Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Quyển 1): Phần 1 - Pdf 59

P G S . T S . B I N H V Ã N T H A N H (C h ủ h iên )
T S . P H Ạ M V Ă N T U Y Ế T ___________________

GIÁO TRÌNH

Luật dân sự
\iệ t Nam
(Q U V Ể 1 \ 1 )

NHÀ XU ẤT BẢN GIÁO DUC VIÊT NAM


PGS. TS. ĐINH VĂN THANH (Chủ biên)
TS. PHẠM VÃN TUYẾT

GIÁO TRÌNH

LUẬT DÂN Sự VIỆT NAM




I

(QUYỂN 1)
(Tái bản lần thứ nhất)

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN


Bộ luật dân sự thì sẽ khó có thể hiểu toàn bộ các quy định trong Bộ luật
và sẽ khó khăn trong vận dụng cũng như áp dụng. Khoa học Luật dân sự
không chỉ là những quy định cụ thể trong từng điẻu luật mà còn có sự liên
quan, chi phối của ngay chính các điểu luật trong Bộ luật dân sự và trong
các vãn bản pháp luật có liên quan được Bộ luật dân sự dẫn chiếu.
Nhằm dáp ứng kịp thời nhu cầu học tập của học viên hệ Đào tạo từ
xa và những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy quan tâm, Viện
Đại học Mở Hà Nội tổ chức biên soạn cuốn "Giáo trình Luật dân sự Việt
N a m ’’ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản pháp
luật có liên quan. Tham gia biên soạn giáo trình là những giảng viên có
kinh nghiệm và đã giảng dạy nhiẻu năm tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
Do mục đích ban đẩu, giáo trình được biên soạn cho đối tượng học
viên hệ từ xa là chủ yếu. Tuy nhiên, cuốn giáo trình này cũng rất bổ ích
đối vói sinh viên hộ đào tạo chính quy và các hộ đào tạo tập trung khác.
Mặc dù đã có nhiẻu cô' gắng trong quá trình biên soạn, tập thể
tác giả không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, rất mong nhận
được ý kiến đóng góp của các dộc giả, học viên, và các đồng nghiộp để
chỉnh lý cho lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn.

NHÓM TÁC GIẢ

4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Chương I


kinh doanh... Mối quan hộ trao đổi giữa các chủ thể dựa trên cơ sở tự nguyện, bình
đẳng, tự do ý chí luôn là trọng tâm và là nền tảng cho sự tồn tại của xã hội. Cùng
với sự phát triển của nền kinh tế, Luật dân sự ngày càng có vai trò và ý nghĩa quan
trọng trong đời sống xã hội, nhất là từ khi nước ta gia nhập Tổ chức thương mại
thế giới (WTO) và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) ngày càng tăng. Theo số
5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN

http://www.lrc-tnu.edu.vn


liệu đuợc công bố trên các phương tiộn thổng tin đại chúng tại trang webtintuconline, vietnamnet/vn/vn/kinhte/182209 ngày 20/1/2008 thì dòng vốn FDI
năm 2007 đầu tu trực tiếp vào Việt Nam đạt 20,3 tỷ USD, dự kiến năm 2008 có thể
dao động từ 21-25 tỷ USD.
Việc điều chỉnh các quan hệ xã hội có tính chất đặc trưng và sự cần thiết
phải có sự điều chỉnh bằng pháp luật dân sự với nhóm quan hệ xã hội là một vấn
đề không thể thiếu trong một nền kinh tế hàng hoá. Đây là cơ sở để thực hiện mục
đích duy trì, phát triển quan hệ xã hội trong các lĩnh vực tài sản, nhân thân và quan
trọng là duy trì một “trật tự pháp lý” trong trao đổi hàng hoá, lưu thông dân sự.
Nhà nước "với bản chất là một bộ máy chính trị - hành chính, một cơ quan cưỡng
chế” 1cao nhất sử dụng pháp luật để duy trì xã hội trong một trật tự nhất định cũng
chỉ là để bảo đảm cho các hoạt động của các chủ thể trong đòi sống xã hội được
tiến hành bình thường trong sự bảo đảm ổn định, an toàn pháp lý, trong đó có quan
hệ trao đổi hàng hoá - tiền tệ.
Không ai có thể phủ nhận rằng, con người (với tính cách là một thực thể
trong đời sống xã hội) muốn tồn tại và phát triển lại không cần đến những điểu
kiện sinh hoạt nhất định. Đó là những điều kiện vật chất thiết yếu bảo đảm cho sự
sinh tồn như: Lương thực, thực phẩm để ãn; nhà để ở; các phương tiện đê’ đi lại;
các phương tiện thông tin, liên lạc; các hoạt động giải trí, dịch vụ... Các điều kiện

