luận văn thạc sĩ phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP sài gòn thương tín – CN hàng bài trong giai đoạn hiện nay - Pdf 59

1

1
1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đã thực hiện việc kiểm tra mức độ tương đồng nội dung luận
văn/luận án qua phần mềm Turnitin một cách trung thực và đạt kết quả mức độ
tương đồng 14 % toàn bộ nội dung luận văn/luận án. Bản luận văn/luận án kiểm tra
qua phần mềm là bản cứng luận văn/luận án đã nộp để bảo vệ trước hội đồng. Nếu
sai tôi xin chịu các hình thức kỉ luật theo quy định hiện hành của Trường.
Hà Nội, ngày 16 tháng 7 năm 2018
HỌC VIÊN CAO HỌC/NCS
(Kí và ghi rõ họ tên)

LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp
với kinh nghiệm trong quá trình công tác tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương
Tín, với sự cố gắng nỗ lực của bản thân.
Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy, cô
giáo tại Khoa sau đại học – Trường Đại học Thương mại đã nhiệt tình truyền đạt
kiến thức và giúp đỡ hỗ trợ tôi. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô
giáo TS. Nguyễn Bích Thủy, là người hướng dẫn luận văn; Cô đã dày công giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên
Sacombank – CN Hàng Bài đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian thực
hiện luận văn cũng như trong công tác.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn bên
cạnh động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết,



XK
NK
XNK
T/T
L/C
Sacombank
TTQT
CV. TTQT
UCP
URC
ISBP

INCOTERMS
SWIFT
WTO
TTNĐ
NHNg

3
3

Xuất khẩu
Nhập khẩu
Xuất nhập khẩu
Telegraphic transfer (Chuyển tiền bằng điện)
Leter of credit (Tín dụng chứng từ)
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
Thanh toán quốc tế
Chuyên viên thanh toán quốc tế

Như một mắc xích không thể thiếu, hoạt động thanh toán quốc tế của ngân
hàng ngày càng có vị trí và đóng vai trò quan trọng, được xem là công cụ, là cầu nối
trong quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên
thế giới. Dịch vụ thanh toán quốc tế còn là một hoạt động quan trọng của ngân
hàng, có liên quan đến nhiều hoạt động khác của ngân hàng.
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn thương tín (tên giao dịch: Sacombank)
là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ và hệ thống chi
nhánh lớn nhất Việt Nam. Kể từ ngày thành lập cho đến nay, Sacombank đã đạt
được những bước tiến thật rõ rệt khi nằm trong top ngân hàng cổ phần tại Việt Nam.
Là một ngân hàng tiên phong, Sacombank đang tận dụng công nghệ và các kênh
phân phối dịch vụ hiện đại làm lợi thế cạnh tranh để thỏa mãn nhu cầu khách hàng.
Điều đó được chứng minh bằng các bằng khen và giải thưởng có uy tín trong nước
và quốc tế trao tặng cho ngân hàng như top 40 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam do
tạp chí Forbes công bố; Top 100 Thương hiệu – Sản phẩm/Dịch vụ nổi tiếng
ASEAN do báo Thời báo Mekong - cơ quan của TW Hội Phát triển hợp tác kinh tế
Việt Nam – Lào – Campuchia (VILACAED) tổ chức; Dịch vụ ngân hàng trực tuyến
tốt nhất 2016 (Best Use of Online Banking) do tạp chí Retail Banker International
(Anh) trao tặng; Thương hiệu mạnh Việt Nam 2016 do Thời báo Kinh tế Việt Nam
và Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công thương) phối hợp tổ chức…
Là một đơn vị kinh doanh của Sacombank, chi nhánh Hàng Bài mang trong
mình sứ mệnh cung cấp tối ưu giải pháp tài chính trọn gói, hiện đại và đa tiện
ích cho khách hàng. Chi nhánh Hàng Bài tự hào từng CBNV của Chi nhánh đã
khẳng định được giá trị thương hiệu tập thể, giá trị của bản thân. Với những điều tốt
đẹp đó, Chi nhánh Hàng Bài đã sẵn sàng đồng hành cùng sự phát triển chung
của cộng đồng và xã hội.
Trong những năm qua, Sacombank – Chi nhánh Hàng Bài đã không ngừng
nâng cao hoàn thiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế. Trước tình hình khủng hoảng


