Sáng kiến kinh nghiệm:
Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Giảng Dạy Các Tác Dụng Của Dòng Điện.
LỜI NÓI ĐẦU
Việc đưa công nghệ thông tin ( CNTT) vào hoạt động giảng dạy trong nhà trường
nói chung đang được sự quan tâm đặc biệt của ngành giáo dục. Thực tế cho thấy cần
phải nhanh chóng nâng cao chất lượng giảng dạy bằng cách phát huy những ưu thế của
lĩnh vực CNTT nhằm phục vụ cho sự nghiệp giáo dục. Việc đưa CNTT vào giảng dạy
những năm gần đây đã minh chứng, CNTT đem lại hiệu quả rất lớn trong quá trình dạy
và học, làm đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học.
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã yêu cầu “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục
đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học CNTT như một
công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn”.
Giáo viên thực hiện: PHẠM QUỐC NGA
Sáng kiến kinh nghiệm:
Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Giảng Dạy Các Tác Dụng Của Dòng Điện.
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ
I: Mục đích yêu cầu:
Vật lý là môn khoa học của thực nghiệm, vì vậy trong giảng dạy môn Vật lý làm
thí nghiệm là một khâu có vai trò rất quan trọng nó không chỉ làm tăng tính hấp dẫn của
môn học, giúp học sinh hiểu sâu sắc các kiến thức lý thuyết đã được học mà quan trọng
hơn là tạo cho học sinh một trực quan nhạy bén.
Trong thực tế giáo viên vật lý nào cúng rất muốn lồng ghép các thí nghiệm biểu
diễn trong quá trình truyền đạt các nội dung kiến thức nhưng cũng có thể vì các lý do
chủ quan và khách quan mà không thể thực hiện các thí nghiệm đó được, các lý do đó
có thể là:
• Không có đủ thời gian để chuẩn bị thí nghiệm.
• Thiết bị thí nghiệm không đồng bộ, chất lượng kém, sai số lớn…
• Thí nghiệm được thực hiện xảy ra quá chậm khó thành công hay không thể
thực hiện được trong những điều kiện lớp học.
Thường thì khi gặp những trở ngại trên giáo viên sẽ phải dạy “chay” để đở tốn
thời gian, không bị “cháy” giáo án nên chất lượng giờ học chưa cao.
2008
-2009
303
SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ
21 7% 76 25% 121 40% 83 27% 2 1%
2. Dự báo nguy cơ:
Nếu không thay đổi cách thức sử dụng đồ dùng dạy học một cách trực quan, xinh
động sẽ làm cho học sinh khó tiếp thu kiến thức mới, dẫn đến việc nắm bắt bài
học gặp khó khăn. Làm cho một số em lười học sẽ học theo kiểu đối phó, sơ sài
hay sợ môn học này.
III: Giải pháp đã thực hiện:
Khi chưa sử dụng sáng kiến này hầu hết giáo viên đã áp dụng các giải pháp sau:
• Quá trình học chủ yếu tập trung vào người dạy, học sinh thụ động đọc – chép.
• Các phương pháp giáo viên thường dùng: Thuyết trình, giảng giải, đặt câu hỏi
để học sinh trả lời thông qua những hình ảnh có trong sách giáo khoa.
• Tài liệu sử dụng trong những tiết dạy chỉ là sách giáo khoa, sách giáo viện, đồ
dùng dạy học đơn giản chưa hấp dẫn học sinh.
• Có sử dụng thí nghiệm nhưng học sinh chưa thể khai thác hết những nội dung
kiến thức trong mỗi thí nghiệm với nhiều lý do như: thời lượng để học sinh làm
thí nghiệm qua ít; dụng cụ thí nghiệm không chính xác.
• Có thảo luận nhóm nhưng kết quả chưa cao vì chưa có nhiều kinh nghiệm
trong điều hành nhóm.
• Một số học sinh vẫn chưa tập trung vào việc làm thí nghiệm hay thảo luận
nhóm.
Nguyên nhận thực trạng:
• Do giáo viên ít sử dụng đồ dùng dạy học trong mỗi tiết dạy nên khi sử dụng
còn lúng túng, kết quả thí nghiệm chưa cao.
• Do các dụng cụ thí nghiệm không đồng bộ, sai lệch về số liệu..