quầy hàng lương thực, thực phẩm hoặc ở các siêu thị, chợ thị trường tự d o... Khi
cần vốn để sản xuất, kinh doanh nếu chủ thể là doanh nghiệp phải tham gia các
quan hệ vay tại các tổ chức Ngân hàng, tín dụng; trong quá trình sản xuất ra của
cải vật chất cho xã hội phải có những giao dịch cung ứng sức lao động, nguyên
liệu, vật liệu, hoá chất v.v...
Trong đời sống thực tế hàng ngày, chúng ta đều thấy rằng, đối với những
quan hệ trao đổi tài sản giản đơn, giá trị trao đổi không lớn, thông thường được
thực hiện theo thói quen và tập quấn. Đối với những quan hệ trao đổi này thường
được thực hiện trực tiếp bằng lời nói khi thoả thuận, cam kết giữa các chú thể và
rất ít khi xảy ra tranh chấp. Nhưng đối với tài sản có giá trị lớn, việc trao đổi phức
tạp (thường có đối tượng là bất động sản) thì pháp luật phải quy định các trình tự,
thú tục nhất định, nhằm hướng dẫn và buộc các bên tham gia quan hệ đó phải tuân
theo để bảo đảm sự ổn định và an toàn pháp lý các quan hệ đó.
Việc quy định của Luật dân sự Irong các chế định cụ thê đểu nhằm mục đích
"Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xứ của
cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thê' về nhân thân và
tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự).
Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức, lợi ích cùa Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn
pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điểu kiện đáp ứng nhu cẩu vật chất và
tinh thần cúa nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” (Điều 1 Bộ luật
dân sự năm 2005).
Đẽ’ điều chinh nhũng quan hệ tài sản và một số quan hệ nhân thân, nhằm duy
trì chúng theo một trật tự nhất định, Nhà nước ban hành các quy tắc xử sự hoặc thừa
nhận những xử sự theo tập quán tiến bộ và được Nhà nước bảo đàm thi hành bằng
sức mạnh cưỡng chế. Các quy tắc xứ sự được Nhà nước ban hành hay thừa nhận
nhằm điểu chính các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân được gọi là quy phạm
pháp luật dãn sự. Thông qua sự tác động của các quy phạm pháp luật dân sự đối với
các quan hệ xã hội, sẽ làm cho các quan hệ xã hội trở thành quan hệ pháp luật dân

I I ễ ĐỐI TƯỢNG Đ IỂU C H ỈN H CỦA LU Ậ T DÂN s ự V IỆ T NAM
1.

K hái niệm

Theo truyền thống và theo thông lệ trong khoa học pháp lý, mỗi ngành luật
đều có đối tượng nghiên cứu và đối tượng điểu chỉnh riêng. Đối tượng điều chỉnh
của một ngành luật là những nhóm quan hệ xã hội nhất định. Đó là nhóm quan hệ
giữa “người với người” có những tính chất và nội dung tương tự. Nhóm quan hộ xã
hội giữa “người với nguời” đó gọi là đối tượng điều chỉnh của một ngành luật nhất
định. Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là một trong những tiêu chí cơ bản
để phân định các ngành luật khác nhau trong một hệ thống pháp luật.
Đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự-theo khoa học Luật dân sự, là những
nhóm quan hệ xã hội giữa “người với người”, phát sinh trong cuộc sống hàng
ngày. Đó là nhóm quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh trong quá trình
sản xuất, phân phối, lưu thông, trao dổi, tiêu dùng... nhằm thoả mãn những nhu
cầu mọi mặt của các chủ thể trong sản xuất, kinh doanh hoặc trong sinh hoạt, tiêu
dùng của đời sông xã hội. Đây là những quan hệ rất phức tạp và đa dạng trong
cộng đồng xã hội.
Khác với những môn khoa học pháp lý khác, khi nghiên cứu về quan hệ giữa
“người với người” trong lĩnh vực tài sản và nhân thân, Luật dân sự nghiên cứu các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN

