Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Quyển 1): Phần 2 - Pdf 59

Chương n i

ĐẠI DIỆN - THỜI HẠN - THỜI HIỆU
I. ĐẠI DIỆN TRONG PHÁP LUẬT DÂN s ự
l ẻ Khái niệm chung về đại diện
a. K hái niệm đại điện trong pháp luật dán sự
Trong giao lưu dân sự, thông thường các chủ thể tự mình xác lập, thực hiện
giao dịch dân sự từ khi cam kết, thoả thuận đến khi thực hiện những quyền, nghĩa
vụ phát sinh từ giao dịch dân sự. Nhưng do tính chất phong phú và đa dạng của
giao lưu dân sự, trong những trường hợp nhất định chủ thể xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự phải thông qua hành vi của một người khác: Người đại diện. Khoản 1
Điều 139 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Đại diện là việc một người (sau đây
gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người
được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”.
Về bản chất pháp lý, quan hệ đại diện trong pháp luật dân sự có đặc điểm là:
Quan hộ giữa người đại diện và người được đại diện mà khoa học Luật dân sự gọi
là quan hệ bên trong; còn quan hệ giữa người đại diện và người thứ ba khoa học
Luật dân sự gọi là quan hệ bên ngoài. Chế độ đại diện là một quan hệ pháp luật
dân sự. Trong quan hê đại diện chủ thể là người đại diện và người được đại diện.
Người đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự (có thể theo quy định của pháp
luật hoặc theo sự uỷ quyến của người được đại diện) là người nhân danh người
đuợc đại diện trong việc xác lập, thực hiện những quan hệ dân sự với người thứ ba.
* Đối với người đại diện
Mọi hành vi của người đại diện được thực hiện theo quy định của pháp luật
hoặc theo sự uỷ quyẻn (của người đại diện theo pháp luật) đều nhằm đáp ứng mục
đích và vì lợi ích của người được đại diện. Nếu là người đại diện theo pháp luật thì
người này chỉ được thực hiện những nội dung mà pháp luật có quy định hoặc cho
phép. Trong trường hợp là người đại diện theo uỷ quyền thì người đại diện chỉ
được thực hiện theo những nội dung, phạm vi, thòi hạn uỷ quyền đại diện của
người được đại diện.
Người đại diện trong các giao dịch dân sự còn có thể là người có thẩm quyền

với người đã giao dịch vói mình, trừ truờng hợp người đã giao dịch biết hoặc phải
biết về việc không có quyền đại diện”.
Vi dụ\ Trong việc mua bán nhà thuộc quyền sờ hữu chung thì các đổng chủ
sở hữu chung phải đổng ý bằng vãn bản (có thể là các đổng chủ sở hữu chung
cùng ký vào hợp đổng mua bán nhà hoặc có thể làm giấy uỷ quyền hợp lộ riêng)
thì người đại diện mới có thẩm quyền dại diện ký kết hợp đồng. Người mua nhà
nếu không biết thì pháp luật dân sự cũng không thể bảo vệ khi quyền lợi bị xâm
phạm, trừ trường hợp những người được đại diện biết và chấp thuận; nếu không,
phần hợp đồng liên quan đến lợi ích của người được đại diện sẽ bị vô hiệu.
Vì vậy, pháp luật dân sự còn quy định, người đã giao dịch vối người không
có thẩm quyền dại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc huỷ bỏ
giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nếu người đó đã biết
hoặc phải biết về việc không có thẩm quyển đại diộn mà vẫn tiến hành xác lập
giao dịch thì không được quyển đơn phương đình chỉ thục hiện hoặc huỷ bỏ giao
dịch.
Người được đại diện theo quy định của pháp luật dân sự có thể là: Cá nhân
không có nãng lục hành vi dân sự, không có đẩy đủ năng lực hành vi dân sạ, bị
mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đối với những người này pháp luật
dân sự quy định bắt buộc phải có người đại diện trong quan hệ dân sự mới có giá
trị pháp lý. Nếu không có người dại diện hợp pháp xác lập, thực hiện giao dich dân
166

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN




sự thì giao dịch đó có thể đương nhiên vô hiệu hoặc sẽ bị coi là vô hiệu. Cá nhân
có đẩy đủ năng lực hành vi dân sự cũng có thể uỷ quyền cho người khác là đại
diện theo uỷ quyển của mình để xác lập, thực hiộn các giao dịch dân sự theo

hoặc theo quyết dịnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đại diện dược quy
định theo pháp luật chung cũng là đại diện đương nhiên, người đại diện và thẩm
167

