tiêu 3: Nghiên cứu dịch tễ học can thiệp cộng đồng có đối chứng
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu dịch tễ học (mục tiêu 1 và 2)
- Mẫu nghiên cứu tỷ lệ nhiễm trên người và phỏng vấn

- Kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể Trichinella.
- Kỹ thuật Western Blot phát hiện kháng thể Trichinella.
- Kỹ thuật xét nghiệm giọt máu đàn để đếm và phân loại bạch cầu.
- Kỹ thuật tiêu cơ phát hiện ấu trùng giun xoắn ở động vật.
- Thu thập ấu trùng giun xoắn theo khóa định loại của Murrell và cs., 2000. Bảo
quản trong cồn 70oC ở nhiệt độ âm.
- Kỹ thuật PCR đa mồi định loại theo quy trình của phòng thí nghiệm tham chiếu
thế giới về bệnh giun xoắn (ISS, Rome, Ý).
- Giải trình tự gen: Tiến hành giải trình tự trên máy giải trình tự ABI 3500, so sánh
kết quả với các trình tự gen được lưu trữ trên ngân hàng genbank, xác định độ
tương đồng của các trình tự gen.
-

Tiến hành can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe.

-

Can thiệp bằng điều trị đặc hiệu albendazol 800mg/ngày x 7 ngày.

2.6. Chỉ số và biến số
-

Các biến số thu thập bằng bộ câu hỏi:
+ Tuổi: tính bằng năm và chia 4 nhóm (dưới 15; từ 15 – 59 tuổi; trên 59 tuổi).
+ Giới: nam và nữ.
+ Trình độ học vấn: mù chữ, tiểu học, THCS, THPT, trên THPT.
+ Nghề nghiệp: nông dân và khác


7

Các chỉ số hiệu quả (CSHQ):
+ CSHQ của nhóm can thiệp= (TLtct - TLsct)/TLtct x 100%
+ CSHQ của nhóm chứng=(TLtc - TLsc)/TLtc x 100%
+ Chỉ số đánh giá hiệu quả can thiệp (HQCT)
= CSHQ của nhóm can thiệp - CSHQ của nhóm chứng

2.7. Phƣơng pháp xử lý số liệu
-

Kết quả nghiên cứu được trình bày theo tỷ lệ (%) của các biến số.

-

Phân tích so sánh các chỉ số thông qua p, 2.

-

Tính độ chênh OR, CI 95%

-

Kích thước các băng AND chuẩn định loại các loài giun xoắn.

-

Trật tự các axit amin trong đoạn gen thu được và giả trình từ.

-

Vị trí trên cây phả hệ.

nghiệm

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Sơn La

1.033

142

13,7

Điện Biên

1.019

135

13,2

Thanh Hóa

1.175

24

2,0



WB (+)

Điểm nghiên cứu

nghiệm

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Sơn La

1.033

101

9,8

Điện Biên

1.019

107

10,5

Thanh Hóa

1.175

5,2% (225/4.362) sau xét nghiệm ELISA và WB. Tỷ lệ nhiễm tại Điện Biên và Sơn
La tương đối cao lần lượt là 10,5% và 9,8%; tại Thanh Hóa có tỷ lệ nhiễm thấp hơn
1,4% và Yên Bái không tìm thấy trường hợp nào nhiễm Trichinella. Sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Phân bố nhiễm giun xoắn theo tuổi, giới và dân tộc
- Nam nhiễm giun xoắn thấp hơn giới nữ (3,8% vs 5,9%, p0,05).
- Dân tộc Hmông có tỷ lệ nhiễm giun xoắn cao nhất là 6 %, tiếp là Thái 5,1%, Kinh
2,4% và thấp nhất là dân tộc Mường 1,5% (p>0,05).
Bảng 3.11. Phân bố tỷ lệ tăng bạch cầu ái toan ở nhóm nhiễm giun xoắn tại bốn tỉnh
nghiên cứu
Nhiễm giun
xoắn

Không
Tổng

Bạch cầu ái toan
Tăng

Bình thường

66

159

(25,9%)

(3,9%)


10
giun xoắn nhưng BCAT bình thường là 3,9%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p
0