http://www.lrc-tnu.edu.vn


quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân tương đối toàn diện và mang tính chất tổng
thể; xác định địa vị pháp lý của từng loại chủ thể khác nhau trong các quan hệ đó.
Đối tượng nghiên cứu của Luật dân sự là những vấn đề có tính chất chung, cơ bản

V í dụ: Ngành luật hành chính quy định về viộc xác định các quyền nhân thân
trong lĩnh vực phong tặng các danh hiệu cao quý của Nhà nuớc cho một cá nhân
hoặc tổ chức như: Tặng thường các loại huân chương, huy chưcmg; phong tặng các
chức danh hoặc danh hiệu trong các lĩnh vực khoa học, văn hoá, nghệ thuật...
Ngành luật hình sự quy định là tội phạm và áp dụng trách nhiệm pháp lý hình sự
bằng một hình phạt đối với những người có hành vi xâm phạm đến danh dự, nhân
phẩm, uy tín, vu khống, làm nhục hoặc xúc phạm người khác...
* Đặc điểm
Các quan hệ nhân thân do pháp luật dân sự điều chỉnh có những đặc điểm
sau đây:
- Đó là những quan hệ xã hội luôn luôn gắn liền với một chủ thể xác định
(như tính chất và tên gọi của nó);
- Các quyền lợi về nhân thân của một chù thể theo nguyên tắc của pháp luật
dân sự không tách rời chủ thể đó để chuyển dịch cho chú thể khác thông qua các
giao dịch dân sự cụ thể;
- Đa số các quan hệ nhân thân là đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự
không có tính chất “giá trị kinh tế” và không có nội dung tài sản.
12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ nhân thân bằng các biện pháp truyền
thống như: Buộc chấm dứt hành vi vi phạm, cổng khai xin lỗi, cải chính trên các
phương tiện thông tin đại chúng... nhằm phục hổi tình trạng ban đầu như trước khi
bị vi phạm. Trong một số trường hợp khi người có quyền nhân thân bị xâm phạm
ngoài quyền tự mình cải chính, còn có quyền yêu cầu được bảo vệ. Toà án có thể
buộc người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền buộc người vi

áp dụng các biện pháp: Tự mình cải chính hoặc yêu cầu người vi phạm phải xin
lỗi; cải chính công khai. Bởi vì danh đự, uy tín, nhân phẩm của một cá nhân hoặc
13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN

http://www.lrc-tnu.edu.vn


một tổ chức không thể xác định được bằng tién và sự cưỡng chế của Nhà nước
cũng không mang tính chất tài sản. Luật chì quy định nếu một người có hành vị
xâm phạm đến danh dự, uy tín, nhân phẩm ... của người khác mà gây thiột hại vể
tài sản thì phải bổi thường thiệt hại đó.
Ngày nay, để bảo vệ quyển nhân thân, ngoài viộc ghi nhận các biện pháp đặc
trưng và truyền thống của pháp luật dân sự như trước đây, Bộ luật dân sự còn quy
định, người có quyền nhân thân bị xâm phạm có quyển: “Yêu cầu người vi phạm
hoặc yêu cầu Toà án buộc người vi phạm phải bổi thường thiệt hại vật chất và thiệt
hại ve tinh thần” (khoản 3 Điều 25 Bộ luật dân sự năm 2005).
Như vậy, người xâm phạm đến quyền nhân thân của người khác ngoài việc
phải khắc phục những hậu quả về tinh thần, còn có thể phải bổi thuờng những thiệt
hại vể vật chất. Đây là một trong những quy định mới mà trước khi ban hành hai
Bộ luật dân sự chưa có văn bản pháp luật nào quy định.
Tương tự như các quan hệ tài sản, pháp luật dân sự không điều chỉnh toàn bộ
các quan hệ nhân thân của đời sống xã hội. Chẳng hạn, điều chỉnh quan hệ nhân
thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái sẽ do Luật hôn nhân và gia đình
điểu chỉnh. Luật dân sự chỉ quy định những vấn đề cơ bàn, có tính chất nguyên tắc
chung vể hôn nhân và gia đình.