5

Đề tài 2: Giải pháp phát triển hoạt động TTQT tại Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam. Tác giả: Nguyễn Hương Lan (2011), Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại
học Ngoại thương. Luận văn đã hệ thống đầy đủ lý luận về hoạt động TTQT cũng
như các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này. Phân tích thực trạng hoạt động
TTQT tại Vietcombank, cụ thể trong phương thức tín dụng chứng từ và các phương
thức khác. Đề xuất một số giải pháp cụ thể cho việc phát triển hoạt động TTQT tại


6

Vietcombank trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, đề tài của luận văn là giải pháp phát
triển hoạt dộng TTQT nhưng tác giả chỉ đưa ra các khái niệm chung chung, chưa
đưa ra được khái niệm phát triển hoạt động TTQT là gì, các chỉ tiêu để đánh giá
hoạt động này.
Đề tài 3: Chiến lược Marketing cho dịch vụ thanh toán quốc tế tại ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín – Sacombank. Tác giả: Trương Minh Trung (2011),
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế TP.HCM. Đề tài phân tích môi trường
kinh doanh của Sacombank trong giai đoạn tài chính Việt Nam đang mở cửa cho
các ngân hàng nước ngoài tham gia hoạt động như các ngân hàng thương mại Việt
Nam. Đồng thời chỉ rõ sức ép mà Sacombank phải đối mặt trong giai đoạn này. Xây
dựng chiến lược Marketing cho một dịch vụ cụ thể, đó là dịch vụ TTQT, một dịch
vụ được xem là có tiềm năng rất lớn vì kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã
tăng mạnh trong những năm gần đây và hứa hẹn sẽ còn tăng mạnh trong tương lai.
Song nghiên cứu về vấn đề Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân
hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – CN Hàng Bài trong giai đoạn hiện nay thì chưa
có công trình nghiên cứu nào được công bố, bên cạnh đó, việc nghiên cứu có tính
đặc thù bởi phạm vi nghiên cứu của nó.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.
Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển hoạt động
thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần nói chung và tại NH TMCP
Sài gòn thương tín nói riêng. Sự phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
được đánh giá theo chiều rộng như phát triển về doanh thu, lợi nhuận, số lượng
khách hàng, phương thức thanh toán, …. và theo chiều sâu bao gồm thương hiệu và
uy tín của ngân hàng, tốc độ thanh toán, hạn chế tối đa rủi ro trong TTQT…
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu bao gồm: Thu thập, tổng
hợp, phân tích và xử lý số liệu, … Cụ thể như sau:
- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu được thu thập từ các báo cáo thường niên của
Sacombank nói chung và Sacombank – CN Hàng Bài, báo cáo tài chính, bản công
bố thông tin, cơ quan thống kê, báo cáo thường niên của NHNN và một số NHTM.
- Phương pháp tổng hợp: Sàng lọc và đúc kết từ thực tiễn và lý luận để đề ra giải
pháp và bước đi nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Số liệu thu thập được sẽ phân tích thông
qua chương trình phần mềm Microsof Excel, bảng biểu và biểu đồ.
6. Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của đề tài
Xây dựng các nội dung liên quan đến phát triển hoạt động thanh toán quốc tế
tại ngân hàng thương mại không hề dễ dàng. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh
vực này. Tuy nhiên, những nghiên cứu vận dụng các lý thuyết về phát triển hoạt
động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại cổ phần còn hạn chế. Chưa có đề
tài nào đề cập đến vấn đề phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương Tín – CN Hàng Bài.
Luận văn này cố gắng làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận khoa học của vấn đề
phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại cổ phần. Trên
cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng phát triển hoạt động thanh toán
quốc tế, đồng thời đề xuất một số giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế
tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – CN Hàng Bài.
7. Kết cấu của luận văn


