luận văn kinh tế luật pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn thực hiện tại công ty cổ phần hệ thống 1 v - Pdf 59

TÓM LƯỢC
Mua bán hàng hóa là một hoạt động đã được hình thành từ lâu đời, nó xuất phát
từ nhu cầu trao đổi để thỏa mãn những mong muốn cá nhân của con người. Và ngày
nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, hoạt động mua bán hàng hóa càng trở nên
phổ biến và trở thành một trong những hoạt động thương mại chủ yếu của thương
nhân.
Trong phạm vi khóa luận, em sẽ tập trung đi sâu làm rõ một số vấn đề pháp lý về
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, và thực tế áp dụng tại Công ty Cổ phần hệ thống
1-V - địa điểm em chọn để thực tập tốt nghiệp. Khóa luận của em gồm có ba phần
chính:
Chương 1: Khóa luận nghiên cứu một cách chi tiết những lý luận cơ bản về pháp
luật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời, làm rõ được các vấn
đề có liên quan. Bao gồm: một số khái niệm cơ bản liên quan đến giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa; cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa.
Chương 2: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa. Qua đó, rút ra được những bất cập của pháp luật hiện
hành, những khó khăn mà Công ty Cổ phần hệ thống 1-V còn tồn tại trong giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chương 3: Qua việc nghiên cứu lý luận pháp luật về vấn đề giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần hệ thống 1-V , đưa ra một
số kiến nghị nhằm khắc phục những vấn đề còn tồn tại, hoàn thiện pháp luật, xây dựng
khung pháp lý hoàn chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.


LỜI CẢM ƠN
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay cũng như trong tình hình hội nhập ngày
càng sâu và rộng của nước ta thì hiểu biết pháp luật vừa là công cụ vừa là phương tiện
giúp các các doanh nghiệp nói riêng, các cá nhân, pháp nhân nói chung có thể thực
hiện tốt quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong cuộc sống cũng như trong kinh

1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa.......................................................................................... 6
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa......................................................................................... 6

1.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hơp đồng mua bán hàng hóa..........................8
1.2.1.1 Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.................................................................9
1.2.1.2 Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa............................................................................10
1.2.1.3 Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.......................................................................14
1.2.1.4 Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.........................................................................15

1.3 Nguyên tắc điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa................................................16
1.3.1 Nguyên tắc tự do kinh doanh............................................................................................................ 16
1.3.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật.............................................................................................. 17
1.3.3 Nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu.................................................................................................. 17
1.3.4 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội....................18
1.3.5 Nguyên tắc tự nguyện....................................................................................................................... 18
1.3.6 .Nguyên tắc cùng có lợi..................................................................................................................... 19

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN HỆ THỐNG 1-V.............................................................20
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến vần đề giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa...............................................................................................................................................20
2.1.1 Tổng quan tình hình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa................................................................20
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa........................................20
2.1.1.1 Nhân tố kinh tế........................................................................................................................... 20
2.1.1.2 Nhân tố con người...................................................................................................................... 21
2.1.1.3 Nhân tố kỹ thuật......................................................................................................................... 21
2.1.1.4 Các nhân tố khác........................................................................................................................ 21

2.2 Phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.......22
2.2.1 Về chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa..............................................................................22

Luật Thương Mại

BLDS

Bộ Luật dân sự

HĐMBHH

Hợp đồng mua bán hàng hóa

NĐ-CP

Nghị định chính phủ


LỜI MỞ ĐẦU
1, Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận
Ngày nay, hoạt động mua bán hàng hoá trong nước đã trở thành lĩnh vực kinh
doanh chủ đạo và đem lại nguồn doanh thu lớn cho các công ty. Tuy nhiên, để hoạt
động mua bán hàng hoá của công ty đi vào chiều sâu thì đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm
hiểu, tiếp cận và nhận thức đúng đắn các hoạt động thương mại theo đúng luật, nhằm
hạn chế những tổn hại kinh tế không đáng có. Hợp đồng mua bán hàng hoá rất phong
phú, được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật và khá phổ biến trong hoạt động kinh
doanh của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Trong hệ thống pháp luật nước ta đã có
những quy định cụ thể về sự điều chỉnh quan hệ hợp đồng ngay từ Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế 1989, tiếp đến là Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997… và cho đến
nay là các văn bản pháp luật mới được ban hành: Luật Thương mại 2005, Bộ Luật dân
sự nay hay là Bộ luật dân sự 2015 sẽ có hiệu lực vào ngày 1/7/2015.
Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các thương nhân, giữa các doanh
nghiệp với nhau ngày càng tăng về số lượng. Vấn đề đặt ra trong việc nâng cao hiệu

