1 ảnh hưởng của nha chu đối với sinh non – sinh nhẹ cân một nghiên cứu bệnh chứng - Pdf 59

Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014

1 ẢNH HƯỞNG CỦA NHA CHU ĐỐI VỚI SINH NON – SINH NHẸ 
CÂN MỘT NGHIÊN CỨU BỆNH CHỨNG 
Vũ Trần Bảo Châu*, Ngô Thị Quỳnh Lan*  

TÓM TẮT 
Mở đầu: Bệnh nha chu là một bệnh tương đối thường gặp và được xem là một trong những yếu tố nguy cơ 
gây sinh non‐sinh nhẹ cân, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu trong nước về vấn đề này. 
Mục tiêu: Xác định nguy cơ của bệnh nha chu lên tình trạng sinh non‐sinh nhẹ cân (SN‐SNC) 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh chứng với tỉ lệ 1 bệnh/2 chứng. Nhóm bệnh 
gồm  67  sản  phụ  sinh  con  non  tháng  (tuổi  thai  dưới  37  tuẩn)  sinh  nhẹ  cân  (cân  nặng
theo một nghiên cứu trên 237 thai phụ tại bệnh 
viện S. João, E.P.E, Portuguese(1) năm 2011.Trong 
thai kỳ, nồng độ progesterone cao làm tăng tính 
thấm  thành  mạch  tạo  điều  kiện  cho  tình  trạng 
nhiễm  trùng  từ  mô  nướu  lan  rộng  đến  toàn 
thân(8). Sự phơi nhiễm với các vi khuẩn gram âm 
ở dưới nướu răng như Porphyromonas gingivalis, 
Actinobacillus  actinomycetemcomitans  có  thể  gây 
nên  một  đáp  ứng  miễn  dịch  toàn  thân(2).  Năm 
1994,  Collins  và  cộng  sự  (4,7)  đã  chứng  minh  cơ 
chế  vi  khuẩn  hoạt  hoá  các  tế  bào  trung  gian 
miễn  dịch,  sản  xuất  ra  cytokines  (như 
interleukins IL‐1 và IL‐6), yếu tố hoại tử khối u 
alpha  (tumor  necrosis  factor  alpha:  TNF‐  α), 
prostaglandin (đặc biệt prostaglandin E2: PGE2). 
Những  chất  nói  trên  có  thể  gây  ra  cơn  co  tử 
cung, dẫn đến tình trạng sinh non, sinh nhẹ cân.  
Sinh non (tuổi thai dưới 37 tuần) và sinh nhẹ 
cân (trọng lượng thai dưới 2500 gram) là nguyên 
nhân chính gây nên tử suất và bệnh suất sơ sinh 
cao,  ảnh  hưởng  đáng  kể  đến  tình  trạng  y  khoa 
và  kinh  tế  của  xã  hội.  Bệnh  viện  Từ  Dũ  là  một 
bệnh viện sản khoa đầu ngành ở phía nam nước 
ta với số sinh trong năm 2012 lên đến 62.022 ca, 
số trẻ sinh non ‐ sinh nhẹ cân (SN‐SNC) là 6051 
bé,  chiếm  tỉ  lệ  khoảng  10%  (theo  số  liệu  của 
phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện Từ Dũ), con 
số này cho thấy đây là một vấn đề rất đáng quan 
tâm. Do bệnh nha chu là một trong nguyên nhân 
gây  SN‐SNC,  nên  chúng  tôi  thực  hiện  một 

