Tiểu luận: Ảnh hưởng của nhà truyền thông tới sự tuân theo của công chúng và sự thay đổi thái độ của cá nhân - Pdf 14



Tiểu luận

Ãnh hưởng của nhà truyền thông tới sự tuân theo
của công chúng và sự thay đổi thái độ của cá nhân Một trong những vấn đề đáng quan tâm trong tâm lý xã hội đó là khi hiệu
quả của truyền thông thuyết phục sẽ được tăng lên nếu nguồn gốc của nó đáng
tin cậy. Những nghiên cứu trước đây của Hovland, Weiss (1951) và Kelmen,
Hovland (1953) đã đưa ra bản chất của một kết luận gần đây và mở ra xu hướng
để chứng tỏ hiệu quả của các nhà truyền thông có uy tín, thậm chí ngay cả khi
mức độ thay đổi được tán thành là cực lớn.
Theo truyền thống, uy tín được định nghĩa là thuộc tính của nhà truyền
thông, đó chính là sự thừa nhận của công chúng có liên quan tới chủ đề đang

phiếu và tất cả họ đã bầu cho Nguời cộng hoà. Tôi cũng làm vậy”. Như một
người nếu được hỏi thì dường như anh ta sẽ bảo vệ quyết định bầu cử của anh ta
về những tính chất của sự ảnh hưởng, cái mà không liên quan đến vấn đề chính trị, do đó nó xuất hiện cả hai khía cạnh liên quan và không liên quan, thích đáng
và không thích đáng của của uy tín nhà truyền thông. Có thể phải thực hiện
nhiều lần trong cùng một phương pháp để gia tăng tỷ lệ chấp nhận một sự truyền
thông thuyết phục.
Chúng tôi xem xét liệu kết luận này có thể được khái quát hoá trong một
tình huống hay không? ở đó sự đáp lại là không bị ràng buộc nhưng sẽ phải có
một vị trí xác định và nhà truyền thông phải cố gắng thay đổi hành vi hay là chỉ
đơn thuần thay đổi quan điểm. Nếu áp lực được đặt lên một người, điều đó sẽ có
ảnh hưởng đến hành vi ứng xử với giá trị và thái độ có liên quan của cá nhân thì
hiển nhiên áp lực này tuân theo là một yếu tố đang xác định, trong đó cá nhân sẽ
làm gì. nếu nó là quá yếu, anh ta sẽ không tuân theo và thái độ của anh ta sẽ
không thay đổi. Trong khi nếu nó quá mạnh mẽ anh ta sẽ tuân theo số đông
nhưng cũng tương tự như vậy, thái độ cá nhân của anh ta sẽ ổn định. Nếu tuân
theo một cách công khai có thể bị điều chỉnh một cách hoàn toàn tự nhiên bởi sự
khen thưởng và trừng phạt được kiểm soát bởi nhà truyền thông, không có sự
tăng lên theo nhu cầu điều chỉnh thái độ của họ tới hành vi trái ngược
này.Nhưng xác suất của sự tuân theo sẽ tiến đến giá trị trong một nhóm dân số
đã cho. Dường như đặc điểm của nhà truyền thông cái mà không liên quan tới
nội dung của hành vi. Ví dụ: “Tôi làm viêc đó bởi vì anh ta là một chàng trai
tốt”.
Nói cách khác sự tuân theo của một nhà truyền thông tiêu cực, Một ai đó
sẽ không thích, vài người không thích, rõ ràng không thể nhận ra sự ứng xử trái
ngược nhau bằng cách lôi kéo đặc tính cá nhân của nhà truyền thông như sự
công bằng.
Zimbardo (1960) đã đưa ra gợi ý rằng một người truyền tin phải thay đổi