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN




quyền đại diện được quy định ổn định khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sụ.
Điểu 39 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định việc đại diộn cho con:
“Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành
niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ
hoặc có người khác đại diện theo pháp luật”.
Điểu 141 Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy định những nguời đại diện theo
pháp luật là: Cha, mẹ đại diộn cho con chưa thành niên; người giám hộ đối với
người được giám hộ; người được Toà án chỉ định đối vói người đã bị Toà án tuyên
bố hạn chế năng lực hành vi; người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lộ
pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (đại diộn theo
quyết định của cơ quan hành chính có thẩm quyền trong những quyết định riêng
biệt như: Tiếp nhận hàng hóa, thanh tra, nghiệm thu công trình...); chủ hộ gia
đình; tổ trưởng tổ hợp tác và những người khác theo quy định của pháp luật là
những người đại diện theo pháp luật. Tuỳ thuộc vào hình thức đại diện cụ thể mà
người đại diện theo pháp luật có những thẩm quyển nhất định và không giống
nhau.
Theo nguyên tắc của pháp luật dân sự, những người đại diện theo pháp luật
còn dược gọi là nguời đại diện đương nhiên. Khi xác lập, thực hiện các giao dịch
dân sự, người đại diện theo pháp luật chỉ cẩn: xuất trình giấy tờ tuỳ thân để chứng
minh người đó là người đứng đầu pháp nhân, là chủ hộ gia đình hoặc là tổ trưởng
tổ hợp tác... Trong các trường hợp đại diện khác, người đại diện theo pháp luật chi

169

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN




3. Phạm vỉ thẩm quyền và hậu quả pháp lý của đại diện
a. Phạm vi thẩm quyền đại diện
Đại diộn là một quan hộ pháp luật dân sự trong đó chủ thể là người đại diộn
và người được đại diện. Theo quy định của pháp luật dân sự thì người đại diện có
quyền thực hiện hành vi nhân danh người được đại diện. Với tính chất là một chủ
thể đại diện (gián tiếp) nên người đại diện không thể có toàn quyền năng như
người được đại diện hoặc người uỷ quyền trực tiếp xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự. Người đại diện, dù là hình thức đại diện nào cũng phải chịu những giới hạn
nhất định trong quá trình thực hiện hành vi đại diện.
Để tránh sự lạm quyền và lợi dụng trong dại diện, Điều 144 Bộ luật dân sự
năm 2005 đã quy định cụ thể phạm vi thẩm quyền dại diện. Việc xác định cụ thể
phạm vi thẩm quyền đại diện có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn. Vì rằng,
giao dịch dân sự do người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập, thực
hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự
nhất định. Nhưng, những quyền, nghĩa vụ dân sự này lại thuộc về người được đại
diện và người được đại diện phải chịu trách nhiệm truớc pháp luật về những hậu
quả pháp lý do người đại diện thực hiện.
Phạm vi thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật dân sự chính là sự
giới hạn quyển, nghĩa vụ của người đại diện. Khi thực hiện quyền đại diện, người
đại diện nhân danh nguời được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với
người thứ ba trong phạm vi thẩm quyền đại diện.
- Đối với người dại diện theo pháp luật: Người đại diện theo pháp luật có
thẩm quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại

đại diện thì người thứ ba không có quyền yêu cầu người được đại diện phải thực
hiện nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại
diện đã xác lập.
Ngoài ra, người đại diện còn không được thục hiện các giao dịch dân sự với
chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là dại diện của người đó. Quy
định này nhằm ngăn ngừa và loại trừ những giao dịch dân sự được xác lập, thực
hiện có thể đem lại hậu quả bất lợi cho người được dại diện; ngăn ngừa sự lạm
quyền hoặc lợi dụng việc đại diện để trục lợi bất chính đối với người được đại
diện.

b. Hậu quả pháp lý của việc đại diện
- Nếu người đại diện đã thực hiện đúng và đầy đủ phạm vi thẩm quyền đại
diện, nội dung và thòi hạn đại diện thì người được đại diện được hưởng mọi lợi ích
do người đại diộn đem lại và phải trả thù lao nếu có thoả thuận. Người được đại
diện còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả đại diện như: Hậu quả
do người đại diện thực hiện trái pháp luật, người đại diện đã thực hiện đúng thẩm
quyền đại diện nhưng gây thiệt hại cho người khác...
- Trong trường hợp do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực
hiện thì về nguyên tắc không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối vói người được đại
diện. Người không có thẩm quyền đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người
đã xác lập giao dịch vói mình, phải tự chịu trách nhiệm về giao dịch đã xác lập với
tư cách cá nhân. Nếu người thứ ba biết hoặc phải biết rằng người xác lập giao dịch
dân sự với mình là người không có thẩm quyền đại diện nhưng vẫn xác lập giao
dịch dân sự thì không có quyền yêu cầu người dược dại diện tiếp nhận các hậu quả
và thực hiện các nghĩa vụ dân sự do người khổng có thẩm quyền đại diện xác lập.
Tuy nhiên, hâu quả do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực hiện vẫn
có thể được chấp thuận, tiếp nhận nếu người được đại diện đồng ý.
- Nếu giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm
vi thẩm quyền đại diện thì cũng không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với
người được đại diện, trừ khi người được đại diện đổng ý, chấp thuận hậu quà đó.