Yên Bái

215

2

0,9

0

0

Tổng cộng

860

10

1,16

01

0,12

Nhận xét: Tổng số 860 mẫu huyết thanh lợn thu thập tại 20 xã nghiên cứu, có 10
mẫu ELISA dương tính với kháng thể giun xoắn chiếm 1,16%. Tỷ lệ ELISA dương
tính ở lợn tại Sơn La cao nhất với 2,33%.
Thẩm định bằng kỹ thuật Western Blot chỉ có 01/10 mẫu dương tính tại xã Phiên

100

0

0,0

Thanh Hóa

215

100

0

0,0

Yên Bái

215

110

0

0,0

Tổng cộng

860



Hình 3.11. Kết quả PCR xác định giống Trichinella gen đích COI
M: Thang chuẩn ADN 100 bp. Giếng 1: Mẫu SL53 - dương tính với giống
Trichinella. Giếng 2: Mẫu YB48 – âm tính. Giếng 3: Chứng dương Trichinella
spiralis – ngân hàng mẫu ITM
Nhận xét: Sau khi phân tích bằng kỹ thuật multiplex PCR xác định có 01 mẫu có


12
kích thước 173 bp được xác định có khả năng nhiễm T. spiralis. Khuếch đại ADN
gen đích COI của mẫu này thu được sản phẩm PCRcó kích thước 419 bp – băng
chuẩn của giống Trichinella và mẫu này đã được giải trình tự lặp lại 2 lần trên cả
hai mạch xuôi và ngược được đoạn gen dài 398 nucleotid , kết quả so sánh với
ngân hàng gen thấy có độ tương đồng từ 94-99% với các mẫu đã được lưu trữ trên
ngân hàng genbank là loài Trichinella spiralis.

Hình 3.14. Cây chủng loại phát sinh của giống Trichinella dựa trên trình tự gen COI
– sử dụng phần mềm MEGA 71
Sử dụng trình tự COI để xây dựng cây chủng loại phát sinh với các loài giun xoắn
khác đã được công bố trên ngân hàng gen. Trình tự gen của mẫu phân tích có độ
tương đồng 100% với trình tự của Trichinella spiralis được thu thập tại Trung Quốc
và có sự khác biệt với các loài Trichinella khác.
3.2. Kết quả nghiên cứu yếu tố liên quan đến nhiễm giun xoắn ở ngƣời tại điểm
nghiên cứu:
3.2.1. Mối liên quan giữa người sống tại các xã đã từng có dịch giun xoắn và
người sống ở xã khác với nhiễm giun xoắn
Bảng 3.16. Liên quan giữa người sống ở xã đã có dịch và xã không có dịch với
nhiễm giun xoắn
Sống ở xã


4.362

OR

Giá trị

(CI 95%)

p

1,08
(0,79 -1,49)

>0,05

Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối liên quan giữa người sống ở


13
xã đã từng có dịch giun xoắn và sống ở xã không có dịch với nhiễm ấu trùng giun
xoắn (OR = 1,08; CI 95%: 0,79-1,49; p > 0,05).
3.2.2. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành nhiễm giun xoắn
Bảng 3.18. Liên quan giữa kiến thức về bệnh giun xoắn của ĐTNC với nhiễm giun
xoắn
Nhiễm

Kiến thức

(+)


3,33

701

714

(1,89-5,86)

214

3.463

3.677

3,8



11

674

685

(2,05-6,98)

Biết cách phòng

Không


nguy có mắc bệnh cao gấp 3,8 lần những người biết tác hại của bệnh với p < 0,05;
những người không biết cách phòng bệnh nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5,0 lần những
người biết biểu hiện của bệnh với p < 0,05.
3.2.3. Mối liên quan giữa thực hành phòng chống bệnh giun xoắn với nhiễm
giun xoắn
Bảng 3.19. Liên quan giữa ăn thịt thú rừng với nhiễm giun xoắn
Nguồn gốc thịt

Nhiễm giun xoắn
(+)

(-)

Tổng

OR
(CI 95%)

Ăn thịt



86

666

752

3,3


37

268

305

Loại thịt
thú rừng

3,4
(1,88-6,13)