non  tháng,  nhẹ  cân  bị  viêm  nha  chu  là: 
P2=34,8%(9), tỉ số chênh: OR=3, sai số cho phép α 
=  0,05,  năng  lực  cần  thiết  (Power)  =  80%,  tỉ  số 
chứng/bệnh:  2/1.  Cỡ  mẫu  tính  được  là:  nhóm 
bệnh: 66, nhóm chứng: 132. Thực tế chúng tôi đã 
thu  thập  được  67  sản  phụ  cho  nhóm  bệnh  và 
nhóm chứng có 134 bệnh nhân. 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 
Nhóm bệnh gồm những thai phụ sinh con 
thiếu  tháng,  sinh  trước  37  tuần  (tuổi  thai  dưới 
259 ngày) hoăc sinh con nhẹ cân (cân nặng dưới 
2500 gram). Nhóm chứng gồm những thai  phụ 
sinh  con  đủ  tháng  (tuổi  thai  trên  38  tuần)  hoăc 
sinh con đủ cân (cân nặng trên 2500 gram). 

Tiêu chuẩn loại trừ 
Thai phụ có bệnh toàn thân: đái tháo đường, 
tăng huyết áp thai kỳ, cường giáp, nhiễm trùng 
sinh  dục  –  tiết  niệu,  hoặc  đang  điều  trị  kháng 
sinh trong thời gian nghiên cứu, hoặc hút thuốc 
lá, uống rượu hoặc đa thai. 

Nhóm thu thập số liệu  
Gồm  một  phỏng  vấn  viên  là  bác  sĩ  sản  của 

271


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014

chỉ  số  nướu  (Gingival  index:  GI),  độ  sâu  qua 
thăm  dò  túi  nha  chu  (Probing  Pocket  Depth: 
PPD),  mức  bám  dính  lâm  sàng  (Clinical 
attachment  level:  CAL),  chảy  máu  nướu  khi 
thăm dò (Bleeding on Probing: BOP) bằng cây 

thăm  dò  túi  nha  chu  Williams  dưới  nguồn 
sáng. Bệnh nha chu có hai dạng chính là viêm 
nướu và viêm nha chu, trong đó viêm nha chu 
được  chia  làm  2  mức  độ  theoHội  Hàn  Lâm 
Nha  Chu  Hoa  Kỳ  (American  Academy  of 
Periodontology: AAP): 
Viêm nha chu trung bình: bệnh nhân có ≥ 2 
vị  trí  tiếp  cận  có  mất  bám  dính  ≥4mm  ‐ 
(10.5%)

9

(6,7%)

20 - 29

43

(64,2%)

79

(59%)

30 - 39

16

(23,9%)

43

(32,1%)

1

(1,5%)


(26,1%)

Lao động trí óc

7

(10,5%)

23

(17,2%)

Chuyên Đề Mắt – Tai Mũi Họng – Răng Hàm Mặt 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014 
Đặc điểm

Nhóm bệnh (n=67)

Lao động chân tay

Nghiên cứu Y học

Nhóm chứng (n=134)

p

Tần số


(20,9%)

28

(20,9%)

Số năm học trung bình
Tình trạng kinh tế

10 ± 0,4

(1-15)

9 ± 0,32

(1-15)

Khó khăn

5

(7,5%)

9

(6,7%)

Trung bình

54

chỉ có 1 người bình thường, 40 ca viêm nướu, 21 
ca  viêm  nha  chu  trung  bình  và  5  trường  hợp 
viêm  nha  chu  nặng,  chiếm  tỉ  lệ  lần  lượt  là 
(1/67=1,5%), 
(40/67=59,7%), 
(21/67=31,3%), 
(5/67=7,5%). 
Nhóm chứng: trong số 134 sản phụ sanh đủ 
tháng, đủ cân nặng có 20 người bình thường, 87 
ca viêm nướu, 21 ca viêm nha chu trung bình và 
6 trường hợp viêm nha chu nặng, chiếm tỉ lệ lần 
lượt  là  (20/134=14,9%),  (87/134=64,9%), 
(21/134=15,7%), (6/134=4,5%). 
Phân tích hồi quy logistic cho kết quả: 
Tỉ số chênh (Odd Ratio: OR) của viêm nướu 
nhẹ  giữa  2  nhóm  bệnh  và  chứng  là:  OR=3,22 
(KTC  95%:  0,91‐11,42)  p=0,07  chứng  tỏ  sự  khác 
biệt không có ý nghĩa về phương diện thống kê. 
Như vậy viêm nướu không phải là yếu tố nguy 
cơ gây sinh non‐sinh nhẹ cân. 
Tỉ  số  chênh  (Odd  Ratio:  OR)  của  viêm  nha 
chu trung bình giữa 2  nhóm  bệnh  và  chứng  là: 
OR=6,63(KTC 95%: 1,68‐26,11) p=0,007. Như vậy 
viêm nha chu trung bình là yếu tố nguy cơ gây 
sinh non‐sinh nhẹ cân. 
Tỉ  số  chênh  (Odd  Ratio:  OR)  của  viêm  nha 
chu nặng giữa 2 nhóm bệnh và chứng là: OR=7 
(KTC  95%:  1,23‐39,56)  p=0,028.  Như  vậy  viêm 