tám tuổi tròn và không bị mắc các bệnh làm hạn chế khả nàng nhận thức; khổng
thể tự làm chủ và điều khién đuợc hành vi của mình. Nếu là người bị mất năng lực
hành vi dân sự hoặc bị tuyên bố hạn chế nâng lực hành vi dân sự theo quyết định
của Toà án nhưng hiện tại năng lực hành vi của cá nhân đó đã được khôi phục, Toà
án đã huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng
lực hành vi dân sự. Trong trường hợp này, người được đại diện đã có đẩy đủ năng
lực hành vi dân sự, có tu cách chủ thể để tự mình có thể xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự; thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự và tự chịu trách nhiệm trước pháp
luật. Vì vậy, quan hệ đại diện không cần thiết nữa và đương nhiên chấm dứt.
- Người dại diện hoặc người dược đại diện chết: Trong một quan hệ dân sự
nói chung, thông thường có hai chủ thể. Đối với quan hệ đại diện - là một quan hệ
pháp luật dân sự-cũng có hai chủ thể tương tự như vậy. Do đó, khi người đại diện
hoặc người được đại diện chết sẽ là sự kiện pháp lý đương nhiên làm chấm dứt
quan hệ đại diện. Ngoài ra, khi người đại diện hoặc người được đại diện theo pháp
luật bị Tòa án tuyên bô' mất tích hoặc tuyên bố là đã chết cũng sẽ là sự kiện pháp
lý đương nhiên làm chấm dứt quan hệ đại diện theo pháp luât của cá nhan N^u
172

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN




người còn lại trong quan hệ đại diện muốn tiếp tục xác lập quan hệ đại diện với
người khác thì phải làm các thủ tục xác lập quan hệ đại diện như việc xác lập quan
hệ dại diện đẩu tiên.
Ngoài ra, trong các trường hợp người đại diện mất năng lực hành vi dân sự
hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự: Theo nguyên lý chung của pháp luật dân
sự khi một người mất nàng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự muốn xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nhất thiết phải có người giám hộ.

173

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN




Người uỷ quyền (người được đại diện) huỳ bỏ việc uỷ quyền khi thấy việc
uỷ quyền không còn cần thiết hoặc không đem lại lợi ích cho người uỷ quyển. Khi
huỷ bỏ việc uỷ quyền, người uỷ quyền phải thông báo bằng hình thức văn bản nhu
hình thức uỷ quyền ban đầu để người được uỷ quyến biết. Nếu việc uỷ quyền đã
được thông báo cho người thứ ba thì ngưòri uỷ quyền cũng phải thông báo cho
nguời thứ ba biết về việc huỷ bỏ viộc đại diện theo uỳ quyền.
Ngược lại, người được dại diện theo uỷ quyền cũng có thể từ chối việc nhận
uỳ quyền nếu không có đủ điều kiên tiếp tục thực hiện uỷ quyển hoặc không đem
lại lợi ích khi tiếp tục thực hiộn công việc đã nhân uỷ quyền. Khi từ chối việc đại
diện theo uỷ quyền, người được uỷ quyền cũng phải thông báo bằng hình thức văn
bản như hình thức nhận uỷ quyền ban đầu để người uỳ quyền biết việc từ chối làm
đại diện theo uỷ quyén.
Như vậy, quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân cũng có thể chấm dứt
theo ý chí của các chủ thể nếu trong quá trình thực hiện việc uỷ quyền đã phát sinh
những sự kiện mà một trong hai bên không muốn hoặc không thể tiếp tục thực
hiện việc dược uỷ quyền.