Giá trị p


(CI 95%)

p

398

3,4

3.793

3965

(2,44-4,7)

45

132

177

9,1

8

213

221

(4,15-19,86)


366

182

3.771

20

145

23

221

Tổng

OR

Giá trị

(CI 95%)

p

409

2,4

3953

Bảng 3.29. Tỷ lệ nhiễm giun xoắn trước và sau can thiệp
Địa điểm NC

Trước can thiệp

Sau can thiệp

CSHQ

HQCT

(n=2.052)

(n=2.090)

(%)

(%)

Số lượng

TL%

Số lượng

TL%

Can thiệp

101/1.033

Biến số
Số điều tra


Biết về
bệnh

Không



hại của
bệnh

Không

SCT

TCT

SCT

1.033

1.038

1.019

1.060


(69,7%)

277,0



phòng
bệnh

Không

CSHQ (%)

598

151

278

(14,0%)

(57,6%)

(14,8%)

(26,2%)

888

440


(58,9%)

(14,3%)

(20,4%)

878

426

873

844

(85,0%)

(41,1%)

(85,7%)

(79,6%)

292,7

(%)

83,6

145

tái/sống


Không

SCT

TCT

SCT

1.033

1.038

1.019

1.060

197

60

185

146

(19,1%)

(5,8%)


103

82

(10,65%)

(5,01%)

(10,11%)

(7,74%)

923

1.006

916

1.018

52,96


lợn sống

Không
CSHQ (%)

(%)


(13,06%)

(2,41%)

(12,27%)

(10,94%)

898

1003

894

973

81,55

70,7

10,84

Nhận xét: Tỷ lệ người dân còn ăn thịt lợn tái/sống giảm từ 19,1% xuống còn 5,8%
sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Thói quen ăn thịt lợn tái/sống, hiệu
quả can thiệp đạt mức 45,5% với p

173

199

(29,1%)

(39,5%)

(23,6%)

(26,8%)

533

425

560

543

(70,9%)

(60,5%)

(76,4%)

(73,2%)

35,7

Nghiên cứu có sự tham gia của 69 bệnh nhân cũ đã từng mắc bệnh giun xoắn trước
đây ở các vụ dịch. Trong đó tỷ lệ người đã nhiễm giun xoắn ở huyện Tuần Giáo tỉnh
Điện Biên tương đối cao 10,5%, tiếp đến là huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La 9,8% và
huyện Mường Lát tỉnh Thanh Hóa là 1,4%. Tỷ lệ người có kết quả xét nghiệm ELISA
dương tính tại Mường Lát tỉnh Thanh Hóa trong nghiên cứu này thấp hơn so với kết
quả xét nghiệm ELISA năm 2013 ngay sau thời điểm có dịch giun xoắn ở Mường Lát
tỉnh Thanh hóa cho kết quả dương tính 7,4% (18/242 người xét nghiệm).
4.1.2. Tỷ lệ nhiễm giun xoắn ở động vật tại các điểm nghiên cứu:
Trong tổng số 860 mẫu huyết thanh lợn thu thấp tại 20 xã tại của 4 huyện
thuộc 4 tỉnh, chỉ có 10 mẫu cho kết quả dương tính với kháng thể giun xoắn chiếm
1,16% bằng kỹ thuật ELISA, nhưng khi thẩm định lại bằng kỹ thuật Western Blot
chỉ có 01 mẫu dương tính, chiếm tỷ lệ 0,12%. Điều này có thể được giải thích thực
tế qua hàng loạt các chương tình điều tra của tác giả Vũ Thị Nga từ giai đoạn 2010 2014 thì số lượng lợn dương tính đã giảm. Hơn nữa, do một số ổ dịch trên người
vào các năm 2008, 2010 và 2012 đã được các ngành chức năng như thú y và y tế
truyền thông vào tận các hộ chăn nuôi về thói quen ăn thịt sống hoặc tái, vệ sinh