tuân theo của công chúng trong việc ăn nhưng họ không thay đổi thái độ. Mặt
khác,người truyền thông tiêu cực có thể xui khiến một nửa số đàn ông làm theo
và ăn châu chấu, nhưng những người đã ăn châu chấu thì thay đổi thái độ của họ
rất nhiều – thực tế, cuối cùng là họ thích châu chấu.
Thật không may mắn, những kết luận trong bản tóm tắt của Smith đã xuất
bản (1961b), không được ủng hộ từ báo cáo kỹ thuật hoàn thành của ông ấy
(1961a). Số luợng lớn những kỹ sảo thiết kế, sự thực hiện và phân tích tạo nên
những câu hỏi quan trọng cho giá trị pháp lý trong kết quả của ông ấy. Cần phải
đề cập đến một vài đặc điểm để làm sáng tỏ phần thiết kế của nghiên cứu và
phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu hiện tại.
Vấn đề quan trọng nhất là đơn vị mẫu và điều kiện thử nghiệm được
Smith tiến hành. Mặc dù 20 mẫu (Ss) đều ở trong một điều kiện truyền thông, họ
được chia thành hai nhóm, mỗi nhóm 10 người. Hơn thế nữa, các mẫu đều biết
nhau, ngồi xung quanh một cái bàn lớn và có thể tương tác một cách tự do trước,
trong và sau yêu cầu mới của một người lạ là ăn châu chấu. Trong một tình
huống như vậy rõ ràng hiệu ứng tuân theo xã hội và áp lực nhóm đóng vai trò
chủ đạo trong việc quyết định có những hành động tuân theo. Từ nguồn áp lưc
xa lạ và không thể kiểm soát có thể đem lại kết quả duy nhất trong mỗi mẫu, ảnh
hưởng tới việc ăn và thái độ của mỗi người, những dự đoán được đánh giá cao
của người truyền tin không thể tạo ra được hiệu quả uy tín cho họ. Thực nghiệm
hiện nay về nguồn gốc bất đồng cho thấy sự thay đổi thái độ là một kết qủa duy
nhất của thái độ đầu tiên, quyết định cá nhân và tính cách của nhà truyền thông.
Vấn đề thứ hai là tất cả các mẫu đều nhận được lời thuyết phục về yêu cầu
của một quân đội linh động, yêu cầu cần phải ăn những thức ăn không bình
thường để sống sót, nhu cầu làm quen với những thái độ và phản ứng hướng tới
việc ăn châu chấu. Họ nhận được lời phát biểu này sau khi nhà thí nghiệm bắt
đầu đóng vai trò của ông ấy như là một nhà truyền thông tích cực hoặc tiêu cực
nhưng trước khi ông ấy đo được thái độ ban đầu hướng tới con châu chấu của
họ. Như đã được mong đợi, thái độ ban đầu của những người đàn ông trong điều
kiện người truyền tin tích cực đã ủng hộ nhiều hơn trong điều kiện những người

còn lại. Một vài khách thể được thực nghiệm trong điều kiện tương tác nhóm
một cách tự do; một số khách thể được thực nghiệm trong điều kiện chịu ảnh
hưởng của áp lực nhóm . Và một số còn lại được thực nghiệm thuyết phục nếu
ăn châu chấu sẽ được cho tiền.

Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành trên 243 khách thể trong đó có 175 người thực nghiệm và
68 người để đối chiếu. Trong số đó, có 50 người là đến từ lớp tâm lý học của
trường Đại học NewYork. ở nhóm thực nghiệm trong điều kiện có sự tương tác
thì có 72 nghiệm thể là lính dự bị - đến từ lớp dự bị đại học của trường ĐH
NewYork . ở nhóm nghiên cứu thứ 3 thì tiến hành trên 121 lính dự bị, họ cũng
đén từ cơ quan trên. Tất cả các nghiệm thể đều là binh nhì, hạ sỹ, họ chỉ hơn
nhóm nghiệm thể sinh viên một vài tuổi nhưng tất cả có trình độ nhận thức
tương đương nhau.

Cách thức tiến hành
Nhà truyền thông
Người được lựa chọn làm nhà truyền thông là Brigade Commander. đến từ trung
tâm ROTC của trường ĐH NewYork, những đặc điểm tích cực và tiêu cực “ thật
sự” của anh ta đã được xây dựng lên thông qua một cuộc điều tra ý kiến của các
nhân viên có chuyên môn, 53 thành viên của trường ROTC đã đánh giá anh ta,
bên cạnh đó còn có một số chuyên viên khác cũng tiến hành kiểm tra anh ta.
Bảng đặc điểm này được xây dựng trên cơ sở thiết lập những vai trò hành vi tích
cực và tiêu cực. Để có được những đặc điểm tích cực, tiêu cực những nhà
nghiên cứu phải tiến hành quan sát những nét tính cách mà mỗi người đó sẽ sở
hữu, và những hành vi sẽ được bộc lộ dưới sự thể hiện của những nhà truyền
thông tích cực, tiêu cực.
nhún vai của mình, tiếp tục nói về vai trò của mình trước nghiệm thể, xin lỗi về
sự gián đoạn và lại tiếp tục trong giọng điệu cũ.
Những ảnh hưởng về sự biến đổi vai trò để tạo ra những nhận thức khác nhau về
nhà truyền thông đã được chúng tôI tiến hành nghiên cứu lần đầu trong phòng
thí nghiệm với mẫu là sinh viên đại học. Sau này mẫu quân nhân dự bị được tiến
hành nghiên cứu trong điều kiện tương tự như nghiên cứu của Smith, tối đa hoá
những ảnh hưởng của nhóm cùng với việc biến đổi nhà truyền thông như một
biến độc lập.
Cuối cùng, một nhóm quân nhân dự bị khác được tiến hành nghiên cứu trong
điều kiện tác động của một nhóm nhỏ, cùng với nhà truyền thông làn bài kiểm
tra về sự tác động của kinh nghiệm cá nhân.