hội họp cho những người mua bán, trao đổi tiền bạc và vay nợ. Các ngân hàng cho
vay nặng lãi đã xuất hiện ở Ý khoảng 500 năm trước công nguyên, những ngân
hàng này hoạt động với quy mô lớn. Sau thế kỷ XVI, xuất hiện ngân hàng có hệ
thống của Ý như Banco di Napoli (1591), …
Loại hình ngân hàng hiện đại xuất hiện trên thế giới vào thế kỷ 17, với việc
hình thành các ngân hàng như Ngân hàng Amxtecdam năm 1609 ở Hà Lan, ngân
hàng Hamburg năm 1619 ở Đức, ngân hàng Anh quốc năm 1649.


9

Tại Việt Nam, vào thời kỳ Bắc thuộc và từ thế kỷ XIX trở về trước, là một
nước nông nghiệp lạc hậu nên chưa hề có khái niệm về ngân hàng. Sự đô hộ hàng
ngàn năm của chế độ phong kiến phương Bắc đã làm cho nước ta hầu như không có
sự tiếp xúc giao thương với các nước láng giềng, thương mại ít phát triển cả trong
và ngoài nước. Do đó, nghề kinh doanh tiền tệ cũng kém phát triển, mang nặng tính
phân tán, chủ yếu là hoạt động đổi tiền và cho vay nặng lãi.
Khoảng giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Việt Nam trở
thành thuộc địa. Từ đó, các thương gia người Pháp bắt đầu chiếm lĩnh thị trường
Việt Nam (các nhà máy đường, nhà máy sợi, nhà máy dệt, …). Thị trường nước ta
ngày càng phát triển, trên lãnh thổ Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện hệ thống ngân
hàng hiện đại, gồm có ngân hàng Đông Dương với tư cách là ngân hàng phát hành
giấy bạc và tiền kim loại cho các nước thuộc địa của Pháp ở Châu Á và một số ngân
hàng thương mại của người nước ngoài và của người Việt Nam như ngân hàng Pháp
– Hoa, ngân hàng Hồng Kông – Thượng Hải, Địa ốc ngân hàng, … để hỗ trợ cho
các hoạt động kinh doanh thương mại.
Ngày 6/5/1951, theo Sắc lệnh 15/SL của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa (Hồ Chí Minh) Ngân hàng lấy tên là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được
thành lập, đây là Ngân hàng đầu tiên của nước ta.
Từ năm 1951 đến trước khi có nghị định 53/HĐBT (26/3/1988), hệ thống ngân

Hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam là hệ thống ngân hàng đa năng,
kinh doanh tổng hợp được định hình và phát triển mạnh mẽ đặc biệt là sau khi nước
ta là thành viên của các tổ chức kinh tế thế giới WTO (2007).
1.1.2. Khái niệm ngân hàng thương mại
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
Theo luật pháp nước Mỹ: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền
tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ
tài chính”.
Đạo luật ngân hàng của Pháp năm 1941 cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng
thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền
bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử
dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài
chính".
Hay như ở Ấn Độ, luật ngân hàng năm 1950, bổ sung năm 1959 đã nêu:
“Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay, tài trợ đầu tư”.
Theo luật của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: “Các nhà băng thiết yếu gồm
các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hàng nghề thương mại và các
giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ
chuyển tiền, đứng ra bảo hiểm...”.
Ở Việt Nam, theo điều 20 Luật tổ chức tín dụng (TCTD) được Quốc hội thông
qua tháng 12 năm 1997 có nêu: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập
theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh
doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi
để cấp tín dụn, cung cấp các dịch vụ thanh toán”.