III. PHƯƠNG PH Á P Đ IỂU C H ỈN H CỦA LU Ậ T DÂN s ự
l ẳ K hái niệm

và quan hệ nhân thân đã phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt theo ý chí của chủ thể
trẽn cơ sở ý chí của Nhà nước được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật dân sự
cụ thể hoặc theo một trật tự nhất định; quyén và nghĩa vụ của các chủ thể luôn được
bảo đảm thực hiện.
2. Đăc điểm
Do tính chất đặc thù vể đối tượng điều chình, phương pháp điểu chỉnh của
pháp luật dân sự có những đặc điểm sau đây:
Trước hết, trong mọi giao lưu dân sự, yếu tố bình đẳng giữa các chủ thể về
phương diện pháp lý là một đặc điểm có tính chất đặc trưng. Trong giao lưu dân sự
không có sự phân biệt địa vị xã hội, tình trạng tài sản, dân tộc, giới tính, tôn
giáo...; không bẻn nào có quyén ra lệnh cho bên nào; chủ thể trong các giao dịch
dân sự cụ thể luôn độc lập với nhau và không phụ thuộc vào chủ thể khác.
Đây là một trong những nguyên tắc quar. trọng trong phương pháp điều
chỉnh của Luật dân sự. Điểu 5 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định: “Trong quan
hộ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt vể dân tộc, giới
tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ vãn hoá,
nghẻ nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau".
Tính chất độc lập và bình đẳng giữa các chủ thể về tài sản và quyền tự định
đoạt của các chủ thể là yếu tô' quyết định có ý nghĩa quan trọng; bời lẽ, các quan
hệ tài sản do Luật dân sự điều chỉnh luôn có tính chất hàng hoá-tiền tệ. Muốn thực
hiện được việc “trao đổi ngang giá” và “đển bù luơng đương” trong các giao dịch
có tính chất hàng hoá-tiền tộ thì mỗi chủ thể phải thực sự bình đẳng; có quyền tự
định đoạt theo ý chí của mình trên cơ sở độc lập về tài sản. Không có sự bình
đậng, độc lập vể tài sản và chủ thể không có quyền tự định đoạt thì cũng khõng thê
thực hiện được tính chất dền bù tương đương-ngang giá trị trong giao dịch dân sự.
Ngoài ra, sự bình đảng và độc lập vể tài sản cùa các chú thể trong giao lưu
dân sự còn được thể hiện ngay cả trong trường hợp mà giữa các chủ thể còn có các
mối liên hệ không có tính chất bình đảng (như trong quan hệ hành chính, lao
động...). Dù rằng chù thể đó có sự “phụ thuộc” nhất định trong các quan hệ khác
15