Trong quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân cũng có hai chủ thể. Do
dó, khi người uỷ quyền hoặc người được đại diện theo uỷ quyền chết, mất năng lực
hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án tuyên bố mất tích
hoặc tuyên bô' là đã chết cũng sẽ là sự kiện pháp lý đương nhiên làm chấm dứt
quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân. Mỗi một sự kiện pháp lý trong số các
sự kiện trên đây đều làm cho việc đại diện theo uỷ quyền của cá nhân trở nên

tại như: BỊ giải thể theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị tuyên
bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản, sáp nhập, hợp nhất pháp nhân...
thì pháp nhân cũng chấm dứt sự tổn tại của mình. Khi pháp nhân chấm dứt sự tồn
tại thì đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng đương nhiên chấm dứt. Các
quyền và nghĩa vụ về tài sản được giải quyết theo nguyên tấc chung về tài chính
của Nhà nước.
- Khi pháp nhân có sự thay đổi người đứng đầu pháp nhân thì đại diện theo
pháp luật của pháp nhân cũng có sự thay đổi. Người đuợc bổ nhiệm làm người kế
nhiệm sẽ là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Người đại diện mới theo
pháp luật của pháp nhân phải kế tục các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo
pháp luật trước đó đã xác lập, thực hiện. Chấm dứt đại diện theo pháp luật của
pháp nhân trong trường hợp này chỉ có ý nghĩa tương đối.
*

Chấm dứt đại diện theo ủy quyền

Cũng như quan hệ đại diện theo uỷ quyền của cá nhân, đại diện theo uỷ
quyền của pháp nhân cũng là một phạm trù lịch sử và chấm dứt khi có những sự
kiện pháp lý nhất định. Khi pháp nhân chấm dứt sự tồn tại của mình thì đổng thời
cũng làm chấm dứt tư cách chủ thể của pháp nhân đó. Vì vậy, quan hệ đại diện
theo uỷ quyền cũng đương nhiên chấm dứt. Đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân
:òn chấm dứt khi có các sự kiện pháp lý sau đây:
- Như đã phân tích ở phần trên, quan hệ uỷ quyền của pháp nhân cũng là
một hình thức cụ thể của quan hệ đại diện trong pháp luật dân sự, nên nó là một
phạm trù lịch sử và chỉ tổn tại trong một thời hạn nhất định. Vì vậy, khi hết thời
hạn uỷ quyền thì quan hệ đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân cũng đương nhiên
chấm dứt.
Quan hệ đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân cũng đương nhiên chấm dứt,
khi người đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân đã hoàn thành công việc được uý
quyền theo đại diện.

dứt hoặc người được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bô' mất năng lục hành vi dân
sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết. Khi chấm dứt dại
diện theo uỷ quyền, người đại diộn phải thanh toán xong các nghĩa vụ tài sản vdi
pháp nhân uỳ quyển hoặc pháp nhân kế thừa".
Như vậy, tính chất, đặc điểm của đại diện theo uỷ quyển của pháp nhân cũng
tương tự như cá nhân. Người đại diộn theo uỷ quyền của pháp nhân xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của pháp nhân. Nhung khi hết thời hạn uỷ quyền,
công việc uỷ quyền được hoàn thành, pháp nhân huỷ bỏ việc uỷ quyền, pháp nhân
chấm dứt thì những hậu quả pháp lý phát sinh từ việc uỷ quyền đối với pháp nhân
ngoài việc áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự còn có thể được giải quyết
theo quy định chung của pháp luật về doanh nghiệp và các văn bản pháp luật có
liên quan.

II. THỜI HẠN TRONG PHÁP LUẬT DÂN s ự
1. Khái niệm chung về thời hạn

a. Khái niệm thời hạn trong pháp luật dãn sự
Theo quan niệm của triết học, thời gian là một phạm trù không có sự bắt đẩu
và cũng không có sự kết thúc. Thời gian là một yếu tố tự nhiên của vũ trụ tồn tại
trong khống gian và nối tiếp nhau vó tận. Nhưng, để xác định một thời gian cụ thể176

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN




là một khoảng thời hạn có ý nghĩa nhất định trong pháp luật dân sự-thì khoảng
thời gian với tính chất là một thời hạn lại có sự bắt đầu, kết thúc và đuợc xác định
cụ thể. Tuy nhiên, sự bắt đầu và kết thúc của một khoảng thời gian với ý nghĩa là
một thời hạn, xét theo phương diện rộng nó cũng chi có tính chất tương đối.

