Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thạc sỹ
Nguyễn Thị Bích – người hướng dẫn khoa học đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn
em trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử trường Đại
học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và góp ý để em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo và cán bộ viên chức Bảo tàng
Bắc Ninh - nơi tôi thực tập chuyên ngành đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu.
Xin bày tỏ lòng tri ân đối với gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên
tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
Nguyễn Thị Loan
K35 CN Lịch Sử
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
1.2. Tình hình Phật giáo trước thời kỳ nhà Đường .................................... 13
1.2.1. Phật giáo thời nhà Hán (206 TCN – 220) ........................................ 13
1.2.2. Phật giáo thời Tam Quốc (220-280)............................................... 16
1.2.3. Phật giáo triều đại nhà Tấn (280 – 419) .......................................... 17
1.2.4. Phật giáo thời Nam Bắc Triều (420 – 569)...................................... 22
1.2.5. Phật giáo thời nhà Tùy (589 – 618)................................................. 29
1.3. Sự phát triển của Phật giáo thời nhà Đường (618 – 907).................... 31
*Tiểu kết chương 1 ................................................................................... 42
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT
TRIỂN CỦA NHÀ ĐƯỜNG (618 – 907)................................................. 44
2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo trên lĩnh vực chính trị ................................ 44
2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo trên lĩnh vực văn hóa................................. 53
2.2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn học ............................................ 53
2.2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến kiến trúc, điêu khắc ......................... 57
2.2.3. Ảnh hưởng của Phật giáo đến hội họa, âm nhạc.............................. 62
2.2.4. Ảnh hưởng của Phật giáo đến phong tục tín ngưỡng ....................... 67
2.2.5. Ảnh hưởng của Phật giáo đến đạo đức ............................................ 73
2.3. Ảnh hưởng của Phật giáo trên lĩnh vực xã hội ................................... 74
2.4. Ảnh hưởng của Phật giáo đến kinh tế ................................................ 75
Nguyễn Thị Loan
K35 CN Lịch Sử
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
Phật giáo mới có thể thích hợp và trở thành một dòng tư tưởng có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến văn hóa Trung Quốc. Phật giáo đã ghi dấu ấn đậm nét trong lịch
sử văn hóa tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo Trung Quốc.
Trong quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Trung Quốc đã trải qua
những bước thăng trầm. Lịch sử phát triển của Phật giáo Trung Quốc có thể nói
gắn liền với các thời kỳ phát triển của các quốc gia Trung Quốc. Vì thế người ta
thường chia lịch sử phát triển của Phật giáo Trung Quốc ra các thời kỳ trùng với
các giai đoạn lịch sử. Chúng ta có thể nhìn sự phát triển của Phật giáo Trung
Quốc theo hai cách chia sau đây:
Thứ nhất, theo bài viết “Vài nét về sự xuất hiện Phật giáo ở Trung
Quốc” trên tạp chí “Nghiên cứu Trung Quốc”, số 2, tháng 4/1997 của tác giả
Nguyễn Thị Quế dựa trên tiến trình phát triển của Phật giáo Trung Quốc chia ra
làm năm thời kỳ:
1. Thời kỳ phiên dịch: Từ khi Phật giáo bắt đầu truyền vào (67 – 220) cho
đến thời Đông Tấn (317 – 420). Thời kỳ này chủ yếu kinh sách được dịch từ
tiếng Tây vực và tiếng Phạn ra tiếng Hán.
2. Thời kỳ nghiên cứu: từ thời Đông Tấn (317 – 420) đến thời Nam Bắc
Nguyễn Thị Loan
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-2-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
triều (420 – 581). Đây là thời kỳ ngoài phiên dịch người ta còn chú ý đến nghiên
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-3-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
nghĩa thực tiễn.
Về mặt lý luận, đề tài sẽ góp phần làm rõ sự phát triển của Phật giáo thời
nhà Đường và ảnh hưởng của nó đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội Trung Quốc thời nhà Đường.
Về mặt thực tiễn, sự phát triển cực thịnh của Phật giáo thời nhà Đường và
ảnh hưởng của nó có liên hệ mật thiết với lịch sử phát triển của Phật giáo ở các
nước trong khu vực mà đặc biệt là Phật giáo Việt Nam. Do vậy, tìm hiểu về lịch
sử Phật giáo Trung Quốc sẽ góp phần quan trọng trong nghiên cứu lịch sử Phật
giáo Việt Nam.