Nhóm khách thể là sinh viên

Cách thức tiến hành với khách thể là sinh viên đại học nói chung cũng tương tự
như cách thức tiếna hành với nhóm khách thể là quân nhân, cùng dưới sự chấp
nhận rằng : Lý do căn bản của mỗi nhóm nghiên cứu là mối quan hệ tương tác
giữa sinh lý và trí óc tới sự lấy đI thức ăn và hành vi ăn. Chúng tôI thì đã cố
gắng lôi kéo mọi người tham gia nghiên cứu ở trong tình trạng bị đói, nhưng sự
lôI kéo này không ảnh hưởng tới sự đo lường được tiến hành bởi những thang
đo cá nhân hay bởi bất kỳ một sự đo lường tính toán nào được sử dụng trong
nhiên cứu.Vì vậy biến đổi duy nhất được xem xét ở đây chính là những biến đổi
vai trò của nhà truyền thông trước những khách thể bị đói.

Nhóm khách thể là quân nhân
Để tối giản hoá khả năngnhóm khách thể có thể nhận ra được cách thức và sự
đánh lừa của chúng tôI, thực nghiệm đã được tiến hành trong 3 buổi tối, trong
suốt thời gian này các nhóm quân nhân dự bị được gặp gỡ nhau.

một đĩa thức ăn có 5 con châu chấu rán được đưa ra trước mặt mỗi nghiệm thể,
khi đó nghiệm viên ( người E) nói : “ Trước khi yêu cầu các bạn ăn thức ăn
trong thí nghiệm này, tôi muốn cho các bạn biết rõ rằng, một phần của thí
nghiệm này là màn tính chất tự nghiệp, và không ai phải ăn những con châu
chấu dấn nếu anh ta không muốn. Tuy nhien với mục đích nghiên cứu tôi rất
mong các bạn sẽ cố gắng ăn ít nhất là một con và sẽ thật tuyệt vời nếu bạn ăn
được hết cả đĩa.
Để khuyến khích các bạn , ngay bây giờ tôi sẽ trả 50cent cho một người nếu
người đó ăn đươc một con. Các bạn hãy đưa ra những quyết định ngay lúc này,
tôi sẽ tăng tiền cho đĩa ăn tiếp theo.
Những ai trong số các bạn đã sẵn sàng ăn châu chấu, làm ơn hãy thể hiện bằng
cách kéo đĩa thức ăn và tiền về phía bạn. Còn những ai chưa sẵn sàng, thì hãy
thử cố gắng một lần, còn nếu không thì để nguyên đĩa thức ăn ở vị trí của nó và
giơ tay lên đẻ biểu hiện là bạn không muốn ăn chúng một chút nào.
Còn ngay bây giờ, tiến lên và ăn nào”. Hiển nhiển là tiền sẽ không được đề cập
đến trong nhóm, không có sự khuyến khích.