2,1 ± 0,3 (1-3)

nặng
p=0,028

KTC: khoảng tin cậy 

Kết quả của bảng 2 cho thấy viêm nướu nhẹ 
không  có  ảnh  hưởng  đến  tình  trạng  SN‐SNC, 
viêm  nha  chu  trung  bình  và  nặng  có  nguy  cơ 
làm tăng tình trạng SN‐SNC lên đến 6‐7 lần, tuy 
nhiên khoảng tin cậy 95% quá rộng, có thể vì cỡ 
mẫu nhỏ. 
Nếu  chỉ  xem  xét  tình  trạng  bệnh  nhân  bị 
viêm nha chu (gồm viêm nha chu trung bình và 
nặng)  và  không  bị  viêm  nha  chu  (gồm  bình 
thường  và  viêm  nướu  nhẹ)  ảnh  hưởng  thế  nào 
lên kết cục thai kỳ SN‐SNC, kết quả được trình 
bày trong bảng 3. 

Bảng 3: Ảnh hưởng của viêm nha chu với SN‐SNC 

Răng Hàm Mặt 

273


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014

Nghiên cứu Y học 
Chẩn đoán
Không viêm nha chu


OR (KTC 95%)P

PlI
PPD
CAL
GI
BOP

1,3±0,3 (0,5-2,1)
1,7± 0,4 (0,8-2,9)
1,7± 0,05(0,8-2,9)
0,9 ±0,4 (0,2-1,7)
10,1± 12,1 (0-56,2)

1,3 ± 0,3 (0,4 - 2,2)
1,7 ± 0,4 (0,04 – 3,1)
1,7 ± 0,4 (0,04-4,4)
0,8 ±0,4 (0-1,6)
7,5 ± 9,4 (0- 45,8)

0,97(0,62-1,8)p=0,9
0,96(0,46-2)p=0,9
0,89(0,45- 2,0)p=0,74
2,36(1,08-5,17)p=0,03
1,02(0,99-1,05) p=0,07

TB: trung bình, ĐLC: độ lệch chuẩn, TT: tối thiểu, TĐ: tối đa 

Kết quả của bảng 4 cho thấy khi so sánh các 

tăng tính thấm thành mạch(8). Kết quả của bảng 2 
cho thấy viêm nha chu trung bình và viêm nha 
chu  nặng  là  yếu  tố  nguy  cơ  làm  tăng  tỉ  lệ  SN‐
SNC lên 6‐7 lần, nhưng khoảng tin cậy 95% quá 
rộng vì cỡ mẫu nhỏ, chỉ có 21 ca viêm nha chu 
trung bình  và  5  ca  viêm  nha  chu  nặng  ở  nhóm 

Chỉ số GI của nhóm bệnh cao gấp 2,3 lần chỉ 
số  này  của  nhóm  chứng,  và  sự  khác  biệt  có  ý 
nghĩa về phương diện thống kê. 