cơ bản. Ngoài ra, vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa cũng được nghiên cứu theo khía
cạnh hợp đồng trong thương mại với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong đó có thể
kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Chế độ hợp đồng kinh tế - Tồn tại hay không tồn tại” của GS.TS Lê Hồng
Hạnh đăng tại Tạp chí luật học số 3/2003
- “Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư- Những vấn đề pháp lý cơ
bản” Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội do Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung chủ biên năm 2009
đã nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về các loại hợp đồng trong thương mại,
trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa.
- “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” của Lê Minh
Hùng, luận án Tiến sĩ Đại học Luật – Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010
đã nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng
pháp luật về hiệu lực hợp đồng ở Việt Nam.
- “Tự do giao kết hợp đồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Thị
Hường, luận văn Thạc sỹ năm 2010, Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã nghiên
cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về quyền tự do giao kết hợp đồng. Bên cạnh đó, luận
văn còn phân tích những khía cạnh cơ bản của nguyên tắc quyền tự do giao kết hợp
đồng và các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này và đề xuất những kiến nghị cụ thể
nhằm hoàn thiện pháp luật về tự do giao kết hợp đồng ở Việt Nam.
- “Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
- Kinh nghiệm so sánh với luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện cho pháp
luật Việt Nam” của Trương Thị Bích, luận văn Thạc sỹ năm 2012, Chuyên ngành Luật
Quốc Tế, Khoa Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội luận giải những vấn đề lý luận và
pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài và
phân tích một cách có hệ thống về thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam
về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài. So sánh pháp
luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài và đề xuất các khuyến nghị những định hướng hoàn thiện cho
2


4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những quy định về giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005
và thực tiễn áp dụng những quy định này tại Công ty Cổ phần Hệ thống 1-V để từ đó,
đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa và nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán

3


hàng hóa vào thực tiễn. Việc xác định đối tượng nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng
trong việc triển khai nghiên cứu, đảm bảo cho khóa luận tốt nghiệp đi đúng hướng.
4.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận sự cần thiết phải có một hệ thống pháp luật thống
nhất và chặt chẽ để quản lí hoạt đông mua bán và trao đổi hàng hóa trong bối cảnh
nước ta đã ra nhập WTO, sự hội nhập kinh tế đứng trước rất nhiều cơ hội và thách
thức.
- Phản ánh thực trạng tình hình pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
hiện nay ở nước ta. Tìm ra những ưu điểm đồng thời nhìn nhận lại những điểm còn
hạn chế trong hệ thống pháp luật hiện hành.
- Nêu lên thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động giao kết mua bán hàng
hóa của Công ty Tin Cổ phần hệ thống 1-V.
- Những thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp trong quá trình áp dụng pháp
luật về hợp đồng mua bán hàng hóa. Từ đó đề xuất những giải pháp để giải quyết các
vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về thời gian, phạm vi nghiên cứu nên khóa luận chỉ tập trung làm
sáng tỏ một số vấn đề chính. Cụ thể phạm vi nghiên cứu của khóa luận giới hạn như
sau:
- Về nguồn tư liệu: Khóa luận sẽ nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồng mua

Chương 3 : Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam hiện nay.