Nhóm đối chứng
Trong buổi tối ở nhóm có sự tương tác, trước và sau khi nhóm đối chứng đI ra
với 25 khách thể, trong khi đó ở mỗi buổi tối, 2 nhóm đối chứng được chia ra
với số lượng mỗi nhóm 10 thành viên. ở nhóm đối chúng thứ nhất nhận bảng
câu hỏi về sự đói bụng và nhóm quân đội lưu động sẽ nói về quan điểm khác của
họ, một nhóm sẽ phảI làm việc này trong khi 2 nhóm kia sẽ làm việc khác. vì
không có sự khác nhau giữa các nhóm này nên họ được găbs kết để so sánh các
cách cư xử trong thực nghiệm này. Để đánh giá khả năng ảnh hưởng của việc dự
đoán trước nên ở đay có sự nhạy bén trong mối quan hệ giữa vận động tác động
với kết quả sau đó, một nửa lính dự bị sẽ kiểm tra lần lượt bằng việc nhận châu
chấu vào như một loại thức ăn thông thường khác trong khi nửa còn lại sẽ không
phảilàm thế.


người truyền tin đã không có nhiều cố gắng trong việc đặt ra áp lực lên họ để ăn.
Vì vậy, cái quyết định ăn thực sự là quyết tâm chứ không chỉ bởi áp lực mang
tính thí nghiệm mà còn bởi những đồ ăn ưa thích của đàn ông.Cũng cần phảI
chú ý rằng, sự ác cảm với món châu chấu cũng được thiết lập boẻi tỷ lệ so sánh
giữa bó với một số món ăn khác thường khác như thịt rắn, thịt giun,etc. Thịt
châu chấu có tỷ lệ tiêu cực nhều nhất trong 10 loại thức ăn , được thực hiện trên
217 khách thể là sinh viên đại học, một vài khách thểđã phảI rất ccố gắng để ăn
thử nó, và 57& nói rằng họ sẽ không cố để ăn thức đó.
Cuối cùng thí nghiệm của Quarterrmaster Corps gần đây đã chỉ ra rằng những
thức ăn được yêu thích chiếm tỷ lệ cao. Vì vậy, xu hướng tuân theo được quan
sát trong thí nghiệm này là những gì được mong đợi từ những điều kiện như chế
đọ dinh dưỡng, sự lựa chọn, loại thức ăn được ưa thích Điều này không có
nghĩa rằng hành vi ăn châu chấu không bị ảnh hưởng bởi sự tin cậy khác nhau của nhà truyền thông , nhưng nó cũng không bị ảnh hưởng bởi những người vận
động cụ thể.
Đây có thể là kiến thức để ta có thể dựa vào đó mà lý giảI cho hành động ăn hay
không ăn châu chấu. Lý do chính được đưa ra ở đây : có tới 76% người ăn là
« tò mò muốn xem xem đồ ăn đó như thế nào ». Thực tế là những người ăn có
xu hướng mô tả đặc điểm của thức ăn « giống như là một kiểu người thích thử
những kiểu thức ăn mới và lạ » hơn là những người không ăn. Lý do khác cho
việc ăn châu chấu là để giúp đỡ chương trình cứu trợ binh lính, đẻ giúp đỡ
nghiệm viên ( the E), và để mình không bị khác với những thành viên khác trong
nhóm. .
Trong số những người từ chối ăn ,có tới 41% cho rằng” trông nó thật kinh
khủng” ,39% cho rằng họ không đói đến mức phải đi ăn châu chấu, trong khi đó
chỉ có 10% cho rằng nếm nó thật kinh. Ngoài ra thì còn có những lý do liên quan
tới tôn giáo và một số không ăn để chống lại nghiệm viên.
Nhóm khách thể là sinh viên được yêu cầu liệt kê ra tất cả những gì họ nghĩ tới
Người truyền tin
tích cực
N Người ăn Người
kh
ô
ng
ă
n

Mẫu thứ nhất (a)
Mẫu thứ hai (b)

Giá trị trung bình

10
12
00
175
-60
38

+78
00

Người truyền tin
tiêu cực
Mẫu thứ nhất (c)
Mẫu thứ hai (d)

thật hèn nhát. Trong tình hình đó, mọi người lại ăn. Rõ ràng, “không khí xã hội”
đã ảnh hưởng đến cá nhân, nhưng không phải trong bất cứ trường hợp nào cũng
dự đoán được hiệu quả của điều trị nhóm. Nhưng điều còn lại dành cho các cuộc
điều tra trong tương lai để chuyển những rắc rối thành những yếu tố biến đổi đối
lập chính đáng.

Hiệu ứng bất hoà đồng.( dissonance Efects)
Bảng 2 trình bày những số liệu chính về sự thay đổi thái độ trong tỉ lệ
mạng (net proption) của các mẫu, những người thay đổi theo chiều hướng mong
muốn chống lại những người thay đổi theo chiều hướng đối lập. Thang đo của Hovland, Lumsdaine và Shefield (1949) dành cho những mẫu cả ở bậc cao
đẳng, đại học và trong quân đội, thực nghiệm trong những điều kiện cho phép
đánh giá giả thuyết bất đồng.

