(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lĩnh vực đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN HUỲNH ANH VŨ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LĨNH VỰC ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN HUỲNH ANH VŨ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LĨNH VỰC ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS NGUYỄN HỮU MINH

HÀ NỘI - 2019



2.3. Thực trạng năng lực ảnh hưởng việc thực hiện chính sách lồng ghép
giới trong dự án ............................................................................................ 37
2.3.1. Năng lực xây dựng kế hoạch lồng ghép giới .................................. 37
2.3.2. Năng lực phổ biến, tuyên truyền chính sách bình đẳng giới và lồng
ghép giới ................................................................................................... 38
2.3.3. Năng lực phối hợp thực hiện chính sách lồng ghép giới ................ 38
2.3.4. Năng lực duy trì việc lồng ghép giới .............................................. 39
2.3.5. Năng lực điều chỉnh chính sách lồng ghép giới ............................. 39
2.4. Đánh giá chung về thực hiện chính sách lồng ghép giới trong dự án .. 39
2.4.1. Mặt được ......................................................................................... 39
2.4.2. Mặt hạn chế ..................................................................................... 40
2.5. Nguyên nhân của những hạn chế .......................................................... 41
Chương 3: NHẬN ĐỊNH VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH
ĐẲNG GIỚI – ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP....................................................... 43
3.1. Nhận định việc thực hiện chính sách bình đẳng giới. ........................... 43
3.2. Các giải pháp thúc đẩy thực hiện chính sách bình đẳng giới nói chung
...................................................................................................................... 50
3.2.1 Giải pháp chung ............................................................................... 50
3.2.2. Đối với thành phố Hồ Chí Minh ..................................................... 52
3.3. Các giải pháp thúc đẩy thực hiện chính sách bình đẳng giới và chính
sách lồng ghép giới ở dự án đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh.. 54
3.4. Một số kiến nghị ................................................................................... 56
3.4.1. Đối với Trung ương ........................................................................ 56
3.4.2. Đối với Thành phố Hồ Chí Minh.................................................... 56
3.4.3. Đối với Lãnh đạo Ban ..................................................................... 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC BẢNG

việc thực hiện bình đẳng giới. Như vậy, mục tiêu của Bình đẳng giới cụ thể:
(i) không còn phân biệt đối xử trên cơ sở giới; (ii) ghi nhận sự khác biệt, trên
cơ sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho nam, nữ phát huy tối đa khả năng của họ
và (iii) tạo quan hệ, hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội và gia đình. Trong năm 2015, thế giới đã đề ra một chương trình
hành động nhằm chấm dứt nghèo đói, đấu tranh với bất bình đẳng và thúc đẩy
1


sự thịnh vượng đồng thời bảo vệ môi trường vào năm 2030. Các mục tiêu
phát triển bền vững đã được các nhà lãnh đạo thế giới chính thức thông qua
tại Hội Nghị Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Chương trình nghị sự phát
triển sau năm 2015. Các mục tiêu phát triển đặt ra cho chúng ta một chương
trình hành động nhằm giảm nghèo, đói, bệnh tật, bình đẳng giới và bảo đảm
khả năng tiếp cận nước sạch và vệ sinh trước năm 2015. Đồng thời Chính phủ
nhiều nước trên thế giới đã nỗ lực thực hiện mục tiêu đạt được bình đẳng giới
và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái.
Chính phủ Việt Nam thực hiện Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới
giai đoạn 2011-2020 nhằm nỗ lực thu hẹp dần khoảng cách về giới; nâng cao
tiếng nói của phụ nữ trong việc ra quyết định, lãnh đạo và xây dựng hoà bình;
thúc đẩy trao quyền kinh tế cho phụ nữ và chấm dứt bạo lực với phụ nữ và trẻ
em gái. Việt Nam là một trong số các nước có nhiều thành tựu về thực hiện
bình đẳng giới đã được ghi nhận, như: xây dựng và ban hành văn bản pháp
quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới; bình đẳng nam nữ và nâng cao vị
thế cho phụ nữ, một trong 3 mục tiêu thiên niên kỷ (MDG 2013), được Việt
Nam hoàn thành trước thời hạn năm 2015, đưa Việt Nam trở thành một trong
những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua;
Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực
và thế giới (tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội khóa XIV (2016-2021) đạt
26,8%) [6]. Đây là những con số rất có ý nghĩa, bởi việc thực hiện bình đẳng

2. Tình hình nghiên cứu của luận văn
Vấn đề Bình đẳng giới được phần lớn các nhà nghiên cứu quan tâm,
các nghiên cứu thường đi sâu vào các lĩnh vực cụ thể. Dường như chưa có
nghiên cứu nào tập trung vào việc thực hiện chính sách bình đẳng giới, lồng
ghép giới. Đồng thời, việc lồng ghép giới vào các lĩnh vực đời sống xã hội
cũng còn mang nặng tính lý thuyết chưa thể triển khai thực hiện.