Với lí do vừa nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của Phật giáo
đối với sự phát triển của nhà Đường (618 – 907)” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới hiện nay. Hình thành
trên đất nước đa tôn giáo Ấn Độ, Phật giáo nhanh chóng được lan truyền ra các
nước xung quanh đặc biệt là Trung Quốc. Đến thời nhà Đường Phật giáo phát
triển cực thịnh ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội. Vì vậy, sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc trở thành đề tài nghiên cứu
thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước.
Tác phẩm “Sử Phật giáo thế giới, tập 1: Ấn Độ - Trung Quốc” của tác giả
Giới Đức viết (nhà xuất bản Thuận Hóa, 2008). Trong tập 1 này tác giả viết về
Trong cuốn sách này tác giả viết về lịch sử Phật giáo Trung Quốc từ khi mới du
nhập đến thế kỷ X. Đây là tác phẩm nghiên cứu về Phật giáo Trung Quốc theo
tiến trình lịch sử, cung cấp thêm thông tin về Phật giáo Trung Quốc qua các triều
đại.
Các tạp chí viết bằng tiếng Việt như: tạp chí “Nghiên cứu Trung Quốc”
có bài viết của tác giả Đỗ Công Định (số 2, tháng4/2000): “Quá trình du nhập
và ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc” tác giả
đã giới thiệu về quá trình du nhập và một vài ảnh hưởng cơ bản của Phật giáo tới
văn hóa Trung Quốc.
Những công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến quá trình du nhập và
phát triển của Phật giáo Trung Quốc qua các thời kỳ, đặc biệt là có sự nhấn
mạnh đến sự phát triển của Phật giáo thời nhà Đường và ảnh hưởng của nó trên
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trên cơ sở kế thừa những công
trình nghiên cứu trên sẽ là nguồn tư liệu tham khảo quan trọng giúp tôi hoàn
thành đề tài này.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nguyễn Thị Loan
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-5-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
Mục đích của đề tài nhằm làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo đối với sự phát
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-6-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
Khóa luận góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu khi nghiên cứu về
Phật giáo Trung Quốc. Đây có thể xem là một tài liệu tham khảo đối với các bạn
sinh viên chuyên ngành lịch sử văn hóa và lịch sử thế giới.
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, khóa luận
được chia làm 2 chương chính như sau:
Chương 1: Sự phát triển của Phật giáo thời nhà Đường (618 – 907)
Chương 2: Ảnh hưởng của Phật giáo đối với sự phát triển của nhà Đường
(618 – 907)
Nguyễn Thị Loan
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-7-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-8-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
“Chu Tử Hành Kinh Lục” được dẫn chứng trong bộ “Lịch Đại Tam Bảo Kỷ”,
nhưng sách đó là sách giả tạo của hậu thế, nên không đáng tin cậy.
Thứ ba, thuyết Trương Khiên đã thấy được Phật giáo. Một số học giả Phật
giáo cho rằng một đặc phái viên đời nhà Tiền Hán tên là Trương Khiên du hành
xuyên suốt vùng Trung Á đến tận Parthia trong thế kỷ II TCN, trên đường đi
ông nghe đến đạo Phật và đưa tin đó về nước. Nhưng theo nghiên cứu chỉ có tài
liệu Phật giáo của triều đại Đường ghi lại thông tin trên trong khi đó các tài liệu
trước đó không có tài liệu nào nhắc đến đức Phật.
Thứ tư, thuyết lễ bái hình người vàng. Thời vua Võ Đế nhà Tiền Hán năm
thứ II năm 121 TCN). Vua sai tướng Hoắc Khử Bệnh đánh rợ Hung Nô, sau khi
đánh thắng Hung Nô ở các tỉnh biên giới phía Bắc Trung Hoa viên tướng này đã
tìm thấy một số tượng hình người được làm bằng vàng. Số tượng ấy từng được
xem như là tượng Phật và là những chứng cớ đánh dấu sự khởi nguyên của Phật
giáo tại Trung Hoa [25; 24]. Tuy thế, ngày nay người ta chứng minh được các
tượng vàng ấy không phải là hình tượng đức Phật, mà là biểu tượng của một số
thần thánh của Hung Nô.