Bảng 2: giá trị trung bình tỉ lệ thực thay đổi thái độ là một nhiệm vụ của
người truyền tin và ăn ( cho cả các mẫu ở đại học, cao đẳng và quân đội trong
những điều kiện thử nghiệm riêng biệt)

Người truyền tin tích cực Người truyền tin tiêu cực
Người
ăn
(50%)

(N)
Hướng thay

38
Cao
đẳng, đại
học
Quân đội

(14)

(6)

57

83

7

17

Tổng (20) 40 35 +5 (20) 65 10 +55
Người
kh
ô
ng
ă
n

Người
kh
ô
ng


0

25

15

Tổng (20) 5 24 - 19 Tổng (24) 4 20 - 16
Kết quả
thực
+24 Kết quả
thực
+71

Nhóm kiểm soát (N=68), thay đổi thực = +10.

Mẫu kết quả giống và khá rõ ràng cho cả sinh viên và lính dự bị. Trong
khi tỉ lệ thực là 60% người ăn thức ăn không hài lòng, thay đổi thái độ và thích
nó hơn, 34% tử chối không ăn cho thấy hiệu ứng gậy ông đập lưng ông thích nó
thậm chí còn ít hơn (01%). Trong số những người ăn, người truyền tin tiêu cực
gây ảnh hưởng nhiều hơn đến sự thay đổi thái độ theo hướng mong muốn
(55%). Trong số những người không ăn, xuất hiện hiệu ứng gây ông đập lưng
ông (boomerang) lớn hơn một chút do những người truyền tin tích cực tạo nên.
Sự khác biệt trong tỉ lệ thực của sự thay đổi như một nhiệm vụ của người truyền
tin là rất quan trọng ( CR = 200, P < 05) Nếu số liệu được phân tích theo mức độ thay đổi (khoảng cách thang đo
trung bình) (mean scale distance), kết quả tương tự như trong thang đo mức độ
thường xuyên của sự thay đổi. Một trong số 3 mẫu nhỏ của nghiên cứu này,

1.75
00
0 Người ăn
Người không ăn
40
- 120
201
- 86
(N= 37)

Bảng 3 trình bày giá trị trung bình của sự thay đổi thái độ trong những mẫu quân
đội riêng biệt có và không có một vụ rắc rối về tiền tệ.
Cả những ảnh hưởng chính của người truyền tin, vụ rắc rối va sự tương
tác giữa họ đều không quan trọng. Đó phần nào là vì số lượng nghiệm thể nhỏ trong một vài nhóm ăn (n<5). Kết quả theo sau, vì thế được trình bày như một
gợi ý chung nhất cho sự phê chuẩn tương lai.
Nếu chúng ta phá bỏ được tình trạng rắc rối và trình bày Duncan Multiple
Range Test trong bốn nhóm còn lại, những người ăn trong điều kiện người
truyền tin tiêu cực khác nhiều so với người ăn trong điều kiện người truyền tin
tích cực ( P < 05) và thậm chí còn nhiều hơn với những nhóm không ăn (P<01).
Phân tích tương tự bao gồm tình trạng rắc rối cho thấy những người ăn trong
điều kiện người truyền tin tiêu cực không có rắc rối về tiền bạc khác nhiều hơn

