TÓM LƯỢC
Sau gần 10 năm thành lập và phát triển, Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate đã
khẳng định được vị thế vững chắc của mình trên thị trường. Hoạt động kinh doanh của
công ty luôn chú trọng đến quan hệ mua bán hàng hoá vì vậy mà hợp đồng mua bán
hàng hoá trở thành hợp đồng phổ biến mà công ty sử dụng. Quá trình kí kết và thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate đã đạt được
những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán
hàng hóa tại công ty còn chưa được nhận thức đầy đủ dẫn đến tình trạng coi nhẹ việc
giao kết và thực hiện hợp đồng. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hoá là thật sự cần thiết đối với không chỉ riêng công ty mà còn đối
với sự phát triển của xã hội. Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng mua
bán hàng hóa - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trong bài khoá luận này, phạm vi đề tài em chọn Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate
làm địa điểm thực tế. Đề tài thực hiện thông qua những hiểu biết về các quy định pháp luật
đã học tại trường Đại học Thương mại để khảo sát thực trạng, thực tiễn thực hiện pháp luật
điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate. Qua đó, có
thể đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao pháp luật về hợp đồng mua
bán hàng hoá, đặc biệt đẩy mạnh tính hiệu quả của vấn đề này tại công ty. Khóa luận với kết
cấu 3 chương, tập trung vào nghiên cứu những vấn đề như sau:
Đầu tiên, trong Chương 1 em đưa ra một số vấn đề lý luận về pháp luật điều
chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định pháp
luật điều chỉnh vấn đề này. Tiếp theo, trong Chương 2 em tập trung tìm hiểu thực trạng
và thực tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty
Cổ phần Công nghệ G-Gate. Thông qua đó, có những đánh giá, nhận xét về quá trình
giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Công nghệ GGate. Cuối cùng, Chương 3 em đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
hợp đồng mua bán hàng hóa và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình giao
kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty.
Kết quả nghiên cứu đề tài dựa trên sự tìm hiểu thực tế tại công ty, em hi vọng kết
quả nghiên cứu này có thể áp dụng đối với việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hoá tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate. Do phạm vi đề tài thu hẹp trong
2
MỤC LỤC
3
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm gần đây
Bảng 1.2 Biến động về số lượng và chất lượng lao động
Bảng 1.3 Tổng mức và cơ cấu nguồn vốn Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate
27
29
42
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1 Diễn biến cơ cấu lao động theo độ tuổi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật Dân sự
Luật Thương mại
Công ty Cổ phần
Hợp đồng mua bán hàng hoá
4
vững và hiểu rõ các quy định về hợp đồng mua bán hàng hoá hết sức cần thiết không
chỉ giúp các chủ thể kinh doanh dễ dàng hơn trong quá trình kí kết, thực hiện hợp đồng
mà còn đảm bảo an toàn, hiệu quả, phòng ngừa các rủi ro trong kinh doanh. Trên thực
tế, Quốc hội đã ban hành Bộ luật dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 điều chỉnh
trực tiếp các quan hệ về hợp đồng nhằm xây dựng một hành lang pháp lý vững chắc
tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Dựa trên cơ sở pháp luật,
các doanh nghiệp phần nào chủ động hơn trong vấn đề giao kết để hợp đồng được xác
lập nhanh chóng, đảm bảo hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm túc tạo ra lợi
nhuận tối ưu nhất. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, sự hiểu biết về pháp luật của các
doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục nhằm tạo ra hiệu quả tốt
cho hoạt động kinh doanh. Khi tham gia thị trường và tiến hành hoạt động kinh doanh,
các doanh nghiệp cần trang bị cho mình một nền tảng pháp luật về hợp đồng mua bán
hàng hoá thật vững chắc.
Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực lập trình máy vi tính, dịch vụ tư vấn và các hoạt động khác liên quan đến máy vi
tính. Công ty đã khẳng định vị thế nhất định trên thị trường máy vi tính và hướng tới
5
mục tiêu phát triển rộng rãi hơn nữa. Do đó, việc giao kết các hợp đồng mua bán hàng
hoá của công ty diễn ra thường xuyên thông qua các hoạt động bán buôn máy vi tính,
thiết bị ngoại vi và phần mềm; bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy nông
nghiệp; bán buôn máy móc, thiết bị và phụ tùng máy khác.
Trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate, tôi đã được tiếp
cận với các hợp đồng mua bán hàng hoá bởi hàng năm công ty đã tham gia giao kết rất
nhiều hợp đồng mà chủ yếu là hợp đồng mua bán hàng hoá. Đồng thời trong quá trình
thực tập tại đây, tôi nhận thấy bên cạnh những thành tựu đạt được, công ty còn tồn tại
những hạn chế về việc trang bị pháp luật cho mình cũng như tuân thủ pháp luật, thi
hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật cần được khắc phục kịp thời.
Với lịch sử tồn tại và phát triển gần 10 năm, công ty cũng đã khẳng định được vị thế
* Bộ luật Dân sự 2015, Quốc hội ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015.
Bộ Luật dân sự được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày
24/11/2015; được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01/01/2017. Bộ luật quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về
cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá
nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí,
độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự). Bộ
luật dân sự là một đạo luật có ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt bảo đảm quyền con
người, quyền công dân, phát triển kinh tế - xã hội mà còn cả về mặt xây dựng pháp
luật. Bộ Luật dân sự 2015 đề cập tới chế định hợp đồng bởi dây là một mảng quan
trọng và được các doanh nghiệp hết sức quan tâm. Những quy định về chế định hợp
đồng giúp các doanh nghiệp ý thức pháp thức, nghiêm túc thực hiện vừa để bảo vệ
quyền lợi của chính doanh nghiệp vừa để đảm bảo trật tự xã hội.
* Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản công an
nhân dân, 2017.
Giáo trình đưa ra những nội dung cơ bản của môn học Luật Dân sự gồm: nghĩa
vụ dân sự, hợp đồng dân sự; nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi
về tài sản không có căn cứ pháp luật; trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
chuyển quyền sử dụng đất; quyền sở hữu trí tuệ và quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài. Với đề tài khoá luận tốt nghiệp, tôi chú trọng tham khảo phần hợp đồng dân sự
để hiểu rõ hơn về hợp đồng mua bán hàng hoá bởi hợp đồng mua bán hàng hoá thực
chất là một dạng của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự.
* Luật Thương mại 2005, Quốc hội ban hành ngày 14 tháng 06 năm 2005.
Luật Thương Mại 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005. Luật Thương Mại
2005 quy định về hoạt động thương mại. Ngoài ra, ở Luật thương mại còn quy định rõ
các chế tài trong thương mại, giải quyết tranh chấp trong thương mại và xử lý vi phạm
pháp luật về thương mại. Trong hoạt động thương mại, giữa các chủ thể luôn xuất hiện
hành vi tiêu cực đối với nhau để trục lợi. Vì thế họ cần pháp luật bảo vệ trước đối thủ
cạnh tranh và chính họ cũng phải chịu sự giám sát của nhà nước, chịu chế tài của pháp
hành ngày 16 tháng 03 năm 2007. Hầu hết, các nghị định trên đều đưa ra những quy
định chi tiết điều chỉnh hoạt động thương mại, từ đó giúp cho bài khoá luận tốt nghiệp
khai thác vấn đề rõ hơn.
Ngoài ra còn có nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ bổ trợ cho việc nghiên
cứu đề tài như:
* Trương Thị Bích (2012), luận văn thạc sỹ “Pháp luật về giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài- Kinh nghiệm so sánh với luật Trung
Quốc và những định hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam”.
Luận văn lý giải những vấn đề lý luận và pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán
hàng hoá với thương nhân nước ngoài và đưa ra những định hướng hoàn thiện pháp
luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu thực tiễn khách quan trong điều kiện kinh tế thị trường
và xu thế hội nhập.
* Ngô Thị Kiều Trang (2014), luận văn thạc sỹ “Thực hiện hợp đồng mua bán
8
hàng hoá theo pháp luật Việt Nam”, Đại học Quốc gia Hà Nội khoa Luật.
Luận văn tập trung phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý về việc thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hoá. Đồng thời, bình luận và đánh giá thực tiễn việc thực
hiện hợp đồng loại này, để từ đó có cơ sở xây dựng và hoàn thiện các quy định của
pháp luật thương mại hiện hành về mua bán hàng hóa thống nhất trong luật pháp quốc
gia và phù hợp với thông lệ quốc tế.