Thứ năm, thuyết Lưu Hướng nói đến Phật điển. Sau đời vua Võ Đế nhà
Tiền Hán đến thời vua Thành Đế, vua sai Lưu Hưóng chỉnh đốn lại sách vở của
triều đình tại Các Thiên Lộc, Lưu Hướng đã thấy Phật điển. Bộ “Phật Tổ Thống
Kỷ” có dẫn chứng một đoạn trong văn trong cuốn “Liệt Tiên Truyện” của Lưu
Hướng: “Tôi kiểm điểm thư tàng, sưu tầm đại sử, để soạn Liệt tiên đồ. Kể từ vua
chứng minh đó là sự thật.
Bằng chứng khẳng định sự hiện diện của Phật giáo dưới triều đại nhà Hán
trước giấc mộng của Minh Đế là tiểu sử của Sở Anh Vương. Anh Vương là anh
em cùng cha khác mẹ với Hán Minh Đế, được phong hầu năm 39 và phong
vương vào năm 41. Lúc đầu Anh Vương cư trú tại kinh đô nhà Hán, nhưng vào
năm 52 chuyển về sống tại Bành Thành (kinh thành của nước Sở). Tại đây, Anh
Vương tổ chức một đại tiệc chay để cúng dường cho các Tỳ kheo và cư sĩ Phật
tử sống tại Bành Thành để sám hối những việc xấu đã làm trong quá khứ. Chính
việc ấy là bằng chứng rõ ràng về sự hiện hữu của một cộng đồng Phật giáo tại
Trung Hoa vào năm 65. Điều quan trọng ở đây là cộng đồng này bao gồm cả tu
sĩ lẫn cư sĩ, không phải trong thành Lạc Dương mà là ở một vùng xa xôi hẻo
lánh. Tuy chúng ta không biết giới tu sĩ là người ngoại quốc hay Trung Hoa,
nhưng những cư sĩ đích thực là người dân bản xứ. Hơn nữa vào thời điểm ấy
người ta đã ăn chay, và chắc chắn Sở Anh Vương đã quy y Phật giáo. Sự hiện
diện của hàng ngũ Tỷ kheo và cư sĩ Phật tử tại địa phương này cho thấy rằng
cộng đồng Phật giáo đã hiện diện trước năm 65, nghĩa là Phật giáo du nhập vào
trước đó khá lâu, có thể vào những năm đầu công nguyên.
Nguyễn Thị Loan
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-10-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
Nhìn chung, hiện nay người ta kết luận rằng những nguồn tài liệu liên quan
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-11-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
Lĩnh. Con đường xuyên qua vùng này là lộ trình trọng yếu nối kết hai nền văn
hóa Trung – Ấn. Từ Tây Vực người ta có thể đi đến Ấn Độ bằng hai con đường
từ phía Bắc và phía Nam.
Nếu đi từ phía Nam, người ta sẽ khởi hành từ Đôn Hoàng và Ngọc Môn
thuộc địa phận Trung Hoa, dọc theo phía Bắc núi Côn Lôn đi qua các nước như
Lopnor, Khotan, Yarkand đến Kashgar người ta đi dọc theo phía Tây núi Thông
Lĩnh, rẽ về phía Nam nối kết với ngả đường Bắc Ấn Độ. Nếu đi từ phía Bắc
người ta cũng khởi hành từ Đôn Hoàng, Ngọc Môn rồi đi dọc theo chân núi phía
Nam của dãy Thiên Sơn, xuyên qua các nước Hà Mi (Y Ngô), Turfan (Cao
Xương), Karashar (Yên Ký), Kuccha (Khâu Tư), Aksu (Cô Mặc), Ush (Ôn Túc),
đến Kashgar, nối liền với con đường ở phía Nam Ấn Độ [25; 22 – 24].
Trong cuốn Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc Henri Maspero đã viết
rằng: “Vào cuối thế kỷ thứ II TCN, Trung Quốc đã chinh phục được một số nước
thuộc vùng Trung Á và có mối quan hệ với Bactria, Parthia và Ấn Độ. Vào thời
điểm này, vua chúa của triều đại Kushan thường phái sứ giả đến các xứ ấy. Giới
thương nhân cũng mang ngọc từ xứ Khotan cũng như thăm xứ Parthia và
Kasmir đến Trung Hoa sau đó họ lại mua hàng tơ lụa của Trung Quốc và vận
chuyển về đất nước mình bằng con đường này” [19; 77]. Trong đoàn của giới
thương nhân thường có các nhà truyền giáo của đạo Phật đi theo để cầu nguyện
và đem sự bình yên đến cho họ trong suốt cuộc hành trình. Cũng có ý kiến cho
rằng, vào thời điểm lúc bấy giờ Phật giáo từ Ấn Độ sang Trung Quốc bằng cả
giới phía Tây Bắc Trung Quốc. Vì đến Đôn Hoàng đầu tiên nên nơi đây đã trở
thành trung tâm Phật giáo quan trọng nhất.