5


CHƯƠNG 1 : NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM .
1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa
Theo khoản 8 điều 3 LTM 2005: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại,
theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua
và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng và
quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”. Ta có thể hiểu mua bán hàng hóa là sự đầu
tư tiền của, công sức của một cá nhân hay một tổ chức vào việc trao đổi hàng hóa để
kiếm lời. Đó là hoạt động cốt lõi để doanh nghiệp có thể duy trì và phát triển. Về cơ
bản hoạt động mua bán hàng hóa được diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu đó là mua
bán hàng hóa trong nước và mua bán hàng hóa quốc tế.
Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp
lý là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất pháp lý
chung là hợp dồng. Hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về
một hay một số vấn đề nhất định trong xã hội nhằm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt
các quyền hay nghĩa vụ của các bên. Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “ Hợp
đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự”. Luật Thương mại 2005 quy định mua bán hàng hóa trong thương
mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng. Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “
Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,
chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ
thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”. Dù
Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa, song

không có tư cách pháp nhân, cũng có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác và không hoạt động
thương mại như một nghề.
- Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa
Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa. Nếu hiểu theo nghĩa
thông thường hàng hóa là những sản phẩm lao động do con người tạo ra nhằm mục
đích thỏa mãu nhu cầu của con người. Nhưng theo quy định của pháp luật Việt Nam
tại Khoản 2- Điều 3 LTM 2005:
“ Hàng hóa bao gồm:
- Tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai
- Những vật gắn liền với đất đai.”
Như vậy, có thể thấy đối tượng hàng hóa mà pháp luật Việt Nam quy định bao
gồm: các động sản được lưu thông trên thị trường hoặc bất động sản có thể kể đến
như: nhà cửa, đất đai, ruộng vườn… Các động sản hoặc bất động sản có thể đã hình
thành hoăc sẽ hình thành trong tương lai đều được coi là hàng hóa. Khái niệm này tuy
đã khắc phục được một số những bất cập trong quy định về hàng hóa của LTM 1997
khi quy định hàng hóa bao gồm: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,
hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dưới hình
thức cho thuê hoăc mua bán nhưng vẫn là khá hẹp so với định nghĩa chung về hàng
hóa, đôi khi làm hạn chế các đối tượng hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường.
- Nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa

7


Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện quyền và nghĩa vụ các bên
trong quan hệ mua bán hàng hóa, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển
quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng
hóa và trả tiền cho bên bán. Hành vi mua bán của các bên trong hợp đồng mua bán
hàng hóa là hành vi có tính chất thương mại và nhằm mục đích sinh lời.
Hợp đồng mua bán hàng hóa mang đặc điểm của hợp đồng mua bán tài sản đó là

8


mua bán hàng hóa trong thương mại thì đều cần dựa trên cơ sở quy định của BLDS
2005 về định nghĩa giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa , nên giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa còn chịu sự điều chỉnh của BLDS 2005.
Như vậy, với hợp đồng mua bán hàng hóa, LTM 2005 đóng vai trò là luật riêng
áp dụng, BLDS 2005 là luật chung áp dụng. Trình tự áp dụng luật được tuân theo quy
định chung, áp dụng luật riêng trước, nếu luật riêng không có những quy định có liên
quan thì sẽ áp dụng đến Luật chung tức là áp dụng LTM trước, khi LTM không quy
định những vấn đề có liên quan thì mới áp dung BLDS. Và vấn đề định nghĩa giao kết
hợp đồng trong hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ được phân tích theo quan điểm của Bộ
luật dân sự.
Bên cạnh LTM và BLDS là hai văn bản pháp luật chính điều chỉnh hoạt động
mua bán hàng hóa trong nước thì hợp đồng mua bán hàng hóa còn chịu sự điều chỉnh
của nhiều Nghị định, Thông tư như là:
- Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Chính phủ về sửa đổi, bổ
sungdanh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP
- Nghị định số 54/2009/NĐ-CP ngày 05/06/2009 của Chính phủ Quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm,
hàng hoá.
- Nghị định 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại mua
bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán gia công và quá cảnh hàng hóa
với nước ngoài.
Đối với các hoạt động mua bán bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh
luật quốc gia, các chủ thể còn phải chịu sự điều chỉnh của các điều ước quốc tế mà
điển hình là Công ước Viên 1980, các tập quán quốc tế khác về thương mại và hàng
hải.
Theo Khoản 1 – Điều 6 Luật ký kết gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm
2005 về Điều ước quốc tế và quy định của pháp luật trong nước