* Trương Thị Hà (2015), luận văn thạc sỹ “Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hoá theo thủ tục sơ thẩm tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội”, Đại học
Quốc gia Hà Nội khoa Luật.
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật Việt Nam về
việc xét xử các vụ án tranh chấp mua bán hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm; phân tích
thực trạng việc xét xử và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử theo thủ tục
sơ thẩm đối với loại tranh chấp này tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội. Trên cơ sở
đó, đửaa những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xét xử loại tranh chấp này theo thủ
Bài viết của tác giả Bùi Ngọc Cường được đăng tải trên tạp chí Nhà nước và
pháp luật, nói về hợp đồng trong đó chú trọng tới vấn đề hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng ở Việt Nam trên cơ sở phân tích, đánh giá thực tiễn các căn cứ quy định pháp
luật.
* Trần Thị Huệ (2013), “Một số bất cập của chế định hợp đồng trong Bộ luật
dân sự 2005”, Tạp chí dân chủ và pháp luật số định kỳ tháng 6 năm 2013.
Chế định hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng khung pháp lý cho
các giao lưu dân sự, kinh tế. BLDS của chúng ta đã có quy định về chế định này nhưng
vẫn còn một số quy định về chế định hợp đồng thể hiện sự bất cập và chưa thực sự hợp
lý. Vì vậy, tác giả Trần Thị Huệ đã đề cập tới vấn đề này trong bài viết của mình trên
tạp chí dân chủ và pháp luật. Bài viết đã nêu và phân tích một số bất cập của chế định
hợp đồng trong BLDS 2005.
* ThS Nguyễn Văn Việt (2017), “Bàn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hoá”.
Bài viết bàn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam
hiện nay. Bài viết giúp cho người đọc hiểu về các khía cạnh pháp lý trong giải quyết
tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá như: đặc điểm của tranh chấp HĐMBHH,
nguyên nhân xảy ra tranh chấp phát sinh từ HĐMBHH, các biện pháp hạn chế tranh
chấp HĐMBHH,…
* Lê Song Lê - Kiểm sát viên, VKSND tối cao (2011), “Về việc giải quyết tranh
chấp hợp đồng mua bán hàng hoá do lỗi của bên bán”.
Bài viết nói về việc giải quyết tranh chấp HĐMBHH do lỗi của bên bán bởi trên
thực tiễn, quá trình giải quyết một số vụ tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá do lỗi
của bên bán hàng đã nảy sinh nhiều vấn đề vướng mắc.
* Nguyễn Thị Diễm Hường-Hoàng Như Thái (2018), “Đề nghị giao kết hợp
đồng trong BLDS 2015 và CƯV 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế”.
Trong phạm vi bài viết, tác giả chỉ đề cập đến một giai đoạn vô cùng quan trọng
để hình thành hợp đồng, đó là đề nghị giao kết hợp đồng. Bởi đây là giai đoạn khởi
đầu cho việc thiết lập mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng.
Liên quan đến đề nghị giao kết hợp đồng, Bộ luật Dân Sự Việt Nam qua các thời kỳ
thiếu vắng bộ phận chuyên trách về pháp luật riêng biệt trong công ty làm cho việc
nắm bắt các thông tin liên quan đến pháp luật không được chuyên sâu. Đây là một
thiếu sót trong sơ đồ tổ chức bởi với sự có mặt của bộ phận pháp chế, việc cập nhật
các văn bản pháp luật, các quy định mới của nhà nước sẽ dễ dàng hơn, tạo thành một
hành lang an toàn về mặt pháp lý, thuận lợi hơn trong việc kinh doanh của doanh
nghiệp và tạo sự uy tín trong làm ăn với các đối tác kinh doanh. Chính vì vậy việc tìm
ra những giải pháp thiết thực để giúp công ty nhận thức đầy đủ pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hoá cũng như để tìm ra hướng kinh doanh hiệu quả nhất cho công ty hết
sức cần thiết.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá, nhìn nhận cả về lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn
11
đề tài: “ Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa - Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ
phần Công nghệ G-Gate” làm khóa luận tốt nghiệp của mình .
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài trên, đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận
chung về một số khía cạnh pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa, thực
tiễn thực hiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần
Công nghệ G-Gate.