11

Vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng trong
nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà nguồn tiền nhàn rỗi sẽ được

Ngân hàng thương mại là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền
kinh tế
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia làm hai
cấp: Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng chuyên doanh (NHTM). Ngân hàng công
thương được nhà nước cấp vốn cho hoạt động và sử dụng như công cụ để quản lý


12

hoạt động tiền tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết ngân
hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa
các ngân hàng thương mại trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền
tệ cung ứng và lưu thông. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong
nền kinh tế, ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền tập hợp và
phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả.
Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế
Nhận thức được tầm quan trọng của nền kinh tế quốc tế, sự hội nhập kinh tế
quốc gia với thế giới đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, thúc đẩy nền kinh tế phát
triển nhanh và bền vững. Một trong những điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy
sự hội nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc
gia. Nền tài chính quốc gia là cầu nối với nền tài chính quốc tế thông qua hoạt động
của ngân hàng thương mại trong các lĩnh vực kinh doanh như nhận tiền gửi, cho
vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác. Đặc biệt là
các hoạt động thanh toán quốc tế, mua bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân
hàng nhà nước của ngân hàng thương mại trực tiếp hoặc gián tiếp tác động thúc đẩy
hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó ngân hàng thương mại đã
thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài
chính quốc tế.
1.2.

là thanh toán mậu dịch) và thanh toán phi ngoại thương (tức là thanh toán phi mậu
dịch).
Thanh toán quốc tế trng ngoại thương (thanh toán mậu dịch) là việc thực hiện
thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và các dịch vụ thương mại cung ứng
cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán
và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương.
Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch) là việc thực hiện thanh
toán không liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu nghĩa là thanh toán cho các hoạt
động không mang tính thương mại. Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan
ngoại giao ở nước ngoài, tổ chức và cá nhân, các nguồn tiền trợ cấp của thân nhân,
phí sinh hoạt chữa bệnh, du lịch ở nước ngoài....
Đặc điểm của hoạt động thanh toán quốc tế
So với thanh toán nội thương, thanh toán quốc tế có một số đặc điểm sau:
Hoạt động thanh toán quốc tế chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập
quán quốc tế. Hoạt động thanh toán quốc tế liên quan đến các chủ thể ở hai hay
nhiều quốc gia, do đó các chủ thể khi tham gia hoạt động thanh toán quốc tế không
những chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia, mà còn phải tuân thủ các văn bản pháp
lý quốc tế. phòng thương mại quốc tế ban hành UCP, URC, INCOTERMS, ISBP …
tạo ra một khung pháp lý bình đẳng, công bằng cho các chủ thể khi tham gia vào
hoạt động thương mại và thanh toán quốc tế.
Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện phần lớn thông qua ngân
hàng. Trừ một số lượng rất nhỏ hàng hóa xuất nhập khẩu được mua bán qua con
đường tiểu ngạch thì hầu hết kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia được phản
ánh qua doanh số thanh toán quốc tế của hệ thống ngân hàng thương mại. Trong
thực tiễn, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu không được phép tiến hành thanh toán
trực tiếp cho nhau, mà theo luật định phải thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Việc


14


khách hàng thực hiện hoạt động thương mại quốc tế.
Trong hoạt động kinh tế đối ngoại của quốc gia, hệ thống ngân hàng tham gia
và đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các giai đoạn như: thanh toán quốc tế, tài trợ
xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương... Thanh
toán giữa các nước sẽ được thực hiện thông qua ngân hàng và vai trò của ngân hàng
trong TTQT chính là chất xúc tác, là cầu nối, là điều kiện đảm bảo an toàn và hiệu