dụng tên của mình có quan hệ với bên bản tuyên bố mà người đó đã ký. Đối với
một trong 6 lời tuyên bố mà khách thể phải viết tên thức ăn mà anh ta ăn, chữ ký
của mình và ngày tháng năm. Những xác nhận này thay đổi từ “ tôi đã thủ ( thức
ăn), nhận thấy rằng nó rất ngon và chắc chắn giới thiệu nó” đến “ nếu bạn thử thức ăn như tôi , bạn sẽ nhận thấy rằng chúng không quá tồi, thực tế chúng
chẳng có vị gì cả.
Trong số những người lính ăn tối thiểu là một con châu chấu, thì có một mức độ
liên hệ đáng kể giữa những thái dộ sau thực nghiệm với mức độ xác nhanạ của
họ. Trong số đó, 94% thái độ tiêu cức đưa ra xác nhận không chắc chắn, 88%
thấi độ tích cức đưa ra xác nhận chắc chắn. Đa số ( 66%) có thái độ ông hoà có
xu hướng đưa ra xác nhận không chác chắn hơn là xác nhận chắc chắn( chi-
square = 1676, df= 2, p> 001, C= 48).
Kết quả thu được bằng cách sử dụng biện pháp này thể hiện sự phù hợp với
những gì đã được thể hiện trước đó, 37% trong hoàn cảnh người truyền thông
tiêu cực đưa ra xác nhạn chắc chắn, trong đó chỉ có 11% làm như vậy trong điều
kiện tích cực. Hơn nữa một số lượng lớn thái độ thay đổi trong bất kỳ đơn vị nào
là sự thay đổi nhiều hơn 2 đơn vị đối với S người truyền thông không tích cực
những người đưa ra xác nhận chắc chắn. Điều này có nghĩa là mức độ thay đổi
thái độ tăng từ 25 đơn vị đối với S những người chấp nhận nhiều hơn khích lệ
tối thiểu, có nghĩa là ăn nhiều hơn một con châu chấu. Thật không may, những
kết quả đó về mặt thống kê không quan trọng lắm do kích thước mẫu vật tương
đối nhỏ vẫn còn sau khi loại trừ tất cả những thứ không ăn được hoặc bị thừa để
xác nhận thức ăn. Tuy nhiên tiêu chuẩn để đưa ra giá trị đối với phạm vi thái độ
hưởng lạc, và mẫu của kết quả nghiên cứu bù vào những gì đã được chấp nhận
bởi các phương pháp tần số và khoảng cách phạm vi của chấp nhận cá nhân đối
với thức ăn thử nghiệm.
Một cách ngẫu nhiên, người ta đề cập rằng có một ảnh hươnghr tổng quát phù
hợp nhưng không chắc chắn của sự thay đổi thái độ hướng tới châu chấu đối với

Uy tín của nhà truyền thông
Nhà truyền thông tích cực được nhìn nhận là có nhiều điểm tích cực và hầu như
là không có đặc điểm tiêu cực, trong khi đó nhà truyền thông tiêu cực được mô
tả với một loạt những đặc điểm tiêu cực và có rất ít những đặc điểm tích cực.

Với nhóm khách thể sinh viên , nhà truyền thông tích cực được nhìn nhận là có
nhiều đặc điểm tích cực hơn là nhà truyền thông tiêu cực( F=1796,p< 001) và
cũng có một vài điểmtiêu cực ( F= 818, p<001). Những ảnh hưởng tương tự như
kia cũng diễn ra ở cả nhóm binh lính có sự tương tác nhóm và nhóm bị chia
tách. Với các cá nhân phân tích những đặc điểmtích cực và tiêu cực,giá trị với
mỗi so sánh là nhiều hon 10.
Chính vì vậy thí nghiệm về sự thay đổi hành vi vai trò của nhà truyên thông
được nhận thức một cách chính xác bởi các nhóm khách thể, trong khi hành vi
không thay đổi của người trợ lý cũng được nhìn nhận một cách đáng tin cậy.
Không có sự khác nhau trong điều kiện của cả hai nhà truyền thôngvà người trợ
lý trong điều kiện tích cực, trong khi đó ở điều kiện tiêu cực thì nhà truyền thông
trong tất cả các trường hợp đều đuqược nhìn nhận là một người tiêu cực hơn rất
nhiều (F=1505,p<001).
Trong một nghiên cứu khác, khách thể trong điều kiện phủ định chỉ cho biết họ
“có thể không thích được làm việc cùng” và “có thể không được thuê như những
người làm thí nghiệm”những người mà E ở dưới điều kiện khẳng định, E là tỷ
lệ theo cách truyền đạt có ý nghĩa đặc biệt hơn sự thuận lợi tốt đẹp (p<001),
tương tự như những người phụ giúp dưới tất cả điều kiện của nhà truyền tin.
Một hướng khác để đánh giá sự ảnh hưởng của sự vận động đã được thể hiện
trong bảng so sành 12 đặc điểm vvề nhà truyền thôngđược đưa ra bởi những
người đã đánh giá anh ta khi ở bên ngoài tình huống thí nghiệm ( sinh viên
trường ROTC) cùng với nhóm khách thể tham gia thí nghiệm.
Trong khi nhóm mẫu không tham gia thí nghiệm xếp hạng “điềm tĩnh” như là
đặc điểm nổi bật nhất của nhà truyền tin, thì nó cũng được xếp hạng tương tự
trong điều kiện thí nghiệm với nhà truyền thông tích cực, nhưng xếp thứ 8 trong