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận
của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hoá; khảo sát thực trạng thực hiện
pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ
phần Công nghệ G-Gate, qua đó làm rõ các vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán
hàng hoá còn tồn tại hạn chế tại công ty để đưa ra đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp
luật về hợp đồng mua bán hàng hoá.
Với mục tiêu nghiên cứu được xác định trên, một số nhiệm vụ cần nghiên cứu để
làm rõ đề tài như sau:
vận dụng để giải quyết kết hợp nghiên cứu chặt chẽ những vấn đề thực tiễn và lý luận
mà đề tài đặt ra. Khóa luận tập trung sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp liệt
kê, phương pháp so sánh….Trong đề tài khoá luận chủ yếu vận dụng hai phương pháp,
đó là phương pháp thu thập thông tin và phương pháp phân tích – tổng hợp.
Thứ nhất về phương pháp thu thập thông tin, dây là cơ sở chính xác nhất, bước
đầu giúp ta thu thập được những số liệu khách quan của công ty để dễ dàng nắm bắt
tình hình hoạt động của công ty. Các nguồn tài liệu, thông tin có thể thu thập bao gồm:
+ Thu thập các văn bản pháp luật liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa. Cụ
thể trong Chương 1 của đề tài đã đưa ra một số khái niệm cơ bản, cơ sở ban hành và
nội dung , một số nguyên tắc pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá.
+ Thu thập sổ sách, số liệu có liên quan đến giao kết và thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa trong Công ty Cổ phần Công nghệ G-Gate. Để làm rõ thực trạng và thực
tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty. Cụ thể trong
Chương 2 của đề tài đã thu thập các tài liệu của Công ty như: báo cáo tài chính, báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Thứ hai về phương pháp phân tích và tổng hợp, căn cứ vào việc thu thập và xử lý
các tài liệu thu thập được để phân tích, đánh giá làm rõ vấn đề liên quan đến pháp luật
về hợp đồng mua bán hàng hoá. Từ những kết quả đã phân tích, tổng hợp lại để có cái
nhìn khái quát tổng thể vấn đề nghiên cứu tìm ra được giải pháp hoàn thiện. Phương
pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài.
6. Kết cấu khoá luận tốt nghiệp
Kết cấu của đề tài khoá luận bao gồm các phần phụ thêm như: tóm lược; lời cảm
13
ơn; mục lục; danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ; danh mục từ viết tắt.
Ngoài ra, nội dung khoá luận tốt nghiệp có cấu trúc 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hoá
bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền
cho bên bán”
Như vậy có thể thấy, mua bán hàng hoá thực chất là một dạng của mua bán tài
sản nên có bản chất giống như mua bán tài sản theo quy định của BLDS. Đó đều là
việc bên bán chuyển quyền sở hữu hàng hoá/tài sản cho bên mua và nhận thanh toán,
bên mua có quyền sở hữu đối với hàng hoá/tài sản đã mua và có nghĩa vụ thanh toán
cho bên bán. Không những vậy, mua bán hàng hoá và mua bán tài sản đều thể hiện
thông qua hình thức hợp đồng. LTM 2005 không đề cập tới khái niệm về hợp đồng
mua bán hàng hoá , do đó căn cứ vào khái niệm hợp đồng trong BLDS 2015 và khái
niệm mua bán hàng hoá trong LTM 2005 nói trên, ta có thể hiểu hợp đồng mua bán
hàng hoá là sự thoả thuận giữa các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển
quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh
toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận. Hợp đồng này
15
phải thoả mãn về hình thức được quy định tại Khoản 1 Điều 24 LTM 2005 và phải
thoả mãn về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá. Đó là hàng hoá được phép
mua bán theo quy định của pháp luật.