Quyền tự định đoạt của các chủ thể dược pháp luật dân sự tôn trọng và bảo vệ.
Các chú thể được thực hiện quyền này theo sự tuỳ nghi và theo ý chí của mình nhưng
phái chú ý tới các yêu cầu của pháp luật về giới hạn các quyền đối vói từng loại chủ
thế khác nhau trong những giao dịch dân sự khác nhau.
Về nguyên tắc, các chủ thể của Luật dân sự được quyền tự định đoạt, tự do
lựa chọn cách thức, biện pháp thực hiện quyển dân sự và nghĩa vụ dân sự nhưng
quyển tự định đoạt dó không phải là hoàn toàn không bị một giới hạn nào. Giới
hạn quyển của chù thể trong giao lưu dân sự chính là: “Không được xâm phạm đến
lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”
(Điều 10, Bộ luật dân sự năm 2005). Trong giao lưu dân sự, các chủ thể có quyền
tự do cam kết, thoả thuận nhưng “mục đích và nội dung của giao dịch không vi
phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” (điểm b khoản 1 Điều
122 Bộ luật dân sự năm 2005).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Quyền tự định đoạt của chủ thể trong giao lưu dân sự cũng được bảo đảm
bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước đã đuợc quy định tại Điều 4 Bộ luật dân
sự: “Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối vói các bên
và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng".
Ngoài ra, khi xác lập quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự các chủ thể còn phải
tuân theo các căn cứ, cách thức, trình tự, thủ tục do Bộ luật dân sự và các vãn bản
pháp luật khác quy định. Giao dịch dân sự khi xác lập không dược trái với các
nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật (Điểu 11
Bọ luật dân sự năm 2005).
- T h ứ ba là, trách nhiệm tài sản cũng là đặc điểm đặc trimg về trách nhiệm
pháp lý trong phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự. Đối tượng điều chỉnh của

bảo đảm cho các chủ thể của pháp luật dân sự sử dụng trong những trường hợp cẩn
thiết để bảo vệ kịp thời các quyển, lợi ích của mình khi bị xâm phạm.

IV. LUẬT DÂN S ự VÀ KHOA H Ọ C LU ẬT DÂN s ự
1. L uật dân sự - m ột ngành luật thực định
a. K hái niệm
Luật dân sự dù được xem xét ở những góc độ khoa học khác nhau, đều luôn
dược xem là một ngành luật thực định. Pháp luật dân sự (bao gồm cả các văn bản
có liên quan đến việc áp dụng) là một hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự để
điéu chỉnh các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân trong đời sống xã hội. Nhờ có
sự tác động trực tiếp của các quy phạm pháp luật dân sự lên các quan hệ xã hôi
tác động lên ý chí của các chù thể tham gia quan hệ dân sự mà các quan hê xã hôi
18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN

http://www.lrc-tnu.edu.vn


trở thành quan hệ pháp luật dân sự: Đuợc phát sinh, thay đổi và chấm dứt theo một
trình tự nhất định do Bộ luật dân sự quy định.
Với tính chất là một ngành luật thực định, trong Bộ luật dân sự và các văn
bản pháp luật có liên quan được kết cấu theo truyền thống: Gồm nhiều chế định
riêng biệt, mỗi chế định có tính chất và nội dung tương tự; trong mỗi chế định lại
có nhũng nguyên tắc riêng biệt và có nhiẽu quy phạm pháp luật khác nhau điểu
chỉnh các hành vi dân sự cụ thể của các chủ thể.
Để tránh sự trùng lặp của kỹ thuật lập pháp, trong Bộ luật dân sự dã dành
toàn bộ Phần thứ nhất với tên gọi: “Những quy định chung”, dể quy định những
vấn đề bao quát, có tính chất chì đạo và áp dụng cho tất cả các chế định trong pháp
luật dân sự. Ngoài ra, các chế định cụ thể trong Bộ luật dân sự như: Chế định tài