18
chăn nuôi. Tuy nhiên cho đến nay, hầu hết các huyện điều tra chưa có cơ sở giết mổ
tập trung, người dân vẫn giết mổ tại nhà và chưa thực hiện các biện pháp vệ sinh
giết mổ theo quy định thú y. Do số lượng mẫu thu thập rất ít không đủ để phân tích
thống kê nhưng 1 trường hợp dương tính ở lợn thuộc huyện có ổ dịch cũ phản ảnh
mầm bệnh vẫn còn tồn tại ở ngoài môi trường, lợn có cơ hội tiếp xúc với thịt còn
sót lại trong quá trình giết mổ không đảm bảo vệ sính an toàn thực phẩm hay được
người dân cho ăn những miếng thịt sống hoặc nấu chưa chín có chứa ấu trùng giun
xoắn. Khi so sánh kết quả nghiên cứu này với nghiên cứu của Vũ Thị Nga (2012),
chúng tôi nhận thấy tỷ lệ lợn có tỷ lệ nhiễm thấp hơn. Kết quả của tác giả trong
nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm giun xoắn là 19,9% và 5,6%. Nguyên nhân có sự
sai khác đó có thể là do cơ số mẫu nghiên cứu ít, cơ cấu chuyển đổi từ chăn nuôi
nhỏ lẻ lên chăn nuôi trang trại nhiều hơn, trình độ nhận thức của người chăn nuôi đã

cơ mắc giun xoắn.
4.1.3. Định loại loài giun xoắn
4.1.3.1. Hình thái học:
Cho đến năm 1972, giống Trichinella được coi chỉ có 1 loài duy nhất là
Trichinella spiralis, và vì là loài duy nhất nên tất cả các nghiên cứu đều được tiến
hành trên loài này. Từ những năm 1990 đến nay đã có tám loài được định danh và
bốn kiểu gen chưa được xác định đến loài. Giun xoắn đực dài khoảng 1,4 - 1,6 mm,
ở cuối đuôi có một đôi núm gai, không có gai giao hợp. Giun xoắn cái dài khoảng 3
- 4 mm, bộ phận sinh dục ở đoạn giữa thực quản, hậu môn ở phía đuôi Hậu môn ở
phía đuôi. Giun cái đẻ ra ấu trùng. Một giun cái đẻ trứng được từ 1000 đến 10000
ấu trùng.
4.1.3.2. Sinh học phân tử:
Kết quả của đề tài, ấu trùng giun xoắn thu hồi được từ phương pháp tiêu cơ thịt
chuột. Định loài bằng phương pháp multiplex PCR với cặp mồi đặc hiệu để xác
định sự hiện diện của loài giun xoắn. Đây là phương pháp ưu việt nhất về độ nhạy
và độ đặc hiệu của nó. Sau khi phân tích mẫu bằng kỹ thuật PCR đa mồi, nhận thấy
có 01 mẫu dương tính cho băng có kích thước 419 bp – băng chuẩn của giống
Trichinella. Kết quả multiplex PCR cho thấy mẫu ấu trùng giun xoắn thu hồi trên
chuột là loài duy nhất T. spiralis. Chúng tôi so sánh nghiên cứu này đồng nhất với
kết quả xác định loài của tác giả Vũ Thị Nga (2012, 2014) và cũng là loài phân lập
ở trên người của tác giả Nguyễn Văn Đề (2010). Kết quả này cho thấy cho đến nay,
chỉ duy nhất loài T. spiralis phân lập được tại Việt Nam cũng như một số nước có
đường biên giới với Việt Nam như Lào, Trung Quốc.. Kết quả giải trình tự so sánh
với ngân hàng gen thấy có độ tương đồng từ 94-99% với các mẫu đã được lưu trữ
trên ngân hàng gen, chứng tỏ đây đúng là loài Trichinella spiralis.