Các đoàn thương gia và truyền giáo cũng có thể từ Ấn Độ đến Trung Hoa
bằng con đường biển. Những hải cảng chính ở vịnh Bengal là cảng
Kaveripattanam nằm ở cửa sông Hằng. Vào thời điểm đó, tàu Trung Quốc sẽ
khởi hành từ Bharukaccha (ngày nay là Broach) nằm ở bờ Tây Ấn Độ. Sau khi
rời các cảng trên, tàu ghe có thể đi thẳng đến Java, hoặc đi theo bờ biển dọc
quanh bán đảo Malay cho đến khi đến Tonkin hoặc Canton thuộc phía Nam
Trung Quốc. Vào nửa đầu thế kỷ thứ VII, khi quyền lực của Trung Hoa không
còn ảnh hưởng lớn đến vùng Trung Á, ngày càng có nhiều Tỳ kheo chọn đường
biển làm phương tiện chính trong việc qua lại giữa hai nước Ấn – Hoa. Điển
hình là năm 671, Nghĩa Tịnh rời Trung Quốc đến Ấn Độ bằng con đường biển
này đến năm 695, ông cũng trở về bằng con đường này.
Vào khoảng thế kỷ thứ I TCN Phật giáo thật sự đã định hình một cách ổn
định ở vùng Trung Á. Sau đó, nhiều phái đoàn truyền giáo đi qua các sa mạc để
đưa Phật giáo vào các trung tâm văn minh và thịnh vượng của Trung Hoa. Trung
Hoa lúc này đang dưới sự cai trị của đế chế hùng cường và bành trướng của nhà
Nguyễn Thị Loan
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-13-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
Hán. Trong khi ấy, ở miền Tây của châu Á, dân tộc Scythians đang củng cố lãnh
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-14-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
nông của triều đình làm tăng năng suất cây trồng. Về công nghiệp hình thành
hình thức sản xuất theo phường, hội. Nghề làm gốm đã bắt đầu sản xuất được
những mặt hàng đẹp, nghề rèn sắt có sự cải biến trong kỹ thuật. Sự phát triển
của nông nghiệp, công nghiệp đã làm thương mại phát triển xuất hiện những
thương nhân ngoại quốc lập các trung tâm buôn bán thịnh vượng, đổi hàng của
Ấn Độ, Trung Đông lấy hàng Trung Hoa.
Ca ngợi sự phát triển của nhà Hán, thiên “Thực hóa chí” (thượng) của
sách “Hán thư” đã chép một cách khuếch đại rằng: “Đến đầu thời Vũ Đế, trong
khoảng 70 năm, nước nhà vô sự, nếu không gặp lụt lội hạn hán thì nhân dân
người no nhà đủ. Lẫm vựa ở các đô thị cho đến những nơi hẻo lánh đều đầy ắp,
kho tàng của nhà nước thì thừa của cải. Tiền ở kinh đô tích lũy hàng trăm vạn,
dân xâu tiền mục mà không xếp lại được. Thóc kho để hết năm này sang năm
khác đầy tràn ra bên ngoài, mục không ăn được. Nhân dân khắp mọi đường mọi
ngõ đều có ngựa, trên đồng có từng đàn. Những người cưỡi ngựa cái bị khinh
thường, không được đến dự hội hè”[30 ; 243].
Sự phát triển về kinh tế tạo điều kiện cho các tôn giáo tư tưởng phát triển
trong lòng quần chúng nhân dân cũng như triều đình. Thời Hán, bên cạnh những
tư tưởng tôn giáo truyền thống như Khổng giáo, Đạo giáo, Nho giáo được các vị
vua đề cao coi trọng còn có sự du nhập của một tôn giáo mới là Phật giáo. Vì
mới du nhập, thế lực còn non yếu lại bị chèn ép, bài xích bởi văn hóa truyền
thống Trung Quốc nên Phật giáo phải nương tựa vào Nho giáo và Đạo giáo.