chí xác định: xác định theo thoả thuận của các chủ thể tham gia giao dịch hoặc
xác định theo quy định của pháp luật; thời hạn có thể được xác định cụ thể hoặc
không được xác định cụ thể.
Thời hạn thoả thuận: Là thời hạn đuợc các chủ thể tham gia giao dịch dân
sự có thể thỏa thuận và được thay đổi theo ý chí của mình. Trên cơ sỏ quy định
của pháp luật dân sự, các chủ thể tham gia giao dịch dân sự có thể thoả thuận cụ
thể về thòi hạn thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự trong các giao dịch dân sự cụ thổ.
Trong nhiều trường hợp pháp luật chỉ xác dinh thời hạn tối đa hoặc xác định thời
hạn tối thiểu để chủ thể biết được giới hạn đó.
Ví dụ: Điều 492 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Nếu thời hạn thuê nhà từ
6 tháng trở lên thì phải có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực
cùa Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác; Điều 427 Bộ luật dân sự quy định: “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà ấn
giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhàn, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm ”. Trong quy định
này, thời hiệu có ý nghĩa tương tự như thời hạn và các chủ thể không thể thoả
thuận thời hiệu khởi kiện.
178

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN




- Thời hạn do pháp luật quy định: Là thời hạn pháp luật quy định và có tính
chất bắt buộc đối với các chủ thể tham gia giao dịch dân sự. v ề nguyên tắc, chủ
thể tham gia giao dịch dân sự không được phép thoả thuận thay đổi thời hạn đã
được pháp luật quy định.
V í dụ: Khoản 1 Điều 136 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định cụ thể về thời
hạn mà chủ thể tham gia giao dịch dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao

thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn; thuật ngữ “thông báo kịp thời” theo quy
định tại Điều 507 Bộ luật dân sự nãm 2005 về khai thác tài sản thuê khoán hoặc
179

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN




“bồi thuờng kịp thời” theo Điểu 605 Bộ luật dân sự năm 2005 quy dinh nguyên tắc
bổi thường thiệt hại.
Thời hạn không xác định cũng được áp dụng để xác định quyền, nghĩa vụ
của các bên ữong những truờng hợp cần thiết, khi các bên không thoả thuận rõ
thời hạn trong các hợp đổng: Mua bán, vay, thuê, mượn... hoặc pháp luật dân sự
cũng không quy định thời hạn cụ thể đối với quan hệ dân sự đó.
V í dụ: Khoản 2 Điều 285 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường
hợp các bên không thoả thuận và pháp luật không quy định vể thời hạn thực hiện
nghĩa vụ dân sự thì các bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa
vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho nhau biết trước trong một thời
gian hợp lý”.
3. Cách tính thời hạn
Thời hạn là một khoảng thòi gian nối tiếp nhau trong một không gian nên
được tính như đơn vị thời gian theo thông lệ quốc tế là: Phút, giờ, ngày, tuẩn,
tháng, nửa tháng, năm, nửa năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra được các bên
thoả thuận hoặc Bộ luật dân sự có quy định, v ề nguyên tắc nếu các bén không có
thoả thuận khác, pháp luật cũng không có quy định khác vé cách tính thời hạn thì
thời hạn đuợc tính theo dương lịch và theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005.

a. Thời điểm tính thời hạn
Mặc dù trong Bộ luật dân sự hiện hành không quy định các đơn vị nhỏ như:

- Đ ẩ u năm là ngày đầu tiên của tháng 1. V í dụ: Ngày mồng 1 tháng 1 của
năm dương lịch đó;
- Giữa năm là ngày cuối cùng của tháng 6. Ngày cuối cùng của tháng 6 có
thể là ngày 30 hoặc ngày 31. Nếu ngày cuối cùng của tháng 6 là ngày 30 thì thời
điểm được tính thời hạn là ngày 30 tháng 6 năm đó.
-C u ố i năm là ngày cuối cùng của tháng 12. Tuỳ từng năm mà ngày cuối
cùng của tháng có thể là ngày 30 hoặc là ngày 31 của năm đó. Nếu năm có 366
ngày thì ngày cuối cùng của năm là ngày thứ 366.

b. Thời điểm bắt đầu tính thòi hạn
Theo Điểu 152 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời điểm tính thời hạn được xác
định như sau:
Nếu thời hạn được xác định bằng giờ thì thòi hạn được bắt đầu từ thòi điểm
là giờ đã được các bên xác định cụ thể.
Ví dụ: Nếu thòi hạn được xác định bằng giờ là 8 giờ sáng thì thòi hạn được
bắt đẩu từ thời điểm đã xác định cụ thể là 8 giờ sáng ngày cụ thể đó.
Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên
của thời hạn sẽ không được tính vào thời hạn, thời hạn được bắt đầu tính từ ngày
tiếp theo của ngày, tuẩn, tháng, năm đó.
Ví dụ: Nếu thời hạn được xác định bằng ngày, tuẩn, tháng, nãm thì thời hạn
được bắt đẩu sẽ không tính ngày đẩu tiên. Nếu giao dịch dân sự xác lập tính theo
tuần và ngày mà hai bên thoả thuận là ngày thứ hai thì thòi hạn bắt đầu được tính
từ ngày thứ ba của tuần đó.
Tương tự như vậy, khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện xảy ra thì ngày xảy
ra sự kiện cũng không dược tính vào thòi hạn, thời hạn bắt đầu tính từ ngày tiếp
theo ngày xảy ra sự kiện đó.
Ví dụ: Nếu thời hạn được xác định bằng một sự kiện như sự kiện bảo hiểm
quy định tại Điều 571 Bộ luật dân sự nãm 2005 thì ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm
181