15

quả cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời cấp vốn cho các
doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu.
1.2.2.2.
Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế
Trước xu thế hội nhấp kinh tế quốc tế, các quốc gia đang gia sức phát triển
kinh tế thị trường, mở cửa, hợp tác và hội nhập. Trong bối cảnh đó, thanh toán quốc
tế nổi lên như là chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước với kinh tế thế giới bên
ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch
vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế
khác. Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch
vụ giữa tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không có hoạt động
thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát triển. Nếu
hoạt động thanh toán quốc tế nhanh chóng, an toàn, chính xác sẽ giải quyết được
mối quan hệ lưu thông hàng hóa – tiền tệ giữa người mua và người bán một cách
thông suốt và hiệu quả.
Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định trong hoạt động
kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng. Đặc biệt trong
bối cảnh hiện nay, mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối ngoại lên hàng đầu,
coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh
tế của mỗi nước.

-

1.2.3.2.

Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T): là hình thức chuyển tiền, trong đó
lệnh thanh toán (Bank draft) của ngân hàng chuyển tiền được chuyển bằng thư cho
ngân hàng trả tiền. Chuyển tiền bằng thư chậm nhưng có chi phí thấp. Ngày nay,
chuyển tiền bằng thư là rất hạn chế.
Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T): là hình thức chuyển tiền, trong
đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức
điện gửi cho ngân hàng trả tiền bằng mạng SWIFT. Chuyển tiền bằng điện là hiện
đại và phổ biến nhất hiện nay, chuyển tiền bằng điện phải chịu chi phí cao hơn
chuyển tiền bằng thư.
Căn cứ vào mục đích chuyển tiền, gồm:
Chuyển tiền mậu dịch: là chuyển tiền có tính chất thương mại, liên quan đến xuất
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Chuyển tiền phi mậu dịch: là chuyển tiền không có tính chất thương mại, như
chuyển tiền kiều hối, cho tặng, trợ cấp, du học, du lịch…
Chuyển tiền cho mục đich đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp.
Các loại chuyển tiền khác, như chuyển tiền mua bán ngoại tệ, chuyển lãi đầu tư, vay
nợ, trả nợ…
Căn cứ vào thời điểm chuyển tiền:
Chuyển tiền trước khi giao hàng (Payment in advance): Chuyển tiền trước khi giao
hàng, hay còn gọi là ứng trước tiền hàng, là việc người nhập khẩu yêu cầu ngân
hàng phục vụ mình chuyển một phần hay toàn bộ giá trị lô hàng cho người xuất
khẩu trước khi hàng hóa được giao.
Chuyển tiền sau khi giao hàng (Payment after shipment): Chuyển tiền sau khi gia
hàng, là việc người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển trả tiền lô
hàng cho người xuất khẩu sau khi hàng hóa được giao.
Trong một giao dịch chuyển tiền, có thể kết hợp cả hai hình thức chuyển tiền

Bankdraft cho người ra lệnh.
Bước 4: Người ra lệnh nhận Bankdraft và gửi cho người thụ hưởng.
Bước 5: Người thụ hưởng sẽ xuất trình Bankdraft đến NH của người thụ
hưởng để nhờ thu hộ.
Bước 6: NH của người thụ hưởng sẽ gửi Bankdraft đến NH thanh toán (đại lý
của NHPH Bankdraft) để yêu cầu thanh toán.
Bước 7: NH thanh toán sẽ ghi nợ TK của NHPH Bankdraft để chuyển tiền
cho NH của người thụ hưởng và báo có cho người thụ hưởng.
Ưu điểm của phương thức này là chi phí thấp, thủ tục đơn giản, …
Nhược điểm là thời gian thanh toán lâu, bankdraft dễ bị thất lạc trong quá trình
vận chuyển.
Bankdraf thường được áp dụng trong các trường hợp: thanh toán lệ phí tham
gia tuyển sinh, học phí, …cho các trường đại học; thanh toán hội phí, phí bảo hiểm,
phí khám chữa bệnh, …; thanh toán cho các giao dịch có giá trị nhỏ.
Phương thức ghi sổ (Open account)
Theo GS. TS. Nguyễn Văn Tiến – Trọng tài viên trung tâm trọng tài quốc tế
Việt Nam thì “Phương thức ghi sổ là phương thức thanh toán, trong đó nhà xuất
khẩu sau khi hoàn thành giao hàng thì ghi Nợ tài khoản cho bên nhập khẩu vào một
cuốn sổ theo dõi và việc thanh toán các khoản nợ này được thực hiện thông thường
theo định kỳ như đã thỏa thuận”.
Đặc điểm của phương thức này thể hiện đây là phương thức thanh toán không
có sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản. Nếu người