• Do dung cụ thí nghiệm hư hỏng nhiều nên hạn chế vấn đề chia nhóm cho học
sinh tiến hành thực hành.
Học sinh hào hứng, hứng thú trong các tiết học có ứng dụng CNTT.
Bên cạnh những thuận lợi đã có thì trong việc giảng dạy của giáo viên còn gặp
không ít những khó khăn.
2: Khó khăn:
Trình độ tin học của giáo viên chưa cao mới dừng ở mức độ nhất định, còn nhiều
vấn đề giáo viên chưa thể tự thực hiện, khai thác để ứng dụng tốt cho tiết học có ứng
dụng CNTT.
Các tư liệu, hình ảnh, thí nghiệm .v.v. hỗ trợ trong việc giảng dạy của giáo viên
còn hạn chế chưa thật sự phong phú, chưa đáp ứng đủ nhu cầu dạy học trọng tiết có thí
nghiệm cũng như việc ứng dụng CNTT vào tiết dạy.
II: Giả thuyết:
Để học tốt bộ môn này tôi nghĩ cần phải kết hợp hoài hòa giữa việt sử dụng các
dụng cụ thí nghiệm cùng với việc ứng dụng CNTT vào trong giảng dạy. Để thực hiện
được việc này giáo viên ngoài việc nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên để đảm
bảo nội dung, kiến thức trong bài dạy ngoài ra giáo viên cần tìm hiểu các phần mềm và
cách thức sử dụng các phần mềm liên quan đến môn vật lý. Từ đó ứng dung những phần
mềm này vào nội dung, kiến thức trong bài dạy.
Giáo viên thực hiện: PHẠM QUỐC NGA
Sáng kiến kinh nghiệm:
Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Giảng Dạy Các Tác Dụng Của Dòng Điện.
III: Quá trình thử nghiệm:
1: Đối với giáo viên:
- Căn cứ vào nhiệm vụ của bộ môn.
- Căn cứ vào tình hình thực tiễn của trường THCS Nguyễn Du.
Hôm nay tôi mạnh dạn đưa ra một vài kinh nghiệm khi ứng dụng CNTT vào
trong tiết dạy học môn Vật lý.
a) Mục đích:
Thấy được vai trò, tác dụng của việc ứng dụng CNTT trong công tác giảng dạy
môn Vật lý nói riêng và các môn học khác nói chung.
Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn vật lý trong phạm vi nhất đinh.
Kể tên và mô tả tác dụng phát sáng của dòng điện đối với 3 loại đèn.
Giáo viên thực hiện: PHẠM QUỐC NGA
Sáng kiến kinh nghiệm:
Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Giảng Dạy Các Tác Dụng Của Dòng Điện.
II: Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin:
1. Đặt vấn đề vào bài.
2. Sơ đồ mạch điện và mạch điện hình 22.1.
3. Thí nghiệm về tác dụng nhiệt của dòng điện.
4. Mô hình bóng đèn bút thử điện.
5. Các phần kết luận.
6. Phần vận dụng C8.
III: Phương pháp, hình thức ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy:
1. Đặt vấn đề:
o Sử dụng Powerpoint để trình chiếu hình ảnh về các dụng cụ điện hoạt động
dựa trên tác dụng nhiệt và tác dụng phát sáng của dòng điện để đặt vấn đề
vào bài học.
2. Sơ đồ mạch điện và mạch điện hình 22.1
o Sử dụng POWERPOINT và phầm mềm VIOLET để thiết kế sơ đồ và mạch
điện như hình 22.1 sách giáo khoa lưu dưới dạng file “*.HTML” để nhúng
vào trong bài giảng cho học sinh quan sát và tiến hành lắp đặt mạch điện
nghiên cứu từng nội dung như câu C
2
.
3. Mô hình thí nghiệm về tác dụng nhiệt của dòng điện:
o Thí nghiệm này rất khó thực hiện thành công vì yêu cầu dòng điện có
cường độ lớn. Nên giáo viên có thể thay việc làm thí nghiệm này bằng cách
cho học sinh quan sát thí nghiệm mô hình ( thí nghiệm ảo) do giáo viên
thiết kết.
o Thí nghiệm ảo này ta nên xây dựng bằng POWERPOINT. Nên xây dựng
vẽ hình bằng cách mô phỏng tương tự như trong sách giáo khoa (hình 22.2)