đồng nếu có thiệt hại phát sinh.”
Ta thấy rằng theo điều 390, BLDS 2005 thì :
Thứ nhất, đề nghị đó phải được xác định cụ thể. Thông thường một đề nghị được
coi là xác định nếu có chứa các nội dung của hợp đồng tương lai. Bất kỳ sự không xác
định nào liên quan đến nội dung của hợp đồng tương lai, quyền và nghĩa vụ cũng như
đối tượng của hợp đồng đều có thể dẫn đến các cách hiểu khác nhau về nội dung của
đề nghị gia kết hợp đồng và điều này có thể làm cho đề nghị giao kết hợp đồng mất đi
chức năng, mục đích của một đề nghị.
Thứ hai, Về nguyên tắc, khi đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị sẽ
bị ràng buộc bởi lời đề nghị của mình trong một thời hạn nhất định.Tuy nhiên, đây mới
chỉ là trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng với người thứ ba cùng với một nội
dung, một điều kiện với nội dung đề nghị với người được đề nghị mà không giao kết
hợp đồng. Điều luật không khẳng định rõ mức độ ràng buộc của bên đề nghị với lời
đề nghị. Tuy nhiên cũng thể hiểu rằng khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị
giao kết hợp đồng, theo đúng nội dung, điều kiện và thời gian mà bên đề nghị đưa ra
thì bên đề nghị không bắt buộc phải thực hiện việc giao kết hợp đồng vì hợp đồng
chưa được ký kết giữa các bên nên chưa có cơ sở pháp lý để bắt buộc các bên thực
hiện nghĩa vụ, và bên đề nghị vẫn có quyền lựa chọn đối tác của mình. Mặc dù đã đưa
10


ra lời đề nghị giao kết hợp đồng dân sự nhưng bên đề nghị vẫn có quyền lựa chọn ký
kết hoặc không ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, bên đề nghị cũng không thể tùy tiện thay
đổi, rút lại hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng, mà tuân theo quy định tại điều 392,
393 Bộ luật dân sự năm 2005.
Thứ ba Đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ý chí của mình bằng
lời đề nghị giao kết hợp đồng với một chủ thể nào đó. Đề nghị đó phải là chủ định đích
thực, mong muốn xác lập quan hệ hợp đồng với mục đích làm phát sinh các quyền và
nghĩa vụ dân sự.Sự đề nghị có thể riêng cho một hoặc nhiều chủ thể, như một người
muốn bán một tài sản nào đó đề nghị cụ thể với người muốn mua với những điều kiện

c. Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các
phương thức khác. “
Ta thấy theo như điều 391, BLDS 2005 nêu trên thì
Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực trước tiên do bên đề nghị ấn
định. Nếu bên đề nghị không ấn định thì thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu
lực được xác định từ thời điểm bên đề nghị nhận được đề nghị đó.
Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú của cá nhân, hoặc trụ sở của pháp nhân.
Đây là hình thức được thực hiện bằng văn bản được chuyển theo cách thông thường
mà bên đề nghị tự mình hoặc cử người mang đến hoặc chuyển qua bưu điện đến nơi cư
trú của cá nhân, hoặc trụ sở của pháp nhân. Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp
đồng được thực hiện trực tiếp, bên đề nghị trực tiếp trao đổi ( gặp mặt hoặc qua điện
thoại) thì thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định từ thời điểm
có cuộc điện thoại đó, hoặc buổi làm đó. Tất nhiên, trong thực tế, có trường hợp xác
định được chính xác giờ, phút trao đổi, nhưng cũng có trường hợp không thể xác định
được chính xác, trong trường hợp này thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực
được tính bằng ngày có cuộc trao đổi để bên đề nghị đưa ra trả lời đề nghị
Điểm a khoản 2 Điều 391 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: được coi là đã
chấp nhận được đề nghị giao kết hợp đồng khi đè nghị được chuyển đến trụ sở của
pháp nhân. Tuy nhiên, trên thực tế có những tổ chức có trụ sở riêng tại một địa điểm
cố định không phải là pháp nhân nhưng vẫn có tư cách chủ thể tham gia ký kết hợp
đồng dân sự.
- Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 392 BLDS 2005 quy định về Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết
hợp đồng thì “. Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết
hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề
nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị;
b) Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị
có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh.
2. Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề

được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng “
Về điều kiện, đối với rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị có quyền
thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong hai trường hợp: 1. Bên được đề
nghị chưa nhận được đề nghị hoặc nhận được đề nghị trùng với thời điểm nhận được
thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị; 2. Bên đề nghị nêu rõ điều kiện thay
đổi hoặc rút lại đề nghị và điều kiện này phát sinh. Đối với hủy bỏ đề nghị giao kết
hợp đồng, bên đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp
nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Về thời điểm nhận được thông báo, bên được đề nghị có thể nhận được thông
báo rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trước hoặc cùng thời điểm nhận được đề nghị
gioa kết. Còn trong trường hợp hủy bỏ hợp đồng, bên được đề nghị phải chấp nhận
được thông báo hủy bỏ đề nghị trước thời điểm nhận được đề nghị giao kết.
Về hậu quả pháp lý, sau khi rút lại đề nghị, bên đề nghị có thể không giao kết
hợp đồng với bên được đề nghị nữa hoặc bên đề nghị thay thế đề nghị ban đầu bằng
13


một đề nghị mới. Còn sau khi hủy bỏ đề nghị, bên đề nghị không tiếp tục đề nghị giao
kết với bên được đề nghị này nữa.
- Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 394 Bộ luật dân sự 2005 quy định về Chấm dứt đề nghị giao
kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
“ 1. Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận;
2. Hết thời hạn trả lời chấp nhận;
3. Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực;
4. Khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực;
5. Theo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờ
bên được đề nghị trả lời.”
Đề nghị giao kết hợp đồng ràng buộc người đề nghị trong thời hạn đã nêu trong

Căn cứ theo Điều 397 BLDS 2005, khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì
việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó, nếu bên đề
nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này
được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do
khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo
chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay
không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.
Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại
hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận
hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời.
- Rút lại thông báo trả lời chấp nhận:
Căn cứ theo Điều 400 BLDS 2005, bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể
rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng
với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
1.2.1.4 Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Tự do thỏa thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng trong giao kết hợp
đồng. Điều này có nghĩa, các bên được tự do lựa chọn hình thức phù hợp khi giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, tự do lựa chọn trong khuôn khổ pháp luật cho
phép.
Về nguyên tắc, hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải phù hợp với
hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa. LTM 2005 không quy định hình thức giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa, song có thể dựa vào quy định của LTM 2005 về hình
thức hợp đồng mua bán hàng hóa để xác định hình thức giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 24 LTM 2005 quy định, hình thức của hợp đồng mua
bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi
cụ thể. Do đó, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được xác lập dưới ba hình
thức: lời nói, văn bản hoặc hành vi.
- Đối với giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập bằng hình thức lời

xã hội. Quyền tự do kinh doanh là một phần hợp thành đóng vai trò quan trọng trong
hệ thống các quyền tự do của con người. Giá trị của quyền tự do kinh doanh được thể
hiện ở chỗ, mọi chủ thể trong nền kinh tế đều được tự do hoạt động kinh doanh của
mình theo khuôn khổ của pháp luật.
Dưới góc độ chủ thể, quyền tự do kinh doanh là khả năng hành động có ý thức
của các chủ thể trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong quá trình tồn tại
và phát triển. Quyền tự do kinh doanh bao gồm các khả năng mà cá nhân, pháp nhân
có thể xử sự như: Tự do đầu tư vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn mô hình
tổ chức kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập quan hệ kinh doanh, tự do cạnh
tranh, tự do lựa chọn giải quyết phương thức tranh chấp trong kinh doanh,...