http://www.lrc-tnu.edu.vn


b. So sánh Luật dân sự với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật
Việt Nam
Vối những đặc điểm, đặc trưng vé đối tượng và phương pháp điểu chình của
mỗi một ngành luật, khoa học Luật dân sự phân biệt ngành luật này với ngành luật
khác trong một hệ thống pháp luật. Việc phân biệt này có ý nghĩa cả về lý luận và
thực tiễn, nhất là trong việc áp dụng pháp luật tại các cơ quan nhà nước có thâm
quyền.
Tuy nhiên, cần thấy rằng việc so sánh trong nhiều trường hợp nó chỉ có ý
nghĩa tương đối. Bởi lẽ, pháp luật của Nhà nước là một hệ thống thống nhất, thê
hiện ý chí của Nhà nước và giữa chúng thuờng có mối liên hệ mật thiết với nhau,
nhằm điều chỉnh các quan hộ xã hội tồn tại trong một chế độ xã hội, phù hợp với
những điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử... nhất định. Việc so sánh Luật dân sự với
một số ngành luật khác chỉ có ý nghĩa tương đối về lý luận và trong học thuật.
* Luật dân sự và Luật tố tụng dân sự
Luật dân sự và Luật tố tụng dân sự là hai ngành luật có liên quan mật thiết
với nhau. Luật tố tụng dân sự quy định trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp
dân sự; hôn nhân và gia đình. Luật tố tụng dân sự điều chỉnh các quan hệ tô' tụng
phát sinh giữa cơ quan tiến hành tô' tụng, người tiến hành tố tụng (bao gồm Toà án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân...) với những người tham gia tô' tụng (đưcmg sự,
những người có quyền và lợi ích liên quan, cơ quan giám định...) trong quá trình
giải quyết các vụ án dân sự.
Trong Luật tố tụng dân sự quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng với những đương sự và người tham gia tố tụng khác là quan hệ quyền
uy-phụ thuộc. “Quyền tự định đoạt của đương sự” trong pháp Luật tố tụng dân sự
cũng được bảo đảm nhưng tính chất hoàn toàn khác so với quyền tự định đoạt và
bình đẳng pháp lý của chủ thể trong pháp luật dân sự. Nói cách khác, các chủ thể
khi tham gia tô' tụng dân sự không có sự bình đẳng.

lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại.
Vi dự. Cho phép mua nhà để sử dụng vào mục đích khác (Điều 455 Bộ luật
dân sự năm 2005). Thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác (Điều 500, Bộ luật dân
sự năm 2005). Các quy dịnh vẻ quyền sở hữu công nghiêp và chuyển giao công
nghệ (quy định tại Phẩn thú sáu, Bộ luật dân sự năm 2005)...
Trước đây, theo quy định của Pháp lệnh hợp đổng kinh tế ngày 29/9/1989
(nhưng hiộn nay Pháp lệnh đã hết hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 theo quy định tại
Nghị quyết của Quốc hội sô' 45/2005/QH11 kỳ họp thứ 7, Khóa XI) thì một hợp
đồng được coi là hợp đồng kinh tế phải có hai điều kiện sau đây:
- Hai bên ký kết đẻu có mục đích kinh doanh nhằm thu lợi nhuận và vấn đề
này còn được quy định trong luật thương mại. Vì vậy, trong hộ thống pháp luật
thời kỳ đó điểu chỉnh các quan hệ về hợp đồng ở Việt Nam có tới ba loại: Hợp
đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và hợp đồng thương mại.
- ít nhất một bên chủ thể trong hợp dồng là doanh nghiệp có đãng ký kinh
doanh hợp pháp.
Nghị định số 66/HĐBT ngày 02/3/1992 của Hội dồng Bộ trưởng (nay là Hội
đồng Chính phủ) đã giải thích rõ: Nếu một bên không kinh doanh sẽ là hợp dồng
dân sự. Vì vậy, chỉ được coi là hợp dồng kinh tế và do Luật kinh tế điều chỉnh khi
hai bẽn chủ thể giao kết đều có mục đích kinh doanh nhằm thu lợi nhuận và có ít
nhất một bén trong hợp đổng là doanh nghiệp.
* Luật dân sự với Luật hôn nhân và gia đình
Các quan hệ do Luật dân sự điều chỉnh mang tính chất tài sản và một sô'
quan hệ nhân thân nhưng các quan hệ do Luật hôn nhân và gia đình điều chinh lại
21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN

http://www.lrc-tnu.edu.vn



pháp luật về đất đai.
* Luật dân sự và Luật hành chinh
Cơ sở đẽ’ phân biệt hai ngành luật này chú yếu dựa vào đặc tnmg của phương
pháp diều chinh. Đặc trưng trong phương pháp điều chính cùa Luật hành chính là
tính chất mệnh lệnh: Quyền uy-phục tùng. Trong Luật hành chính khỏnc có sư
bình đáng pháp lý giữa các chù thể tham gia quan hệ hành chính. Cụ thế là. không
có sự bình đẳng vé quyền và nghĩa vụ giữa các chù thê. Trong quan hệ pháp luât
22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN

http://www.lrc-tnu.edu.vn


hành chính, một bên chủ thể luôn là cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền ra
mộnh lệnh, còn bên kia phải phục tùng và chấp hành mệnh lệnh đó.
Ví dụ: Quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền trong việc quản
lý trật tự xây dựng đô thị: Cho phép tổn tại hay phá bỏ công trình xây dựng vi
phạm các quy định vể xây dựng, xây dựng không phép...
Những quan hệ xã hội do Luật hành chính điểu chỉnh giới hạn trong lĩnh vực
chấp hành, điều hành và quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước.
Trong việc điều hành và quản lý nhà nước có thể có những vấn đề liên quan đến
tài sản, nhân thân... nhưng việc điều chinh sẽ được thực hiện bằng phương pháp
với đặc diểm như đã trình bày ở trên.
Trong thực tế, có một số quan hệ tài sản do hai ngành luật này cùng điều
chình nhưng ở góc độ khác nhau và có tính chất hoàn toàn khác nhau. Đối với các
quan hệ tài sản, Luật hành chính chi quy định những thể lệ về hành chính nhằm
quản lý, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của các tổ chức và của công dân. Luật hành
chính quy định các vấn để liên quan đến tài sản như: Thủ tục cấp phát và thu hồi
vật tư, tiền vốn; thẩm quyển của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc quản

nước để duy trì một trật tự xã hội nhất định.
Chức năng cơ bản của hình phạt trong trách nhiộm hình sự chủ yếu nhằm mục
đích: Trừng trị, giáo dục nguời phạm tội và răn đe, phòng ngừa tội phạm, được quy
định trước trong Bộ luật hình sự. Trong pháp luật hình sự không có sự “thoả thuận”
về trách nhiệm pháp lý như trong trách nhiệm dân sự. Tính chất bình đẳng ưong
pháp luật hình sự hoàn toàn khác tính chất bình đẳng trong pháp luật dân sự: Các bị
cáo chỉ bình đẳng trước pháp luật tại Tòa án và được xét xử công bằng.
Trong pháp luật dân sự thì trách nhiệm tài sản là trách nhiệm của chủ thể
này trước chủ thể khác khi có hành vi vi phạm nhằm khôi phục lại tình trạng ban
đẩu hoặc khắc phục những hậu quả xấu do hành vi vi phạm gây ra. Đặc trưng của
trách nhiệm pháp lý trong Luật dân sự tuy cũng là biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước nhưng bản chất pháp lý hoàn toàn khác và chỉ mang tính chất tài sản. Trách
nhiệm dân sự có thể được quy định trong pháp luật dân sự nhưng cũng có thể do
các chủ thể thoả thuận trong quá trình cam kết, thoả thuận xác lập các giao dịch
dân sự (chủ yếu là dối với các quan hệ về hợp đổng).
Một điểm khác biệt quan trọng nữa là, trong Luật hình sự ưách nhiệm pháp lý
chỉ có thể áp dụng cho cá nhân (theo nguyên tắc cá thể hoá hình phạt), còn trong
Luật dân sự trách nhiệm pháp lý có thể áp dụng không những cho cá nhân mà còn
áp dụng cho cả pháp nhân, tổ chức và các chủ thể khác khi có hành vi vi phạm.
2. Khoa học Luật dân sự - một ngành khoa học pháp lý

a. Khái niệm
Nói đến tính chất khoa học là nói đến các căn cứ, cơ sở khoa học, cơ sở thực
tiễn của một ngành luật. Với tính chất là một ngành luật thực định nhưng Luật dân
sự (theo nghĩa rộng còn gồm các văn bản pháp luật có liên quan của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền) còn là một ngành khoa học pháp lý. Vì vậy, trong thực tế
nếu chỉ đọc các quy định của Bộ luật dân sự mà không nghiên cứu các cơ sờ khoa
học, sự lý giải, hướng dẫn hoặc giải thích... thì việc hiểu, vận dụng và đặc biệt là
việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không thể tránh
khỏi những hạn chế và thiếu thống nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status