3


Về bình đẳng giới, có một số công trình nghiên cứu cụ thể: Lê Thị Quý
[16] với nghiên cứu “Bình Đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” tập trung làm rõ
khái niệm về bình đẳng giới, đồng thời phân tích những thành tựu và thách
thức về bình đẳng giới ở Việt Nam; Phạm Thị Tuyết [20] có nghiên cứu
“Bình đẳng giới trong giáo dục ở Trà Vinh, Thực trạng và giải pháp”, tập
trung phân tích bình đẳng giới trong một lĩnh vực cụ thể gắn với một địa bàn
cụ thể là giáo dục ở tỉnh Trà Vinh. Tương tự với đề tài này, Mạc Thị Cẩm Tú
[18] có nghiên cứu “Bình đẳng giới trong giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh
- Thực trạng và giải pháp”.
Ngoài ra còn có thể kể ra một số nghiên cứu khác. Các tác giả Đỗ Thị
Bình, Lê Ngọc Văn và Nguyễn Linh Khiếu [5] có nghiên cứu Gia đình Việt
Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Trần Thị Minh Đức [8] có nghiên cứu “Định kiến và phân biệt đối
xử theo giới: lý thuyết và thực tiễn”. Phạm Thị Ngọc Anh [1] có nghiên cứu
“Vai trò giới và lượng hóa giá trị lao động gia đình”. Nguyễn Thị Ngân có
nghiên cứu “Thực hiện quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về
bình đẳng giới” [10] và “Chủ trương của Đảng, Nhà nước về giải phóng phụ
nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam” [9]. Ngoài ra còn có “Báo cáo phát triển
thế giới 2012: Bình đẳng giới và phát triển” của Ngân hàng thế giới [12].
Về thực hiện chính sách lồng ghép giới, đa phần là các buổi thảo luận,

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá việc thực hiện chính sách
bình đẳng giới và lồng ghép giới trong lĩnh vực đường sắt đô thị tại thành phố
Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả
hơn, tốt hơn việc thực hiện chính sách bình đẳng giới và lồng ghép giới trong
các dự án đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh.

5


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách bình đẳng giới
trong lĩnh vực đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là Dự án
Xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố Hồ Chí Minh, đoạn Bến Thành
– Tham Lương (gọi tắt là Dự án tuyến số 2).
Phạm vi nghiên cứu về nội dung: thực hiện chính sách bình đẳng giới
trong lĩnh vực đường sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu, phân
tích thực hiện chính sách bình đẳng giới thông qua hoạt động thực hiện chính
sách lồng ghép giới vào lĩnh vực bồi thường giải phóng mặt bằng dự án; vào
nhiệm vụ của Tư vấn Quản lý dự án và Tư vấn giới.
Phạm vi về thời gian:
- Thời gian thu thập số liệu thứ cấp: các năm 2011, năm 2012.
- Cập nhật các số liệu thứ cấp: từ năm 2016 đến năm 2018.
Phạm vi về không gian: Dự án Xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2
thành phố Hồ Chí Minh, đoạn Bến Thành – Tham Lương
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích các số
liệu thu thập thứ cấp. Trong những tài liệu thứ cấp này, tác giả sử dụng 04
Báo cáo chính để thu thập nhiều số liệu quan trọng về thực hiện chính sách
bình đẳng giới bao gồm: Kế hoạch tái định cư cập nhật của dự án năm 2012;
Kế hoạch tái định cư cập nhật trên địa bàn quận 1 tháng 02 năm 2018; Báo

sách bình đẳng giới và Lồng ghép giới.
- Chương 2. Phân tích thực hiện chính sách lồng ghép giới đối với Dự
án Xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 thành phố Hồ Chí Minh, đoạn Bến
Thành – Tham Lương.
- Chương 3. Nhận định việc thực hiện chính sách bình đẳng giới – Đề
xuất giải pháp