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá
Hợp đồng mua bán hàng hoá vừa có bản chất chung của hợp đồng trong BLDS
lại vừa mang trong mình những đặc điểm riêng để phân biệt với các loại hợp đồng
khác. Hợp đồng mua bán hàng hoá có các đặc điểm như sau:
Xét về đặc điểm chung, hợp đồng mua bán hàng hoá có sự thỏa thuận giữa các
bên. Sự thỏa thuận phải thể hiện sự tự nguyện thiện chí và thống nhất ý chí giữa các
chủ thể tham gia mới có thể hình thành hợp đồng, nếu chỉ là ý chí của một bên thì đó
hành vi pháp lý đơn phương. Các bên tự do trong việc thể hiện ý chí của mình, hướng
đến lợi ích của các bên đồng thời không xâm phạm lợi ích chính đáng mà pháp luật
cần bảo vệ. Đồng thời, hợp đồng mua bán hàng hoá còn là một sự kiện pháp lý làm
phát sinh hậu quả pháp lý: xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên
Thứ ba về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hoá. Hợp đồng mua bán hàng
hóa thể hiện quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong đó có bên mua và bên bán trong
quan hệ mua bán. Cụ thể là bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng
hoá cho bên mua và nhận thanh toán. Ngược lại, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho
bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận. Nội dung của hợp đồng
chứa đựng các điều khoản được ghi nhận trong hợp đồng thông thường bao gồm các
điều khoản: Tên hàng, số lượng, chất lượng/phẩm chất, giá cả, phương thức thanh
toán, địa điểm và thời hạn giao hàng …. Ngoài ra, các bên còn có thể thỏa thuận về
các điều khoản khác của hợp đồng để đảm bảo quyền lợi cho các bên nếu có tranh
chấp xảy ra như: nơi giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết tranh chấp. Tuy
nhiên, số lượng điều khoản, loại điều khoản không phải là điều kiện để vô hiệu hợp
đồng. Các điều khoản của hợp đồng phải phù hợp với pháp luật, điều khoản nào mà
trái pháp luật thì điều khoản đó sẽ vô hiệu. Nói cách khác, nội dung hợp đồng không
thể là điều kiện để hợp đồng vô hiệu toàn phần. Mặt khác cần chú ý, do loại hợp đồng
này có đặc điểm là các bên đều nhằm đến mục tiêu lợi nhuận nên đòi hỏi nội dung của
hợp đồng phải đầy đủ, rõ ràng, tránh những hiểu lầm dẫn đến tranh chấp. Vì vậy, các
bên cần chú ý thận trọng trong quá trình soạn thảo nội dung của hợp đồng.
Thứ tư về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá phải được thể hiện bằng lời nói,
bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể của các chủ thể tham gia hợp
đồng. Về nguyên tắc, các bên được tự do lựa chọn hình thức hợp đồng mua bán hàng
hoá tuy nhiên trong một số trường hợp ngoại lệ, đối với các loại hợp đồng mua bán
hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì bắt buộc các bên giao
kết phải tuân theo quy định đó. Nói cách khác, điều kiện về hình thức của hợp đồng
chỉ áp dụng cho một số loại hợp đồng mà pháp luật quy định cụ thể về hình thức chứ
không phải áp dụng cho tất cả các hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế là một ví dụ điển hình nhất, hợp đồng này phải được thực hiện trên
cơ sở văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. LTM 2005
quy định đa dạng về các hình thức thể hiện của hợp đồng mua bán hàng hoá nhưng các
bên nên kí kết hợp đồng bằng văn bản. Bởi vậy mà ngày này các doanh nghiệp thường
ưu tiên ký kết hợp đồng văn bản bằng hình thức văn bản bởi việc giao kết hợp đồng
hoá bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn.
Qua việc phân loại hợp đồng mua bán hàng hoá có thể thấy những điểm khác biệt
giữa mua bán hàng hoá thông thường, mua bán hàng hoá quốc tế và mua bán hàng hoá
thông qua Sở giao dịch hàng hoá.
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán
hàng hoá
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hoá
Đại hội VI của Đảng diễn ra vào tháng 12/1986 đưa ra quyết định đổi mới toàn
diện, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Muốn phát triển nền
18
kinh tế thị trường đó đòi hỏi Nhà nước ta phải có những chính sách phát triển nhất
định đồng thời xây dựng một hành lang pháp lí phù hợp phù với yêu cầu đặt ra. Hiện
nay, sau hơn 30 năm đổi mới, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo hướng xã
hội chủ nghĩa đã có những bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, xã hội càng phát triển thì
việc thiết lập một cơ chế quản lí nhà nước và thắt chặt các quan hệ xã hội với nhau lại
càng cần thiết, đặc biệt là quan hệ mua bán và trao đổi hàng hoá. Bởi vì một trong
những đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường là tự do trao đổi các sản phẩm hàng
hóa giữa người mua và người bán. Người bán bao giờ cũng muốn bán giá cao còn
người mua bao giờ cũng muốn mua với giá thấp do đó cần có sự thống nhất ý chí, có
sự thỏa thuận giữa người bán và người mua thể hiện qua hợp đồng. Nền kinh tế thị
trường là nền kinh tế của hệ thống các quan hệ hợp đồng, nếu thiếu hợp đồng thì nền
kinh tế không thể vận hành được. Yêu cầu đặt ra không chỉ là vấn đề riêng của cơ quan
Nhà nước mà còn là yêu cầu chung của toàn xã hội.