16


Dưới góc độ là một chế định pháp luật, quyền tự do kinh doanh là một chế định
pháp luật bao gồm hệ thống các quy định pháp luật và những bảo đảm pháp lý do Nhà
nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền tự do kinh doanh.
Như vậy, quyền tự do kinh doanh một mặt bao gồm những quyền mà các chủ thể
kinh doanh được hưởng, mặt khác là trách nhiệm của Nhà nước khi thực hiện chức
năng quản lý của mình. Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là một trong các
hoạt động kinh doanh. Do đó được hưởng các quyền cũng như chịu trách nhiệm quản
lý của Nhà nước theo nguyên tắc tự do kinh doanh.
1.3.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật hay còn gọi là nguyên tắc bính đẳng về
quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng nói chung và quan hệ hợp đồng mua bán
hàng hóa nói riêng hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và nghía vụ. Quyền và
nghĩa vụ của mỗi chủ thể bao giờ cũng tương xứng với nhau, quyền của bên này là
nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Điều này thể hiện ở chỗ khi đàm phán để ký kết
hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên đều có quyền đưa ra những yêu cầu của mình và

rằng bên bán có quyền sở hữu hợp pháp, có quyền định đoạt và đem ra trao đổi, mua
bán đối với hàng hóa đó.
1.3.4 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật,
đạo đức xã hội
Trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa các bên tham gia ký kết hợp đồng
mua bán hàng hóa có quyền tự do thoả thuận các điều khoản của hợp đồng. Pháp luật
hợp đồng mua bán hàng hóa tôn trọng ý chí của các bên. Tuy nhiên ý chí của các bên
chỉ được tôn trọng nếu ý chí đó phù hợp với pháp luật. Điều đó có nghĩa là các bên có
quyền thoả thuận nhưng mọi thoả thuận trong hợp đồng không được vi phạm điều cấm
của pháp luật, phải phù hợp với các quy định của pháp luật.
Quyền tự do giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất: Tự do lựa chọn bạn hàng.
Thứ hai: Tự do thoả thuận các điều khoản trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
Thứ ba: Tự do lựa chọn thời điểm giao kết hợp đồng mua ban hàng hóa.
Thứ tư: Tự do lựa chọn địa điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Tuy nhiên quyền tự do giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa bị giới hạn bởi các
điều kiện:
Thứ nhất: Việc ký kết hợp đồng phải phục vụ cho hoạt động kinh doanh đã đăng ký.
Thứ hai: Các bên không được lợi dụng quyền tự do giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa để hoạt động trái pháp luật, đi ngược lại đạo đức xã hội vốn có.
1.3.5 Nguyên tắc tự nguyện
Nguyên tắc này được quy định nhằm đảm bảo trong việc giao kết hợp đồng
không bị ai cưỡng ép, thể hiện bản chất của quan hệ mua bán hàng hóa dựa trên sự
bình đẳng. Các cá nhân, tổ chức, các chủ thể trong nền kinh tế có quyền tự do cam kết,
thỏa thuận nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa, được
pháp luật bảo đảm nếu cam kết, thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật và
không trái với đạo đức xã hội. Các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp
đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa hay ngăn cản bên nào.

18

hình thành được nền tảng tư duy mới mẻ trong công tác quản lý nhà nước về giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa. Trong mọi nền kinh tế thì quan hệ mua bán hàng hóa
luôn đóng vai trò quan trọng. Bởi đó là một khâu đảm bảo cho việc sản xuất được diễn
ra suôn sẻ- hàng sản xuất ra được tiêu thụ. Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa ngày
càng quan trọng, việc giao kết hợp đồng mua bán được diễn ra rất rộng rãi và ngày
càng được chú ý. Thông qua việc giao kết hợp đồng, người sản xuất có thể nắm bắt
được nhu cầu thì trường về sản phẩm của mình và kiểm tra tính thực hiện của kế hoạch
sản xuất kinh doanh có phù hợp với nhu cầu thị trường hay qua quá trình giao kết hợp
đồng các chủ thể chủ động cân nhắc để đạt được quyền lợi tối đa.
Là một chủ thể trong nền kinh tế, hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần hệ
thống 1-V tuân theo các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa cũng
như giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Cũng như thông qua việc giao kết hợp đồng
của Công ty Cổ phần hệ thống 1-V với các doanh nghiệp khác , khi giao kết hợp đồng
đúng quy định của pháp luật thì đó là căn cứ pháp lý để đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên tham giao giao kết hợp đồng.
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa.
2.1.1.1 Nhân tố kinh tế
Nhờ thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, hợp tác với tất cả các nước trên thế
giớ trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 176 quốc
gia trên thế giới, có quan hệ kinh tế với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ và có
khoảng 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Trong đó có
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status