7


Chương 1
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI, THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ LỒNG GHÉP GIỚI
1.1. Các khái niệm bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giới
1.1.1. Khái niệm bình đẳng giới
Tìm hiểu về nguồn gốc khái niệm bình đẳng giới, chúng ta đề cập ngay
Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1981
(The Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination Against
Women - CEDAW) [7] đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc phê chuẩn vào
ngày 18 tháng 12 năm 1979. Tuy nhiên, đến năm 1981 Công ước này bắt đầu
có hiệu lực, một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền con người của phụ
nữ. Theo Ủy ban CEDAW, tính đến tháng 3 năm 2005 đã có 180 quốc gia
trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết Công ước, chiếm hơn 90% thành viên
Liên Hợp Quốc.
Ở Việt Nam, nội dung về bình đẳng giới được đề cập khá sớm trước đó,
cụ thể: trong Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
năm 1946 [13], bình đẳng giới thể hiện bằng nội dung “không phân biệt giống
nòi, gái trai” (Điều 1) và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương
diện” (Điều 9). Dần dần nội dung bình đẳng giới rõ ràng hơn qua các lần sửa
đổi Hiến pháp (năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013), theo Điều 26

khái niệm bao quát về bình đẳng giới vẫn là việc nam, nữ có vị trí, vai trò
ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự
phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả
của sự phát triển đó.
1.1.2. Khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới
Theo Giáo trình giảng dạy môn thực hiện chính sách công của tác giả
Phan Anh Tuấn [19], thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình

9


chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể
tồn tại. Thực hiện chính sách là một hệ thống nhất - nhất là với hoạch định
chính sách.
Ý nghĩa quan trọng của thực hiện chính sách công là giai đoạn biến ý
đồ chính sách thành hiện thực hay có thể nhìn nhận rằng thực hiện chính sách
là giai đoạn biến thái độ ứng xử của nhà nước với các đối tượng quản lý thành
hiện thực.
Xét về vị trí và vai trò thì thực hiện chính sách công có vai trò vị trí đặc
biệt quan trọng, là bước thực hiện hóa chính sách trong đời sống xã hội.
Tổ chức thực hiện chính sách tốt không những mang lại lợi ích to lớn
cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà
nước trong quá trình quản lý xã hội.
Để có được một chính sách tốt, các nhà hoạch định phải trải qua một
quá trình nghiên cứu, tìm kiếm công phu. Nhưng dù tốt đến đâu chính sách
cũng trở thành vô nghĩa nếu nó không được đưa vào thực hiện.
Sẽ có 4 khả năng xảy ra khi thực hiện chính sách công: Chính sách
công tốt và thực hiện tốt dẫn đền thành công; Chính sách công tốt, nhưng thực
hiện tồi dẫn đến thất bại; Chính sách công tồi, nhưng thực hiện tốt dẫn đến
thành công; Chính sách công tồi và thực hiện tồi dẫn đến thất bại kép.

minh. Vì thế, bình đẳng giới là một yêu cầu khách quan, một mục tiêu quan
trọng cần hướng đến không chỉ của Việt Nam, mà của toàn nhân loại. Nhận
thức được điều này nên bình đẳng giới đang là vấn đề quan tâm của toàn nhân
loại trong đó có Việt Nam [6], chính vì vậy mà việc thực hiện chính sách bình
đẳng giới phải tuân thủ và đảm bảo một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, yêu cầu thực hiện mục tiêu chính sách, muốn đạt yêu cầu này
phải đảm bảo các hoạt động cụ thể:
- Truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bình đẳng giới
để có thể đạt mục tiêu là bao nhiêu cán bộ, công chức, viên chức; sỹ quan, hạ

11


sỹ quan, chiến sỹ trong lực lượng vũ trang các cấp; người lao động; sinh viên,
học sinh các cấp; các cụm dân cư trên địa bàn được tuyên truyền nâng cao
nhận thức về giới, bình đẳng giới và công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
- Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới để
có thể đạt mục tiêu là cán bộ làm công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ phụ
nữ, cán bộ tham mưu hoạch định chính sách và cán bộ làm công tác pháp chế
ở các địa phương, đơn vị được tập huấn kiến thức, kỹ năng hoạt động bình
đẳng giới.
- Nâng cao năng lực Hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới trong những lĩnh
vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ cao về
bất bình đẳng giới
Thứ hai, yêu cầu bảo đảm tính hệ thống. Chính sách bình đẳng giới nêu
trên được tổ chức thực thi chính sách đã kết hợp chặt chẽ với các bộ phận
khác trong chu trình tạo nên một hệ thống thống nhất, cụ thể:
- Hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách;
- Hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức thực thi chính sách;