của tháng là ngày 28 hoặc ngày 31 thì ngày 28 hoặc ngày 31 là ngày cuối cùng
của tháng.
- Nếu thời hạn được tính bằng năm thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết
thúc ngày, tháng tương ứng của năm cuối cùng của thời hạn. Khi thời hạn được
xác định là năm thì ngày cuối cùng của tháng cuối cùng năm đó, thời hạn được kết
thúc vào ngày cuối cùng của tháng 12 năm đó. Ngày cuối cùng có thể là ngày 30
hoặc ngày 31 tháng 12 năm dương lịch.
Khoản 5 Điều 153 Bộ luật dân sự năm 2005 còn quy định việc kết thúc thời
hạn khi có những sự kiện nhất định theo tập quán và theo thông lệ quốc tế. Cụ thể
là: Nếu ngày cuối cùng khi kết thúc thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày
nghỉ lễ, nghỉ tết thì thời hạn kết thúc tại thòi điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo
ngày nghỉ đó.
182

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN




Ví dụ: Khi thời hạn kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm 2007 nhưng pháp
luật quy định ngày 1 tháng 1 năm 2008 đuợc nghỉ tết dương lịch một ngày thì thời
hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc trong ngày 2 tháng 1 năm 2008;
hoặc ngày kết thúc là ngày thứ 6 thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày
làm việc của ngày thứ 2 trong tuần tiếp theo.
Việc kết thúc thời hạn còn có thể được xác định theo thông lệ và tập quán
khác.
Ví dụ: Khi các tài liệu, công văn, báo cáo, bài dự thi (trong giao dịch dân sự
hứa thưởng và thi có giải) được gửi theo đường bưu điộn thì thời hạn kết thúc được
xác định theo dấu bưu cục của ngày gửi tại nơi gửi mà không xác định việc kết
thúc thời hạn theo ngày nhận tại nơi nhận.

Nhằm mục đích bảo đảm sự ổn định của các quan hệ dân sự trong đời sống
xã hội-là một trong những mục tiêu của pháp luật dân sự - nên Bộ luật dân sự năm
2005 quy định chế định thời hiệu. Điẻu 154 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
“Thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định m à khi kết thúc thời hạn đó thì chủ
thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc mất
quyển khởi kiện vụ án dân sự, quyền yẽu cầu giải quyết việc dân sự”.
Thời hiộu là chế định truyền thống của pháp luật dân sự. Nội dung của thời
hiộu và các loại thời hiệu đều do pháp luật dân sự quy định, các chủ thể không có
quyẻn thoả thuận về thời hiộu. Thời hiệu trong pháp luật dân sự có đặc điểm là:
- Là một khoảng thòi hạn do pháp luật dân sự quy định trước đối với các
loại giao dịch dân sự cụ thể.
- Khi thời hiệu kết thúc sẽ phát sinh những quyền dân sự nhất định hoặc bị
mất quyển khởi kiện, mất quyển yêu cầu thực hiện nghĩa vụ khi người có nghĩa vụ
đã được miễn trừ thực hiện nghĩa vụ theo thời hiệu.
Theo nguyên tắc của Luật dân sự, các chủ thể tham gia quan hộ pháp luật
dân sự không có quyền thỏa thuận vẻ thời hiệu nhằm kéo dài hoặc rút ngắn thời
hạn để được coi là thòi hiệu. Vì vậy, thời hiệu là cãn cứ pháp lý do pháp luật quy
định nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định,
không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự đó.
Thời hiệu là chế định pháp lý tương đối phổ biến của mỗi hệ thống pháp
luật. Từng ngành luật khác nhau có những quy định khác nhau tuỳ thuộc vào tính
chất quan hệ xã hội mà ngành luật đó diẻu chỉnh hoặc do những yêu cẩu và dặc
thù riêng. Trong Bộ luật hình sự năm 1999, thời hiộu và những vấn đề liên quan
đến các loại thời hiệu khác nhau được quy định tại chương VIII (từ Điều 55 đến
Điều 62 Bộ luật hình sự). Là một ngành luật truyền thống với ý nghĩa là công cụ
sắc bén và hữu hiệu để đấu tranh phòng chống các loại tội phạm nhằm giữ vững
độc lập, chủ quyền và an ninh quốc gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và
công dân; bảo đảm trật tự trị an và an toàn xã hội nhưng cũng có những trường hợp
bản án không được thi hành vì những nguyên nhân khách quan khác nhau. Để bảo
đảm nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa, pháp luật hình sự cũng có những

