VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN ÚT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHMER Ở TỈNH AN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN ÚT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHMER Ở TỈNH AN GIANG
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHÚ VĂN HẲN
Hà Nội - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO .9
1.1. Khái quát về tôn giáo ..........................................................................................9
1.2. Chính sách tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo ...................................13
1.3. Chính sách tôn giáo tại Việt Nam hiện nay .....................................................20
Tiểu kết chương 1 .....................................................................................................24
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI
VỚI ĐỒNG BÀO NGƯỜI KHMER Ở TỈNH AN GIANG ..............................25
2.1. Khái quát về đồng bào người Khmer tỉnh An Giang ......................................25
2.2. Nội dung thực hiện chính sách tôn giáo đối với đồng bào người Khmer tỉnh
An Giang ...................................................................................................................31
2.3. Đánh giá việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer ở tỉnh An
Giang .........................................................................................................................61
Tiểu kết chương 2 .....................................................................................................66
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI KHMER Ở
TỈNH AN GIANG ..................................................................................................67
3.1. Quan điểm cho việc tăng cường hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo đối
với người Khmer ở tỉnh An Giang ..........................................................................67
3.2. Đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả chính sách tôn giáo đối với
đồng bào người Khmer ở tỉnh An Giang ................................................................68
Tiểu kết chương 3 .....................................................................................................77
KẾT LUẬN..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
NQ
: Nghị quyết
PGHH
: Phật giáo Hòa Hảo
TƯ
: Trung ương
TW
: Trung ương
UBND
: Ủy ban nhân dân
UBMTTQVN
: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
UBTVQH
: Ủy ban thường vụ Quốc hội
XHCN
thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng núi, vùng hải đảo và vùng biên giới có
những điều kiện thuận lợi để phát triển và hội nhập; Đảng và chính quyền
tỉnh An Giang đã có những chủ trương, chính sách trong đó đối với các dân
tộc Khmer.
Để nâng cao hiệu quả hơn nữa việc thực hiện chính sách tôn giáo đối
với đồng bào người Khmer theo Phật giáo Nam Tông ở tỉnh An Giang, phát
huy những mặt tích cực, xây dựng niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, huy
động được đông đảo đồng bào Khmer theo đạo vào sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, qua đó đáp ứng được ước nguyện sống “tốt đời đẹp đạo”
của đông đảo đồng bào Khmer. Hơn nữa, chiến lược “diễn biến hòa bình”
của các thế lực thù địch đã và đang tìm cách khống chế, xóa bỏ chế độ xã
hội chủ nghĩa. Tôn giáo là vấn đề mà các thế lực thù địch luôn lợi dụng để
công kích, tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, để
đòi ly khai, tự trị gây chia rẻ đại đoàn kết dân tộc. Đề tài “Thực hiện chính
sách tôn giáo đối với người Khmer ở tỉnh An Giang” được làm đề tài luận
văn tốt nghiệp nhằm có những hiểu biết đầy đủ, đánh giá khoa học những
thành tựu đã đạt được trong công tác tôn giáo, thực hiện chính sách đối với
đồng bào có đạo, cụ thể đối với cộng đồng Khmer theo Phật giáo Nam
Tông ở An Giang, từ đó có thể có những đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao công tác thực hiện chính sách tôn giáo đối với đồng bào Khmer ở
An Giang.
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều bài báo khoa học, luận văn viết về đề tài này, nhưng ở
các địa phương khác nhau và nhiều góc độ khác nhau.
Công tác quản lý của Nhà nước đối với Phật giáo Nam Tông Khmer
ở An Giang, Ban Tôn giáo An Giang, 2008. Trong đó, trong nghiên cứu
của mình tác giả đã nêu lên tình hình hoạt động của Phật giáo Nam Tông
đoàn kết đấu tranh của các dân tộc trong vùng nhằm chống áp bức, chống
xâm lược bảo vệ quê hương, bảo vệ Tổ quốc từ trước khi Đảng Cộng sản
Việt Nam thành lập cho đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975).
Tác giả Phạm Phương Hoa (2013) với Bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng và tự do tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay, (Luận văn
Thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội), cung cấp những tri
thức khoa học cơ bản về quyền của người có tín ngưỡng, tôn giáo; pháp luật
về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật quốc tế; giúp người đọc
nhận thức rõ hơn quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước Việt Nam. Luận văn nêu lên thực trạng và những bất cập
trong việc bảo đảm thực hiện quyền của người có tín ngưỡng, tôn giáo ở
Việt Nam, từ đó nêu ra một số giải pháp cho việc bảo đảm thực hiện quyền
của người có tín ngưỡng, có tôn giáo ở Việt Nam [41].
Tác giả Vũ Hoàng Hải (2016), Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực
tiễn tỉnh Phú Thọ (luận văn Thạc sĩ chính sách công, Học viện KHXHVN),
căn cứ vào cơ sở lý luận, thực tiễn của việc ban hành và thực hiện chính
sách tôn giáo được nghiên cứu, tìm hiểu và làm rõ những thành tựu cũng
3
như những hạn chế trong công tác thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Phú
Thọ [34].