BÀN LUẬN 
Nghiên cứu được thực hiện với thiết kế bệnh 
chứng đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu là xác 
định  nguy  cơ  gây  SN‐SNC  của  bệnh  nha  chu. 
Khám  nha  chu  được  thực  hiện  do  hai  bác  sĩ 
RHM đã được tập huấn định chuẩn tại bộ môn 
Nha Chu cho thấy kết quả khám có mức chính 
xác  cao  (>80%  khi  so  sánh  với  giảng  viên)  và 
đồng nhất cao (KAPPA = 97% khi so sánh giữa 
hai  bác  sĩ  RHM  là  điều  tra  viên),  điều  này  bảo 
đảm cho các kết quả tìm được có độ tin cậy tốt. 
Sự  phân  bố  về  các  yếu  tố  dịch  tễ  như  tuổi, 
nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế 
giữa  nhóm  bệnh  (gồm  67  sản  phụ)  và  nhóm 
chứng (gồm 134 sản phụ) tương đối đồng nhất 
do nghiên cứu được thực hiện tại khoa hậu sản 
nhận  những  phụ  nữ  vào  bệnh  viện  sanh  với 
mức chi phí bình thường (không phải dịch vụ). 
Do  đó,  trong  mẫu,  đại  đa  số  sản  phụ  ở  cả  hai 

(PlI),  độ  sâu  túi  nha  chu  (PPD),  mức  bám  dính 
lâm  sàng  (CAL),  chảy  máu  nướu  khi  thăm  dò 
(BOP) ở nhóm bệnh và nhóm chứng không khác 
biệt có ý nghĩa về phương diện thống kê. Chỉ số 
nướu ở nhóm SN‐SNC cao gấp 2,3 lần chỉ số này 
ở nhóm sinh đủ tháng, đủ cân.  

38,8%(26/67), tỉ lệ viêm nha chu ở nhóm sinh đủ 
tháng‐ đủ cân là 20,2%(27/134). 
Do đó nên khuyến cáo thai phụ giữ vệ sinh 
răng  miệng  tốt  trong  khi  có  thai  để  có  kết  cục 
thai kỳ tốt, tránh được sinh non‐sinh nhẹ cân. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1.

2.

3.

4.

5.

6.

7.

8.


hamsters. Infection and Immunity; 62(10):4356–61. 
Jeffcoat  MK,  Geurs  NC,  Reddy  MS,  Cliver  SP,  Goldenberg 
RL, Hauth JC (2001). Periodontal infection and preterm birth: 
results  of  a  prospective  study.  Journal  of  the  American  Dental 
Association;132(7): 875–80. 
McGaw T (2002). Periodontal disease and preterm delivery of 
low‐birth‐weight  infants.  Journal  of  the  Canadian  Dental 
Association;68(3): 165–9.  
Offenbacher S, Katz V, Fertik G, Collins J, Boyd D, Maynor G, 
et al (1996). Periodontal infection as a possible risk factor for 
preterm  low  birth  weight.  Journal  of  Periodontology;  67  (10 
Suppl): 1103–13. 
Silvana  PB,  Heather  LJ,  Offenbacher  S  (2010).  Periodontal 
disease  and  pregnancy  complications.  Robert  JG,  Ray  CW. 
Periodontaldisease  and  Overall  Health:  A  Clinician’s  Guide. 
Professional Audience Communications, Inc, pp 132‐141. 
 Phan Thị Kim Tuyết (2006). Tình Trạng Nha Chu Của Phụ Nữ 
Mang Thai Nghiên Cứu Tại Bệnh Viện Đa Khoa Khu Vực Cai Lậy 
– Tiền Giang. Luận Văn thạc sĩ y học, trang 33‐43. 
 Vergnes  JN,  Sixou  M  (2007).  Preterm  low  birth  weight  and 
maternal  periodontal  status:  a  meta  analysis.  Am  J  Obstet 
Gynecol, 196: 135. el‐7. 

Ngày nhận bài báo   

 

: 5/11/2013 

Ngày phản biện nhận xét bài báo   : 09/12/2013 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status