18

1.2.3.4.

-


không thông quan ngân hàng.
Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán theo đó chứng từ gửi đi
gồm: Chứng từ thương mại cùng chứng từ tài chính, hoặc chứng từ thương mại
(không bao gồm chứng từ tài chính).


19

1.2.3.5.

Chứng từ tài chính bao gồm hối phiếu, kỳ phiếu, séc hoặc các phương tiện
thanh toán tương tự khác được sử dụng trong việc chi trả, thanh toán tiền.
Chứng từ thương mại bao gồm hóa đơn, chứng từ vận tải hoặc các chứng từ có
tiêu đề hoặc bất kỳ chứng từ nào khác không phải chứng từ tài chính.
Trình tự thực hiện nghiệp vụ nhờ thu:
Bước 1: Nhà NK và nhà XK ký kết hợp đồng ngoại thương, trong đó điều
khoản thanh toán là phương thức nhờ thu kèm chứng từ.
Bước 2: Nhà XK giao hàng cho nhà NK.
Bước 3: Nhà XK gửi chứng từ đến ngân hàng nhờ thu để nhờ thu hộ tiền nhà
NK.
Bước 4: Ngân hàng nhờ thu lập lệnh và gửi bộ chứng từ đến ngân hàng thu hộ.
Bước 5: Ngân hàng thu hộ thông báo lệnh nhờ thu và xuất trình bộ chứng từ
cho nhà NK.
Bước 6: Nhà NK chấp nhận lệnh nhờ thu đồng thời ngân hàng trao bộ chứng
từ cho nhà NK.
Ưu điểm của phương thức này đó là nhà NK được kiểm tra bộ chứng từ trước
khi đi thanh toán. Đối với nhà XK thì chắc chắn rằng bộ chứng từ được giao cho
nhà NK ngay sau đi thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
Nhược điểm của phương thức này đó là đối với nhà XK, nhà NK có thể từ
chối thanh toán trong khi hàng đã được giao. Còn đối với nhà NK thì ngân hàng sẽ

Phương thức COD thường được áp dụng trong các trường hợp sau: giao dịch
mua bán qua biên giới, trị giá thanh toán nhỏ, thị trường có thói quen sử dụng tiền
mặt.
CAD (Cash against document)
CAD (Cash against documents) – giao chứng từ trả tiền là phương thức thanh
toán theo đó nhà NK sẽ mở một tài khoản tín thác (trust account) tại một ngân hàng
ở quốc gia của nhà XK và nộp trước tiền mua hàng vào tài khoản này, đồng thời nhà
NK ký với ngân hàng này một bản ghi nhớ (memo) thỏa thuận nội dung cho phép
ngân hàng sử dụng tài khoản tín thác thanh toán cho nhà XK khi nhà XK xuất trình
bộ chứng từ giao hàng tại quầy giao dịch của ngân hàng có nội dung phù hợp với
nội dung quy định trong bản ghi nhớ.
Vai trò của ngân hàng trong phương thức này là: mở tài khoản tín thác cho nhà
NK; thông báo số dư tín thác cho nhà XK; kiểm tra nội dung BCT xuất trình phù
hợp với bản ghi nhớ; chuyển tiền hoặc báo có cho nhà XK.
Trình tự thực hiện nghiệp vụ:
Bước 1: Nhà NK và XK ký kết hợp đồng ngoại thương thỏa thuận phương
thức thanh toán CAD.
Bước 2: Nhà NK đề nghị NH ở nước nhà XK mở tài khoản tín thác, nộp tiền
vào TK và ký biên bản ghi nhớ.
Bước 3: NH sẽ thông báo cho nhà XK về việc tài khoản tín thác đã được mở
và số dư của tài khoản được phong tỏa cho mục đích mua hàng
Bước 4: Nhà KH giao hàng sang nước nhà NK
Bước 5: Nhà XK xuất trình BCT giao hàng đến NH để nhận tiền, NH kiểm tra
BCT với bản ghi nhớ (memo), nếu phù hợp sẽ thanh toán cho nhà XK.
Bước 6: NH sẽ giao BCT cho nhà NK.
Theo trình tự trên, một NH đóng vai trò phục vụ nhà NK và XK, chính vì vậy
trên thực tế để mua hàng theo phương thức này, nhà NK phải mở văn phòng đại