Ngoài ra còn nhiều bài viết đã đề cập đến quan điểm, đường lối của
Đảng và Nhà nước ta, nhất là trong thời kỳ đổi mới, trong đó là các bài
viết: Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo – Chính sách nhất quán của
Đảng và Nhà nước của Đặng Tài Tính (Công tác tôn giáo, số 1/2005); Trở
lại những quan điểm đổi mới về tôn giáo của Nghị quyết 24 của Nguyễn
Thanh Xuân (Công tác tôn giáo, số 2/2005); Quá trình nhận thức của Đảng
Khmer trên địa bàn tỉnh An Giang.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những
nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính
sách tôn giáo;
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với
người Khmer ở tỉnh An Giang dưới góc độ khoa học chính sách công.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách tôn giáo đối
với người Khmer ở tỉnh An Giang.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách tôn giáo đối với
người Khmer và thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer cụ thể
ở An Giang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
5
Đề tài tập trung nghiên cứu các chính sách tôn giáo đối với người
Khmer và việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer tại tỉnh
An Giang giai đoạn từ đổi mới đến nay (1986-2018).
5. Cơ sở luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở luận
Luận văn dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà
nước về tôn giáo, về hoạt động tôn giáo cụ thể đối với đồng bào Khmer ở
An Giang, các cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khoa học
chính sách công.
Ngoài ra những cơ sở lý luận thuộc chuyên ngành dân tộc học, nhân
phân công phối hợp thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer;
đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm từ đó cung cấp những vấn đề có giá trị
tham khảo cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo đối với
người Khmer ở tỉnh An Giang. Luận văn cung cấp thông tin khách quan cho
các cơ quan, ban, ngành về công tác dân tộc trong quá trình hoạch định và
thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer ở tỉnh An Giang.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn được bố cục theo 03
chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách tôn giáo ở
người Khmer tỉnh An Giang.
7
Chương 2: Việc thực hiện chính sách đối với người Khmer ở tỉnh An
Giang.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện
chính sách tôn giáo đối với người Khmer ở tỉnh An Giang.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI
VỚI ĐỒNG BÀO NGƯỜI KHMER
1.1. Khái quát về tôn giáo
1.1.1. Một số hiểu biết liên quan tôn giáo
Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh
và con người” [17, tr.12]. Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo:
nào có sức mạnh tài chính hơn, biết sử dụng nguồn tiền một cách hợp lý để
giúp đỡ tín đồ, thì dễ dàng lấy được lòng tin của họ. Một mặt tôn giáo sẽ
nâng cao hiệu lực quản lý, làm xã hội ổn định hơn; nhưng ngược lại, tôn
giáo cũng có thể phá vỡ tính ổn định xã hội, phá vỡ trật tự được định ra từ
trước, gây ra những bất ổn xã hội. Tôn giáo vừa có lợi và vừa có hại đối
với quản lý xã hội.
1.1.2. Tôn giáo với ổn định chính trị và phát triển cộng đồng hiện
nay
Châu Âu vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ thứ XX đã chứng kiến sự
xuất hiện của nhiều nhóm giáo phái tôn giáo mới có nguồn gốc khác nhau
từ Kitô giáo, các tôn giáo phương Đông do người nhập cư mang đến, số
nhóm tôn giáo mới khác lại có xuất xứ từ Mỹ… Hầu hết các quốc gia Châu
Âu đều xuất hiện một vài phong trào tôn giáo mới ngay trong đời sống tôn
giáo của quốc gia mình. Theo tổ chức INFORM có khoảng 3000 tổ chức
tôn giáo mới đang hiện diện ở Châu Âu với số lượng tín đồ khiêm tốn, rất
ít giáo phái có số lượng tới 1000 thành viên. Phản ứng của xã hội Châu Âu
đối với tôn giáo mới là thái độ nghi ngờ và thù địch [26].
10
Theo Sueki Fumhiko, ở Nhật Bản, các tôn giáo mới được hình thành
vào cuối thời Mạc Phủ - Tokugawa mà: “ngày nay người ta gọi tổng thể
những tôn giáo này là Tân tôn giáo (Shin-Shukyo) đối lập với những tôn
giáo có từ trước” [57, tr.255] như các giáo phái Reiyukai (Linh hữu hội),
Gedatsukai (Giải thoát hội), Thiên lý giáo (Tenri-Kyo), Hắc tú giáo
(Kutozumi-Kyo), Kim Quang giáo (Konko-Kyo). Tuy nhiên, sự chuyển đổi
tôn giáo cũ (trước đó) sang tôn giáo mới ở Nhật Bản chỉ thật sự bùng nổ từ
sau 1945, các học giả Nhật bản thường gọi là: “Thời khắc bùng nổ của các
vị thần” [26]. Việc chuyển đổi tôn giáo ở Nhật Bản, có thể hiểu được
nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa cho sự bùng nổ tôn giáo ở
tiền và sự may rủi của thời buổi kinh tế thị trường đã khiến nhiều người
dân tộc thiểu số đi tìm sự độ trì của lực lượng “siêu nhiên” thông qua sự
cầu xin và cúng dường. Mặt khác, cùng với “diễn biến hòa bình” các tôn
giáo gia tăng ảnh hưởng, các giáo phái nước ngoài thâm nhập ngày càng
nhiều vào các tầng lớp dân cư các tộc người thiểu số ở đây cụ thể đối với
người Khmer (An Giang), đã và đang tác động mạnh mẽ, chứa đựng nhiều
nguy cơ gây mất ổn định xã hội và an ninh quốc gia.