cải thiện sinh kế của mình. Lồng ghép giới có thể bao gồm hoặc được bổ sung
bởi các dự án định hướng giới rõ ràng nhằm mục tiêu cụ thể vào người phụ nữ
hoặc nam giới. Khi mà tình trạng phân biệt đối xử về xã hội thường gây cản
trở người phụ nữ tham gia vào hoạt động ra quyết định hoặc hưởng lợi từ
những công nghệ hiệu quả thì các biện pháp trao quyền cho phụ nữ có thể đạt
được mục tiêu bình đẳng giới. Những cân nhắc giới, chẳng hạn như sự cần
thiết phải trao quyền cho phụ nữ, cần phải được lồng ghép vào các chính sách
và dự án.
Theo định nghĩa khác, lồng ghép giới là biện pháp nhằm thực hiện mục
tiêu chính sách bình đẳng giới. Đó là việc tính đến nhu cầu và mối quan tâm
của nữ và nam trong quá trình xậy dựng, thực hiện và kiểm tra, giám sát từng

13


chính sách, chương trình, dự án nhằm xóa bỏ các biểu hiện bất bình đẳng nam
nữ.
Lồng ghép giới: (i) giúp cải thiện quản trị nhà nước và là thành tố trung
tâm của phát triển bền vững, (ii) cho phép tất cả mọi thành viên của xã hội
được hưởng lợi từ phát triển, (iii) tận dụng tối đa nguồn nhân lực của một
quốc gia và khai thác tiềm năng còn tiềm ẩn (của phụ nữ), và (iv) tăng cường
công bằng và bình đẳng.
Theo lý luận trên, thực hiện chính sách lồng ghép giới vào dự án đường
sắt đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh là biện pháp nhằm giúp nam, nữ liên
quan đến dự án phát huy được tối đa năng lực của bản thân, đảm bảo được
quyền bình đẳng của họ trong thay đổi và cải thiện sinh kế.
1.4. Các bước thực hiện lồng ghép giới
Để lồng ghép giới vào chính sách, chương trình, hoạt động cần thực
hiện các bước Phân tích giới, Lập kế hoạch giới và Thực hiện, giám sát và
đánh giá lồng ghép giới.

- Giám sát và đánh giá quá trình và kết quả thực hiện lồng ghép giới;
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách lồng ghép
giới dự án
Việc thực hiện chính sách lồng ghép giới dự án chịu chi phối bởi nhiều
yếu tố dự án, đặc điểm của đối tượng thụ hưởng dự án (người dân bị ảnh
hưởng, người hưởng lợi khi dự án hoàn thành,… ) và năng lực của chủ thể
thực hiện chính sách lồng ghép giới (đơn vị tư vấn, chuyên gia về giới và cán
bộ phụ trách về giới).
1.5.1. Năng lực thực hiện chính sách nói chung
Vấn đề tiềm lực về tài chính được đề cập như một trong số các nội
dung then chốt, tiếp đó là về con người, tổ chức được sử dụng trong quá trình
thực hiện chính sách.

15


Theo bài viết “Năng lực thực hiện chính sách công - những vấn đề lý
luận và thực tiễn” của PGS.TS. Văn Tất Thu - Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ
trên Tạp chí Tổ chức nhà nước năm 2016: “Thực hiện chính sách là một khâu
cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ
thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu
nhất định” [17].
Nói đến chu trình chính sách công là chuỗi các giai đoạn kế tiếp liên
quan tới nhau từ khi vấn đề công được đề xuất cho tới khi kết quả được ghi
nhận và đánh giá. Có thể ghi nhận các giai đoạn cụ thể:
- Khởi sự chính sách: xác định vấn đề và đưa vào chương trình ban
hành chính sách. Giai đoạn này lấy ý kiến rộng rãi để tiến hành các bước tiếp
theo.
- Xây dựng chính sách: xây dựng và đưa ra các quyết định chính sách.
Các cơ quan đơn vị chuyên môn phân tích, xác định mục tiêu chính sách, giải