Hai ngài đã phiên dịch bộ kinh điển đầu tiên tại chùa Bạch Mã – là ngôi chùa
Phật giáo đầu tiên trên đất nước Trung Quốc. Bộ kinh đó là “Tứ thập nhị
chương”. Đặc biệt, Trúc Pháp Lan sau đó còn dịch được một số bộ kinh như
“Thập địa đoạn kết tinh” 8 quyển, “Pháp hải tạng kinh” 1 quyển, “Phập bản
hạnh kinh” 5 quyển… Từ đó, Phật giáo được triều đình Trung Quốc thừa nhận
và cho phép xây dựng chùa, dịch kinh và truyền bá.
Sau khi Phật giáo được thừa nhận thì các nhà truyền đạo từ Tây Vực kéo
sang Trung Quốc ngày càng nhiều. Nổi bật trong số các nhà truyền đạo đó có
An Cao Thế và Chi Câu La Sấm. An Cao Thế là thái tử của vua An Tức. Sau khi
xuất gia ngài đi sâu vào học kinh, luận, thông hiểu phép thiền quán. Năm 147,
ngài đến Lạc Dương tỉnh Hà Nam. Trong khoảng 20 năm sống tại đây, ngài
chuyên lo công việc phiên dịch kinh điển. Tất cả kinh điển người dịch sang chữ
Hán là 34 bộ gồm 40 quyển.
Ngài Chi Câu La Sấm là người nước Đại Nhục Chi, tới Trung Quốc vào
khoảng niên hiệu Quang Hòa (178 – 183) đời vua Linh Đế. Trong khoảng 12
năm, ngài đã phiên dịch sang chữ Hán những bộ kinh điển Đại Thừa như “Kinh
thư lăng nghiêm” 2 quyển, “Kinh ban chu tam muội” 1 quyển… Tất cả kinh
Nguyễn Thị Loan
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-16-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
điển ngài dịch là 10 bộ gồm 20 quyển.
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-17-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
Tuy nhiên kinh sách vào thời đó chưa nhiều, người Trung Quốc chưa có ai xuất
gia, chỉ có các nhà sư Ấn Độ tìm đến Lạc Dương, chủ yếu cũng chỉ dịch kinh là
chính. Thời này, đáng kể là các ngài Đàm-ma-ca-la, Khương Tăng Ngải, Đàm
Đế, Bạch Diên, An Pháp Hiền…Một số kinh các vị đã dịch là:“Tăng Kỳ giới
bổn”,“Vô lượng thọ”,“Đàm vô đức yết ma”,“Vô lượng thanh tịnh bình đẳng
giác kinh”.
Đặc biệt là quyển “Tăng kì giới bổn” của ngài Đàm-ma-ca-la và “Đàm vô
đức yết ma” của ngài Đàm Đế là nói về giới luật và cách thức thọ trì giới pháp
cho người xuất gia. Từ đây, người Trung Quốc mới chính thức có người thọ giới
Tỳ kheo. Người đầu tiên này chính là Chu Sĩ Hành.
Phật giáo ở đất Thục: Phật giáo tuy có đến chậm nhưng đặc biệt có ngài
Châu Tử Hoàng là một cao tăng Trung Quốc đã qua Tây Vực học chữ Phạn và
tìm nguyên bản kinh chữ Phạn để dịch lại góp phần làm giàu thêm sự nghiệp
phiên dịch kinh Phật của Trung Quốc.
Phật giáo ở đất Ngô: Phật giáo được truyền tới nước Ngô sớm hơn nước
Ngụy nên sinh hoạt Phật giáo ở đây khá rầm rộ nhất là phương diện dịch thuật
và xuất hiện nhiều nhà dịch thuật nổi tiếng như Chi Khiêm, Khương Tăng Hội,
Chi Khương Lương.
Chi Khiêm dịch kinh gần 30 năm, sau đó vào thâm sơn ẩn dật. Sự nghiệp
của Khiêm vừa phiên dịch vừa chú thích được 27 kinh đại lược là: “Duy Mật
Cật”, “Đại Bát Nê hoàn”, “Pháp cú”, “Thụy ứng bản khởi”, “Đại A Di Đà
Tiền Lương (324 – 376), Tiền Yên (337 – 370), Tiền Tần (351 – 394), Hậu Tần
(384 – 417), Hậu Yên (384 – 409), Tây Tần (385 – 431), Hậu Lương (386–403),
Nam Lương (397 – 414), Nam Yên (398 – 410), Tây Lương (400 – 420),
Bắc Lương (401 – 439), Hạ (407 – 431), Bắc Yên (409 – 436). Như vậy miền
Nam Trung Quốc lúc này là nhà Đông Tấn, miền Bắc Trung Quốc là 16 nước
Ngũ Hồ.