21

Ngân hàng thông báo: NH thông báo thư tín dụng cho người thụ hưởng (nhà
xuất khẩu).


22

Ngân hàng được chỉ định: NH mà tại đó thư tín dụng có giá trị (available
with…) hoặc bất kỳ NH nào nếu thư tín dụng có giá trị (available with any bank).
Ngân hàng xác nhận: NH bổ sung sự xác nhận của mình đối với một thư tín
dụng theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của NHPH.
Trình tự thực hiện nghiệp vụ:
Bước 1: Sau khi kí hợp đồng ngoại thương, nhà NK đến ngân hàng phục vụ
mình (NH phát hành L/C) yêu cầu phát hành L/C.
Bước 2: Căn cứ vào các chứng từ xin mở L/C của nhà NK, NH phục vụ nhà
NK yêu cầu nhà NK thực hiện ký quỹ (các biện pháp đảm bảo) để phát hành L/C.
Bước 3: Sau khi nhận được điện thông báo phát hành L/C từ NH của bên nhà
nhập khẩu thông qua ngân hàng của nhà xuất khẩu (NH thông báo). Nhà xuất khẩu
tiến hành hoàn tiện bộ chứng từ theo chỉ thị trong L/C và giao hàng cho nhà NK.
Bước 4: Nhà XK tiến hành giao hàng và xuất trình BCT đến NH thông báo,
NH thông báo kiểm tra bộ chứng từ và gửi bộ chứng từ đến NH phát hành qua
đường hàng không (CPN).
Bước 5: NH phát hành nhận được bộ chứng từ sẽ kiểm tra, nếu thấy trên bề
mặt chứng từ không có gì mâu thuẫn với L/C thì sẽ thông báo cho nhà NK tiến hành
thanh toán (hoặc chấp nhận thanh toán) cho nhà xuất khẩu.
Bước 6: Sau khi đi thanh toán đối với L/C trả ngay hoặc chấp nhận thanh toán
đối với L/C trả chậm, NH chuyển giao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu và ký hậu
Bill để nhà NK đi lấy hàng.
Ưu điểm của phương thức này đối với nhà xuất khẩu đó là: được hỗ trợ kiểm
tra tính hợp lệ bộ chứng từ trước khi gửi đi đòi tiền, được ngân hàng phục vụ mình
xem xét tài trợ, chiết khấu bộ chứng từ, kiểm soát được thời gian thanh toán sau khi