20
4.2. Kết quả điều tra KAP và một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun xoắn tại
các điểm nghiên cứu


21
đề cập trước là chưa từng thấy dịch bệnh giun xoắn bùng phát và trước đó một vài
người vẫn còn duy trì những nhận thức sai lệch.
4.3. Đánh giá hiệu quả can thiệp phòng chống giun xoắn cộng đồng bằng
truyền thông giáo dục sức khỏe:
Tại tất cả các xã của bốn tỉnh ngay sau điều tra ngang đợt 1 (trước can thiệp) các
trường hợp nhiễm giun xoắn dương tính đều được điều trị thuốc đặc hiệu albendazol
liều 800mg/ngày x 7 ngày liên tiếp. Trong thời gian điều trị thuốc đặc hiệu, các đối
tượng được các bộ y tế xã theo dõi tác dụng không mong muốn của thuốc. Các thông
điệp truyền thông giáo dục sức khỏe chính bao gồm: mô tả về bệnh giun xoắn, tác
hại và sự nguy hiểm của bệnh giun xoắn ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng
người bệnh; đường lây truyền bệnh giun xoắn và các biện pháp phòng, chống bệnh
giun xoắn. Tại tỉnh Sơn La và Điện Biên sau can thiệp tỷ lệ nhiễm giun xoắn
giảm thấp (7,2% vs 9,8% và 8,5% vs 10,5%). Sau can thiệp điều trị và truyền thông
giáo dục sức khỏe tại tỉnh Sơn La ( địa điểm can thiệp) và sau can thiệp điều trị tại tỉnh
Điện Biên ( địa điểm đối chứng) ta thấy chỉ số hiệu quả ở địa điểm can thiệp là 26,53%
và chỉ số hiệu quả tại địa điểm đối chứng là 19,04%. Và hiệu quả can thiệp đạt là 7,47%
với p
23
KẾT LUẬN
1. Thực trạng nhiễm giun xoắn trên ngƣời và động vật tại 4 tỉnh Yên Bái,
Sơn La, Điện Biên và Thanh Hóa, năm 2015
1.1. Thực trạng nhiễm giun xoắn trên người:
- Tỷ lệ nhiễm giun xoắn trên người tương đối thấp 5,2%, trong đó:
- Tỷ lệ nhiễm giun xoắn trên người ở Điện Biên là 10,5 (1,8% - 31,5%). Tỷ
lệ nhiễm giun xoắn ở Sơn La là 9,8% (0,9%-37,4%). Tại Thanh Hóa tỷ lệ nhiễm là
1,4% (1,2% đến 1,8%). Không phát hiện được trường hợp nào nhiễm giun xoắn tại
tỉnh Yên Bái.
- Tỷ lệ nhiễm giun xoắn ở nữ 5,9% cao hơn nam nhiễm 3,8%. Tỷ lệ tăng
bạch cầu ái toan ở nhóm người bị nhiễm giun xoắn cao hơn ở nhóm người nhiễm
giun xoắn mà không tăng bạch cầu ái toan (25,9% và 3,9%).
1.2. Thực trạng nhiễm giun xoắn ở động vật:
- Nhiễm giun xoắn ở lợn nuôi rất thấp, tỷ lệ nhiễm chung ở lợn là 0,12%
(1/860 lợn). Chỉ phát hiện được một con lợn nhiễm ấu trùng giun xoắn tại Sơn La
(0,47%)
- Nhiễm ấu trùng giun xoắn ở chuột rất thấp, tỷ lệ nhiễm chung ở chuột là
0,12% (1/860 chuột). Chỉ phát hiện được 1 con chuột tại Sơn La mang ấu trùng
giun xoắn (0,47%).
1.3. oài giun xoắn: Loài giun xoắn ở chuột tại tỉnh Sơn La được xác định
bằng kỹ thuật sinh học phân tử và thẩm định, giải trình tự gen là loài Trichinella
spiralis.
2.

Một số yếu tố liên quan tới tình trạng nhiễm giun xoắn ở ngƣời

- Người ăn thịt thú rừng có nguy cơ nhiễm ấu trùng giun xoắn cao gấp 3,3
lần so với người không ăn thịt thú rừng.
- Người ăn thịt lợn sống, tái có nguy cơ nhiễm ấu trùng giun xoắn cao gấp

nguyên ấu trùng giun xoắn trong máu cho cộng đồng và người nghi ngờ nhiễm
bệnh và xác định lại ca bệnh bằng kỹ thuật Western Blot có thể loại bớt được
nhược điểm của ELISA, tăng tính đặc hiệu cho chẩn đoán phát hiện giun xoắn ở
giai đoạn trong máu.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status