Ngày 25/9/1989, Hội đồng nhà nước đã thông qua Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
1989 và ban hành hàng loạt các văn bản hướng dẫn. Nhưng đến nay, Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế 1989 không còn phù hợp với yêu cầu chính trị-xã hội bộc lộ nhiều bất
cập, hạn chế cần được sửa đổi kịp thời. Việc hoàn thiện, đổi mới các quy định pháp
nhằm tạo nên sự phù hợp với tình hình đất nước và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh
tế quốc tế và tự do hoá thương mại. Đứng trước thách thức đó đòi hỏi mỗi quốc gia
không chỉ có Việt Nam phải hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, không có sự
chồng chéo giữa những quy định pháp luật nhằm tạo ra sự tương thích với luật pháp
quốc tế.
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hoá
* Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá
Giao kết HĐMBHH là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo những nguyên tắc
và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền, nghĩa vụ có liên quan.
Về phương thức giao kết, khi muốn thiết lập một hợp đồng mua bán hàng hoá thì
ý muốn đó phải thể hiện ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định, đó là đề nghị
giao kết hợp đồng. Theo quy định tại Điều 386 BLDS 2015, đề nghị giao kết được
hiểu là việc một bên thể hiện rõ ý định muốn giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc
về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên được đề nghị. Một lời đề nghị được coi là
đề nghị giao kết hợp đồng thì phải chứa đựng một số yếu tố cơ bản sau:
+ Thể hiện rõ được nguyện vọng muốn đi đến giao kết hợp đồng của bên đề nghị.
Nội dung của đề nghị phải rõ ràng, có ý định đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng
hoá thực sự.
+ Phải có chứa toàn bộ mọi điều kiện cơ bản của hợp đồng. Đề nghị phải chứa
đựng những điều khoản trong đó xác định được mặt hàng, số lượng hàng, giá cả,
phương thức thanh toán,…
+ Phải xác định rõ bên được đề nghị. Đề nghị giao kết có thể được gửi đến cho
một hay nhiều chủ thể nhưng phải đã xác định và phải gửi đích danh.
+ Yêu cầu về thời hạn trả lời phải đề cập cụ thể.
Tuy nhiên, BLDS cũng như LTM 2005 không quy định về hình thức của đề nghị
giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá nhưng có thể căn cứ vào hình thức của hợp đồng
mua bán hàng hoá theo quy định Điều 24 LTM 2005. Do đó, hình thức của đề nghị
giao kết hợp đồng có thể bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể hoặc kết hợp giữa
20
Hợp đồng được giao kết bằng lời nói: Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm
các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.
Hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp
các bên có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác. Từ thời điểm hợp
đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết.
Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy
định của pháp luật.
21
* Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá
Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá là việc các bên tiến hành các hành vi mà
mỗi một bên tham gia hợp đồng mua bán hàng hoá phải thực hiện nhằm đáp ứng
những quyền tương ứng của bên kia.
** Thực hiện hợp đồng về nội dung
Khi thực hiện HĐMBHH, các bên tham gia hợp đồng phải thực hiện đúng, đầy
đủ các điều khoản về đối tượng, địa điểm, thời hạn, phương thức; về quyền, nghĩa vụ
của các bên và các thoả thuận khác mà nội dung của hợp đồng đã xác định. LTM 2005
quy định những nội dung đặc thù về mua bán hàng hoá với tính chất là một hoạt động
thương mại.