một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương
lai cho người thụ hưởng”.
Do đó, hối phiếu là phương tiện thanh toán giúp người bán đòi tiền người
mua. Bên cạnh đó hối phiếu là chứng từ có giá do đó có thể mua bán, cầm cố, thế
chấp, … Ngoài ra hối phiếu có chức năng như là một phương tiện cung cấp tín dụng
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại.
1.2.4.3.
Hối phiếu nhận nợ (Kỳ phiếu)
Hối phiếu nhận nợ là một cam kết trả tiền vô điều kiện do một người phát
hành hứa trả một số tiền nhất định cho một người khác, hoặc trả theo lệnh của người
này hoặc trả theo người cầm phiếu.
Về quy tắc lưu thông, thì hối phiếu đòi nợ và nối phiếu nhận nợ là giống nhau.
Ta có thể coi hối phiếu nhận nợ như là một hối phiếu đòi nợ đã được chấp nhận bởi
người trả tiền. Các điều mà luật dùng để điều chỉnh hối phiếu đòi nợ cũng được áp
dụng tương tự cho một hối phiếu nhận nợ.
1.2.4.4.
Thẻ ngân hàng
Thẻ ngân hàng là một sản phẩm phổ biến nhất do các tổ chức tín dụng cấp cho
khách hàng của mình. Các sản phẩm thẻ phổ biến hiện nay là thẻ ATM/ thẻ ghi nợ
nội địa, thẻ trả trước quốc tế và thẻ tín dụng quốc tế. Trong đó thẻ trả trước (debit)
và thẻ tín dụng (credit) quốc tế được sử dụng như là một dung cụ để thanh toán khi
mua sắm qua các trang web quốc tế, các trang web này cho phép thanh toán qua thẻ,


24

hay đi du lịch nước ngoài mà không cần mang theo tiền mặt… Hiện nay có một số
tổ chức phát hành thẻ quôc tế bao gồm Visa Card, Master Card, JCB, …
1.3.
Nội dung phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM

gia tăng lợi nhuận ngân hàng cần phải cố gắng duy trì sự tăng trưởng này một cách


25

đều đặn trong một thời gian dài. Tức là cần đảm bảo tính ổn định trong hoạt động vì
đây là điều kiện cần để ngân hàng phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn luôn phải đối mặt với
nhiều rủi ro đặc thù như: rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro tín
dụng, rủi ro kỳ hạn bên cạnh các rủi ro chung (rủi ro quốc gia và rủi ro chính trị).
Khi rủi ro xảy ra sẽ phát sinh chi phí làm giảm doanh thu và lợi nhuận. Hơn thế nữa
giữa rủi ro và khả năng sinh lời kỳ vọng có mối quan hệ thuận chiều. Có những hoạt
động kinh doanh khi rủi ro chưa hoặc không xảy ra có thể mang lại cho ngân hàng
một mức lợi nhuận rất cao. Nhưng khi rủi ro xảy ra có thể làm ngân hàng phá sản
chỉ trong giây lát. Do đó, nếu một ngân hàng chỉ lựa chọn mục tiêu lợi nhuận để
phát triển thì sự phát triển đó là không ổn định và không bền vững. Tính bền vững
của ngân hàng nhất thiết phải được đánh giá trên cơ sở khả năng chịu đựng, chống
đỡ, xử lý để tồn tại an toàn và phát triển đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng trước
những tác động tiêu cực của môi trường kinh doanh.
Mặt khác, khách hàng chính là nơi cung cấp vốn để ngân hàng thực hiện các
hoạt động kinh doanh. Khách hàng cũng là người sử dụng các sản phẩm, dịch vụ
của ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng sẽ phát sinh chi phí trong quá trình tìm kiếm
khách hàng. Lợi ích của ngân hàng và khách hàng hầu hết là đối lập nhau. Nhưng
về lâu dài, duy trì được lượng khách hàng lớn là điều kiện để tăng doanh thu ngân
hàng. Ngân hàng nào càng có nhiều khách hàng, các khách hàng khác nhau tiếp cận
được với dịch vụ ngân hàng ở mức độ khác nhau thì khả năng tồn tại và phát triển
càng cao. Để thu hút được khách hàng, ban quản trị ngân hàng cần biết dung hòa
giữa lợi ích của ngân hàng và lợi ích của khách hàng, đảm bảo cả ngân hàng và
khách hàng đều phát triển.
Theo đó, sự phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM được đánh giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status