bản án đã tuyên. Quy định này cũng nhằm ổn định sự cẩn thiết của các bản án
hình sự.
Thời hiệu trong pháp Luật tố tụng dân sự (pháp luật hình thức) lại có quy
định dựa trên cơ sở một tiêu chí khác. Trước đây, Điẻu 36, Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự (được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 29 tháng 11 năm
1989) quy định những truờng hợp trả lại đơn khởi kiện tại khoản 2 đã quy định:
*TTiời hiệu khởi kiện đã hết”. Thời hiệu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để
xét một bản án có hiệu lực pháp luật nhung có những sai lẩm cũng chỉ trong một
thời hạn nhất định. Khoản 1 Điều 73 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
quy định vẻ thời hạn kháng nghị như sau: “Việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm chỉ được tiến hành trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật. Việc kháng nghị theo hướng không gây thiệt hại cho bất cứ
đương sự nào thì không bị hạn chế vẻ thời gian”.
Do có tầm quan trọng nhu vậy nên Bộ luật tố tụng dân sự (được công bô'
theo Lệnh Chủ tịch nước số 17/2004/L/CTN ngày 24 tháng 6 năm 2004) đã dành
riêng chương XI (với 4 điều luật từ Điều 157 đến Điểu 160) quy định riêng vể thòi
hạn tố tụng. Nguyên tắc áp dụng được quy định cụ thể tại Điểu 158 và Điều 160
Bộ luật tô' tụng dân sự nãm 2004: Cách tính thời hạn tố tụng, quy định vê thời hạn
tố tụng, thời điểm bắt đầu kết thúc thời hạn tố tụng và thời hiệu trong Bộ luật tố
tụng dân sự được áp dụng theo các quy định tương ứng của Bộ luật dân sự.
b. Ý nghĩa của thời hiệu
Tuỳ thuộc mỗi ngành luật trong một hệ thống pháp luật mà thời hiệu được
quy định và ghi nhận khác nhau nhằm bảo đảm sự ổn định cần thiết các quan hệ
185

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN





theo định kỳ nửa năm, hàng nãm để bảo đảm quyền và lợi ích của chủ thể đó. Quy
định về thời hiệu còn là biện pháp buộc các tổ chức có trách nhiệm trong mọi hoạt
động, trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm quyển, lợi ích của chủ thể đó và lợi ích
của Nhà nước.
2. Các loại thời hiệu
Trên cơ sở quy định về thời hiệu của Điẻu 154 tại Điều 155 Bộ luật dân sự
năm 2005 đã phân chia thời hiệu trong pháp luật dân sự làm bốn loại: Thời hiệu
hưởng quyền dân sự thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự, thời hiệu yêu cầu Tòa án
giải quyết vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sư.
186

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN




a. Thời hiệu hưởng quyền dán sự
Là thời hạn mà khi kết thúc thòi hạn đó, chủ thể sẽ được hưởng những quyền
dân sự nhất định. Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2005 thì
thời hiệu hưởng quyền dân sự là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền dân sự
cho một chủ thể. Sự kiện pháp lý theo quy định tại Điều 155 Bộ luật dân sự dựa
trên cơ sở thời hạn do pháp luật dân sự quy định, không phụ thuộc vào ý chí và sự
mong muốn của chủ thể. Các chủ thể không có quyền thoả thuận việc hưởng
quyền dân sự theo thời hiệu. Điều này khác vói viộc xác lập quyền dân sự do các
chủ thể thoả thuận khi xác lập giao dịch dân sự. Tính chất và bản chất pháp lý của
việc hưởng quyền dân sự theo thời hiệu hoàn toàn khác. Việc hưởng quyền dân sự
theo thời hiệu chỉ được thực hiện trong thời hạn và trong những trường hợp do
pháp luật dân sự quy định.
Thông thường, một chủ thê được hưởng quyển dàn sự theo thời hiệu phải có
những diều kiện nhất định như thời hạn hoặc (và) các diều kiện khác theo quy định



bán tài sản cố đối tượng là bất động sản, nhà ỏ. Khi hết thời hạn thoả thuận mì
một bên không thực hiện các nghía vụ do mình đã tự nguyện cam kết, thoả thuận
thì bên kia được hưởng quyền dân sự nhất định từ sự cam kết, thoả thuận đó.

b. Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự
Là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó, chủ thể có nghĩa vụ dãn sự được
miễn việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật
dân sự nãm 2005 thì thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự cũng là m ột sự kiộn pháp
lý cho phép một chủ thể được miễn trừ nghĩa vụ dân sự. Dù rằng trong thực tế chủ
thể đó chưa thực hiện nghĩa vụ đã cam kết hoặc chưa thực hiện nghĩa vụ do pháp
luật quy định.
Theo nguyên tắc của pháp luật dân sự, các chủ thể cũng không có quyền
thoả thuận việc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ dân sự theo thòi hiệu. Trong thực tế có
những khả năng: Nghĩa vụ dân sự được xác lập do các chủ thể cam kết, thoả thuận
trong quá trình xác lập giao dịch dân sự nhưng sau đó lại có thoả thuận đổng ý cho
hoãn thực hiện nghĩa vụ (Điều 287 Bộ luật dân sự năm 2005) hoặc miễn cho một
trong sô' những người thực hiện nghĩa vụ liên đới (khoản 4 Điều 298 Bộ luật dân
sự năm 2005). Việc hoãn thực hiện nghĩa vụ dân sự hoặc miễn cho một trong số
những nguời thực hiện nghĩa vụ liên đối có tính chất và bản chất pháp lý hoàn toàn
khác việc miễn trừ nghĩa vụ dân sự theo thời hiệu. Việc miễn trừ nghĩa vụ dân sự
theo thời hiệu được thực hiện chì trong những trường hợp do pháp luật quy định.
Nếu thời hiệu hưởng quyền dân sự cho phép chủ thể hưởng quyển khi kết
thúc thời hạn cùng với những điều kiện khác thì thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự
là người có nghĩa vụ phải thực hiện nghiã vụ nhung được miễn trừ không phải thực
hiện nghĩa vụ, tương ứng với thời điểm kết thúc thòi hạn do pháp luật dân sự quy
định. Khi một chủ thể tham gia quan hệ dân sự (theo ý chí của chủ thé khi giao kết
hợp đồng hoặc do có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật ngoài hợp đồng) mà pháp
luật dân sự quy định phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự đó thì họ

việc hưởng các quyẻn nhân thân của một chủ thể không gắn hoặc không liên quan
với tài sản.
Đối vói thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự khoản 3 Điều 157 Bộ luật dân sự
năm 2005 còn có quy định: Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự không được áp
dụng trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của các chủ thể đối với Nhà nuớc, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thời hiệu hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ dân sự có tính
Bên tục từ khi bát đầu cho đến khi kết thúc. Nếu có những sự kiện làm gián đoạn,
như cố sự giải quyết CỊÙa cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc quyẻn, nghĩa vụ dân
sự đang dược áp dụng thời hiệu mà bị người có quyển, nghĩa vụ liên quan tranh chấp
thì thòi hiệu hưởng quyển dãn sự hoặc miễn tiừ thực hiện nghĩa vụ dân sự phải được
tính lại từ đẩu, sau khi sự kiện làm gián đoạn thời hiệu châm dứt.
V í dụ: Một chủ thể đang được hưởng quyền dân sự nếu bình thường thì đến
ngày 30 tháng 12 năm 2007 sẽ được công nhận quyẻn sở hữu đối với tài sản.
Nhưng đến ngày 15 tháng 11 năm 2007 lại có những sự kiện làm gián đoạn theo
quy định tại khoản 2 Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2005. Sau khi cơ quan nhà nước
có thẩm quyền giải quyết xong hoặc các tranh chấp đã được giải quyết xong thì
thời hiệu hưởng quyẻn dân sự hoặc miễn trừ thực hiện nghĩa vụ dân sự bắt đầu
được tính lại từ thời điểm đã được giải quyết xong. Trong trường hợp này, thời
hiệu phải tính lại từ đẩu. Nếu tranh chấp là động sản thì thời hạn để được xác lập
quyền sở hữu theo thời hiệu bắt đầu được tính lại là mười năm.
c. Thời hiệu khở i kiệrt vụ án dân sự
Là thời hạn mà chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm được quyền khởi kiện
vụ án dân sự để yêu cẩu Tòa án bảo vệ khi chủ thể đó không thể tự bảo vệ được.
Theo quy định tại khoản 3 Điểu 155 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi
kiộn vụ án dân sự cũng là một sự kiện pháp lý trên cơ sở thời hạn do pháp luật dân
sự quy định. Đây là thời hạn nhất định mà pháp luật dân sự cho phép một chủ thể

189


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status