Đối với việc thực hiện lồng ghép giới, ngoài chủ thể thực hiện chính là
cơ quan nhà nước, còn có cả sự tham gia thường xuyên và liên tục của cơ
quan, tổ chức phi chính phủ, các đoàn thể, trong đó vai trò quan trọng thuộc
về Hội liên hiệp phụ nữ.
Trên thực tế nhiều chính sách trong quá trình thực hiện chính sách gặp
những khó khăn nhất định, năng lực tham mưu đề xuất các giải pháp, biện
pháp duy trì bảo đảm cho chính sách tồn tại và phát huy tác dụng là vô cùng
quan trọng.
Đó là mức độ am hiểu về chính sách phát và tiềm lực về tài chính, con
người (tư vấn về giới, cán bộ phụ trách về giới), tổ chức (Ban quản lý dự án)
được sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách này.

17


1.5.2. Đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách
Đối tượng hưởng lợi là chủ thể không thể thiếu trong việc thực thi
chính sách. Đối với dự án tuyến số 2, Tư vấn về giới sẽ xem xét đánh giá tác
động xã hội và xác định chương trình chi tiết giải quyết các vấn đề về xã hội
và giới được ghi nhận; chuyên gia tái định cư sẽ khảo sát tham vấn các vấn đề
kinh tế xã hội bao gồm nội dung liên quan đến giới để chính sách phù hợp đối
tượng bị thu hồi đất.
Tiểu kết chương 1.
Trong Chương 1, tác giả tập trung trình bày khái niệm bình đẳng giới,
thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lĩnh vực đường sắt đô thị tại thành
phố Hồ Chí Minh. Thực hiện chính sách bình đẳng giới trong dự án đảm bảo
các yêu cầu như (1) đảm bảo yêu cầu có sự tham gia của đối tượng trong dự
án; (2) đảm bảo yêu cầu lồng ghép trong các hoạt động của dự án như bồi
thường, thi công; (3) đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên và liên tục
của các đơn vị tham gia dự án; (4) đảm bảo việc sử dụng linh hoạt và hiệu quả

Tái thiết Đức (Kreditanstalt für Wiederaufbau – KfW): 313 triệu USD, Ngân
hàng Đầu tư Châu Âu (European Investment Bank – EIB): 195 triệu và Chính
phủ Việt Nam: 326,5 triệu USD.
Dự án có 11 ga, trong đó 10 ga ngầm, 1 ga trên cao (ga Tân Bình) và 2
đoạn đào hở. Dự án thu hồi 249.777,1m2 đất, trong đó, đất thuộc sở hữu hộ
gia đình, cá nhân, và tổ chức phải bồi thường là 49.326.17m2. Diện tích còn
lại bị ảnh hưởng là đất công.
Việc triển khai dự án sẽ ảnh hưởng đến 602 trường hợp, trong đó 513
hộ cá nhân và 89 tổ chức tại 06 quận của thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm:
Quận 1, Quận 3, Quận 10, quận Tân Bình, quận Tân Phú và Quận 12. Đất ở

19


của 113 trường hợp sẽ bị thu hồi toàn bộ diện tích đất và phải di dời. Các
trường hợp còn lại (489) ảnh hưởng một phần đất, nhà và công trình.
2.2. Tình hình thực hiện lồng ghép giới đối với Dự án tuyến số 2
Từ khi xây dựng chính sách Phụ nữ trong Phát triển vào năm 1985,
Ngân hàng ADB đã nhận thấy cần phải cải tiến chính sách này qua những
kinh nghiệm hoạt động đã tích lũy được. Ngân hàng ADB đã thay đổi từ Phụ
nữ trong phát triển (Women in development – WID) sang Giới và phát triển
(Gender and development – GAD) nhằm làm cho vấn đề giới được nhìn nhận
như một vấn đề có ảnh hưởng xuyên suốt đến toàn bộ các quá trình phát triển
kinh tế và xã hội. Giới và phát triển (GAD) và xu hướng giới do Ngân hàng
ADB xây dựng đã được chấp nhận và thực hiện. Việc sửa đổi Sổ tay điều
hành trong Phụ nữ trong phát triển (WID) sang Giới và phát triển (GAD) đã
được hoàn chỉnh vào tháng 1 năm 1997, Sổ tay điều hành mới hướng dẫn các
bước hoạt động đảm bảo giới được quan tâm và xác định trong tất cả hoạt
động của Ngân hàng ADB. Chính sách GAD của Ngân hàng ADB sẽ coi xu
hướng giới như là chiến lược chính để đạt được sự công bằng giới. Các yếu tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status