trên tất cả cận vệ lính).
Thứ tự

Đặc điểm Nhà truyền thông
Khẳng định Phủ định Giá trị P
1 Tận tâm, chu đáo 13 12 P=n.s
2 Khả năng 13 12
3 Rất ngăn nắp 15 13
4 Liên quan đến sự phản
ứng

c
ủa

b
ạn

10 7
5

Si
ê
ng n
ă
ng, c
ần

c
ù


ư
ời

l
ạnh

l
ùng

2

-
7

P<01
16 Một người nồng ấm 0 -10
17 Lịch sự 17 7
18 Trưởng giả 10 -2
19 Điềm tĩnh 15 3
20 Khắt khe 10 -2
21 Hách dịch 4 -9
22 Không lịch thiệp 12 -2 Hình ảnh về nhà truyền thông tiêu cực thì khác đôi chút. Trong khi anh ta không
khác biệt gì nhiều so với nhà truyền thông tích cực ở tính tự chủ – những điểm
cần thiết cho sự thể hiện ảnh hưởng của thí nghiệm, mà anh ta là một người
không nhiệt tình, chủ yếu là điều khiển, không khéo léo trong xử lý tình huống,
hay đòi hỏi, gia trưởng, không hững thú một cách thực sự vào khách thể nghiên
cứu, đề cao cái tôi của mình và đâu đó là sự không chân thành và không được

là họ bị ảnh hưởng ngược lại, họ làm theo nhiều hơn là thái độ họ tỏ ra. Thái độ
này thay đổi theo sau sự ưng thuận của công chúng( lý giải bởi thuyết nhận thức
không thống nhất. Thái độ sẽ thay đổi nhiều hơn khi hành vi không thể được
biện hộ một cách dễ dàng trong các điều kiện về đặc điểm của nhà truyền
thông,etc, khi nhà truyền thồn là tiêu cực hơn tích cực. Vì vậy nguồn các yếu tố
những cái tạo nên sự không thích đáng trong uy tín của nhà truyền thông có thể
sử dụng trong những trường hợp cần có sự cuốn hút và không rõ ràng.
Những kết quả nghiên cứu có thể xem xét một cách kháI quát hoá, ở đây không
có sự khác nhau trong mẫu nghiên cứu sinh viên và mẫu nghiên cứu quân nhân
dự bị, và trong mẫu quân nhân dự bị của chúng tôI đã xuất hiện sự so sánh với
quân nhân biên chế ( công cụ Ss đẫ được sử dụng trong một nghiên cứu có liên
quan. Một số lượng thức ăn được sắp xếp theo thang : thích, không thích, bình
thường. Nghiên cứư về sự ưa thích các loại thức ăn của quân nhân biên chế. Với
1 trong 5 thức ăn được so sánh : những ý nghĩa và những sự khác nhau của
những quân nhân dự bị cũng giống với những gì quan sát được ở quân nhân biên
chế).
Những kết quả thu được trong nghiên cứu này cũng đã tăng những câu hỏi mang
tính kích động về việc lợi dụng ảnh hưởng của sự lây lan xã hội trong việc ra
quyết định của nhóm tham dự. Theo những phân tích hiện thời, việc lợi dụng
sức mạnh của áp lực nhóm nên được dùng như một bằng chứng biện hộ cho sự
tuân theo vì vậy đã giảm được tối thiểu chừng mực của sự chấp nhận riêng tư.
Trên thực tế, thái độ thay đổi nhiều nhất khi cá nhân bị đặt ở vị trí phảI hành xử
theo một kiểu nào đó không những đối nghịch với chuẩn mực giá trị cảu bản
thân anh ta mà còn với chính nhóm anh ta tham dự.
Mặc dù vậy, thao tác của nhà truyền thông đã khá thành công trong việc tạo ra 2
nhân cách khác nhau, nó cũng đã để lại cho nghiê cứu trong tương lai tìm cách
ước lượng tính hiệu quả của những đặc điểm của cá nhân nhà truyền thông, đặc
biệt là khi họ có ảnh hưởng tác động tới những đặc điểm bổ sung hoặc trệch hẳn
đI của công chúng.
Cuối cùng tầm quan trọng của những kết quả thu được ở đây cho thấy sự tráI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status