Mặc dù bị phân chia lãnh thổ nhưng Phật giáo thời kỳ này có điều kiện phát
triển hơn trước.
Ở phương Bắc, Phật giáo rất thịnh đạt, đặc biệt là nhà Hậu Triệu, Tiền
Tần, Hậu Lương và Hậu Tần. Điều này đã thúc đẩy Phật giáo được truyền bá và
phát triển mạnh mẽ ở một vùng rộng lớn.
Hậu Triệu là một nước lớn có kinh tế phát triển thời đó. Vua Triệu là Thạch
Lặc và con trai là Thạch Hổ nổi tiếng hung ác, nhưng sau được sự giáo hóa của
vị danh tăng Phật Đồ Trừng mà hai cha con Thạch Lặc và Thạch Hổ đã hối cải
từ đó đi rất tin tưởng và sùng Phật. Phật Đồ Trừng là người có công rất lớn đối
với sự phát triển của Phật giáo nhà Hậu Triệu. Trong việc truyền đạo, ông suốt
đời chỉ lấy đức độ và tài năng để cảm hóa con người. Tương truyền ông có rất
nhiều phép lạ “Hòa thượng lấy ra một cái chậu, rồi đổ đầy nước vào trong chậu
đó, sau đó thắp một nén hương và cầu khấn. Một lúc sau trong chậu bỗng nhiên
mọc lên một bông hoa sen mầu xanh, rồi nó từ từ lớn lên, tỏa sáng long lanh lóa
mắt” [2 ; 51]. Vì thế, cha con Thạch Lặc rất tôn kính Phật Đồ Trừng tôn ông là
“Đại Hòa thượng” và “Hòa thượng quốc chi đại bảo” tức vị Hòa thượng quý
báu nhất trong nước.
Nhà Tiền Tấn, một nước mạnh nhất trong 16 nước Ngũ Hồ, Phật giáo cũng
rất thịnh với sự đóng góp của Thích Đạo An. Sau khi được nghe tên tuổi của
Đạo An, Tiền Tần vương là Phù Kiên kể với các quan đại thần của mình rằng
“Ngài Đạo An ở Tương Dương là một vị cao tăng có phép thần, nếu như có điều
Nguyễn Thị Loan
giáo. Phật giáo thời này lấy tư tưởng “Không” trong kinh Bát Nhã làm trọng
yếu, đã tách tư tưởng Lão Trang ra ngoài. Ngài Đạo Sinh sang tạo ra phương
pháp chia khoa mục để chú thích kinh điển. Ngài Tuệ Quán khi sửa chữa bản
dịch của kinh Niết Bàn đã đem giáo lý của đức Phật chia thành Đốn giáo, Tiệm
giáo. Trong Tiệm giáo lại chia ra làm Ngũ thời giáo. Vì ở thời kỳ này, kinh
A Hàm và Tiểu Thừa A Tỳ đã được dịch ra chữ Hán nên có phong trào nghiên
cứu A Tỳ đàm học, sau này hình thành “A Tỳ đàm tông”. Từ chỗ ngài Cưu Ma
Nguyễn Thị Loan
K35 CN Lịch Sử
Khóa luận tốt nghiệp
-21-
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2
La Thập dịch các bộ luận Đại thừa như “Trung luận”, “Bách luận”, “Thập nhị
môn luận” mà thành lập ra Tam luận tông. Từ thành thực lập luận ra Thành thực
tông, tư tưởng kinh Niết Bàn trở thành cơ sở của Niết Bàn tông, tư tưởng kinh
Hoa nghiêm trở thành cơ sở của Hoa nghiêm tông sau này.
Thời Đông Tấn nổi lên phong trào Tây du cầu pháp, tiêu biểu có chuyến
Tây du của Pháp Hiển.
Pháp Hiển (399 – 418) họ Cung, là người Võ Dương ở Bình Dương thuộc
tỉnh Sơn Tây ngày nay. Sử ghi lại rằng lúc còn nhỏ khi sống cùng cha mẹ, ngài
luôn ốm đau, nhưng khi được gửi vào chùa thì lại khỏe mạnh, cường tráng. Do
vậy ngài ở chùa từ lúc 3 tuổi và hiếm khi về nhà. Sau khi cha mẹ qua đời, ngài
gia nhập tăng đoàn năm 12 tuổi và được thọ đại giới. Pháp Hiển rất quan tâm