Quyền và nghĩa vụ của bên bán
Xét về nghĩa vụ của bên bán, Điều 34 LTM 2005 quy định bên bán phải giao
hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức
đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng. Trường hợp không có thỏa
thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy định của
luật. Đồng thời, bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận
trong hợp đồng. Trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên
mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu các bên không có thoả thuận khác theo
Điều 38 LTM 2005. Khi thực hiện hợp đồng thì bên bán phải có nghĩa vụ giao chứng
từ kiên quan đến hàng hoá (Điều 42 LTM 2005); nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối
tượng bị tranh chấp; bên mua có bằng chứng về việc bên bán giao hàng không phù hợp
với hợp đồng. Nếu các bên không có sự thỏa thuận này thì sẽ tuân theo quy định của
pháp luật, điều này được quy định tại LTM 2005: xác định địa điểm thanh toán theo
quy định tại Điều 54, thời hạn thanh toán theo quy định tại Điều 55.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng được quy định từ Điều 292 đến Điều
350 BLDS 2015 bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ,
bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản. Theo các quy định của
pháp luật hiện hành thì các bên trong hợp đồng có quyền tự chủ, tự do cam kết và tự
do thoả thuận đồng thời các bên cũng phải tự chịu trách nhiệm đối với các cam kết,
thoả thuận của mình.
** Thực hiện hợp đồng về hình thức, Điều 24 LTM 2005 quy định: “HĐMBHH
được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối
với các loại HĐMBHH mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải
tuân theo các quy định đó.” Riêng HĐMBHH quốc tế phải được lập thành văn bản
hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Các hình thức có giá trị pháp lý
tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức
khác theo quy định của pháp luật.
* Sửa đổi và chấm dứt hợp đồng mua bán hàng hoá
Về việc sửa đổi hợp đồng, dù hợp đồng đã được giao kết và có hiệu lực nhưng để
việc thực hiện hợp đồng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của mỗi bên, các
bên vẫn có thể thoả thuận để sửa đổi hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác. Chẳng hạn Điều 417 BLDS 2015 quy định các bên giao kết hợp đồng vì lợi ích
của người thứ ba không được sửa đổi hợp đồng nếu người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi
ích. Như vậy có thể định nghĩa sửa đổi hợp đồng là việc các bên đã tham gia giao kết
hợp đồng bằng ý chí tự nguyện của mình thoả thuận với nhau để làm thay đổi một số
23
điều khoản trong nội dung hợp đồng đã giao kết. Việc sửa đổi hợp đồng phải phù hợp
với hình thức hợp đồng đã giao kết căn cứ vào Khoản 3 Điều 421 BLDS 2015: “Hợp
đồng mua bán là dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý phát sinh trong lĩnh vực mua bán
hàng hoá. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng được áp dụng trên cơ sở hành vi
vi phạm hợp đồng mua bán có hiệu lực pháp luật. Chế định trách nhiệm hợp đồng bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá.
24
Chế định trách nhiệm hợp đồng cho phép bên bị vi phạm tự mình hoặc yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền áp dụng các hình thức trách nhiệm (chế tài) đối với bên vi phạm.
Ngược lại, chế định trách nhiệm hợp đồng mua bán bảo đảm cho bên vi phạm chỉ phải
chịu trách nhiệm về những thiệt hại do pháp luật quy định, bảo vệ bên vi phạm trước
những hiện tượng tiêu cực trong xử lý vi phạm hợp đồng. Mặt khác, chế định trách
nhiệm hợp đồng còn ngăn ngừa và hạn chế vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá, nâng
cao ý thức trách nhiệm của các chủ thể hợp đồng trong việc thực hiện hợp đồng. Chế
định trách nhiệm hợp đồng chủ trương áp dụng các biện pháp chế tài đối với mọi hành
vi vi phạm hợp đồng.
Miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán là việc bên vi phạm nghĩa vụ
theo hợp đồng mua bán không phải chịu các hình thức chế tài. Các bên trong hợp đồng
mua bán có quyền thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm và miễn trách nhiệm hợp đồng
trong các trường hợp cụ thể do các bên dự liệu khi giao kết hợp đồng. Ngoài ra việc
miễn trách nhiệm hợp đồng còn được áp dụng theo các trường hợp khác do pháp luật
quy định. Theo LTM 2005, ngoài các trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa
thuận, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán còn được miễn trách nhiệm khi:
Xảy ra sự kiện bất khả kháng nghĩa là sự kiện xảy ra 1 cách khách quan không
thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp
cần thiết và khả năng cho phép.
Hành vi vi phạm của 1 bên hoàn toàn do lỗi của bên kia
Hành vi vi phạm của 1 bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Về các phương thức giải quyết tranh chấp, khi tham gia các quan hệ kinh tế, việc