Từ đó, những tác động đến sự phát triển ổn định tôn giáo trong đời
sống xã hội các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Nam Bộ còn thể hiện khá rõ nét
trong các chính sách thực thi về tôn giáo trong thời gian gần đây. Hiện nay,
việc đánh giá về công tác thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo
trong cộng đồng người thiểu số phần nào còn khiên cưỡng và chưa phù hợp
với thực tế khách quan của phát triển vùng. Những biến đổi kinh tế mạnh
mẽ ở Nam Bộ đang dẫn đến những biến đổi về môi trường, xã hội, văn hóa
đặc biệt trong tín ngưỡng, tôn giáo một cách nhanh chóng, kích hoạt những
12
xung lực xã hội tiềm tàng, tạo nên cả cơ hội lẫn thách thức sự ổn định và
khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.
Vì thế, không thể đơn giản hóa các vấn đề tôn giáo bằng cách quy
vào khuôn khổ pháp luật. Việc nghiên cứu, hình thành cơ sở lý thuyết và
chính sách cho tín ngưỡng tôn giáo thật sự khoa học phải xuất phát từ
những nguyên nhân tác động cả bên trong lẫn bên ngoài làm phát sinh hiện
tượng tín ngưỡng tôn giáo là vấn đề quan tâm của nhiều ngành khoa học
nhằm có những đánh giá khách quan để tìm ra những giải pháp phù hợp
cho sự phát triển ổn định, bền vững của đồng bào thiểu số tại chỗ ở Nam
Bộ trong tương lai cụ thể đối với cộng đồng dân tộc Khmer ở An Giang.
1.2. Chính sách tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo
chủ thể trực tiếp tư vấn đề hoạch định, xây dựng chính sách cho Đảng, Nhà
nước còn có các chủ thể trực tiếp và gián tiếp tham gia triển khai, tổ chức,
thực thi chính sách tôn giáo cụ thể có các Bộ, ngành như: Bộ Công An, Bộ
Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng,
Bộ Tài nguyên môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương. Tại Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định
nhiệm vụ các cơ quan là:
Bộ Công an là đơn vị được Nhà nước giao trọng trách quan trọng và
theo nhiệm vụ của mình linh hoạt phối hợp trong công tác đảm bảo về mặt
an ninh tôn giáo, đảm bảo cho các hoạt động tôn giáo được thực hiện theo
đúng các quy định của pháp luật, vừa đảm bảo các hoạt động đó không ảnh
hưởng đến an ninh quốc gia, vừa đảm bảo an toàn, bình thường cho các tổ
14
chức tôn giáo, đồng thời khẳng định nhất quán chính sách tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.
Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam các cấp là đại diện của khối Đại
đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc các cấp dựa vào chức năng nhiệm
vụ của mình phối hợp với các Bộ, Ban, Ngành và UBND các tỉnh tuyên
truyền phổ biến các chủ trương chính sách Tôn giáo, cũng như giám sát
việc thực hiện chính sách tôn giáo từ Trung ương đến địa phương.
1.2.3. Các bước thực hiện chính sách tôn giáo
* Phổ biến thực hiện chính sách
Tuyên truyền phổ biến chính sách tôn giáo là công tác rất quan trọng
là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của việc thực hiện
chính sách. Để quá trình thực thi, thực hiện chính sách tôn giáo diễn ra hiệu
quả cần thường xuyên tổ chức các lớp tuyên truyền chính sách tôn giáo cho
các cơ quan thông tin đại chúng, cán bộ làm công tác tuyên truyền; xây
sách tôn giáo. Để tổng kết và đánh giá chính xác ngoài các tiêu chí còn
phải căn cứ vào các nguyên tắc đã được xác định, thống nhất giữa các cơ
quan tham gia phối hợp thực hiện chính sách tôn giáo.
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách tôn giáo
1.2.4.1. Các yếu tố khách quan
Thứ nhất, âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng
Việt Nam của các thế lực thù địch.
Trong lịch sử nước ta, vấn đề tôn giáo đã từng bị chủ nghĩa đế quốc
tìm cách triệt để lợi dụng để phục vụ cho âm mưu xâm lược và chống phá
cách mạng Việt Nam. Hiện nay, trong âm mưu “Diễn biến hòa bình” chống
16
phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các thế lực phản động và thù
địch vẫn triệt để lợi dụng tôn giáo như con bài hết sức lợi hại để thực hiện
mục đích đen tối của chúng. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ
nước, cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc,
hòa chung niềm vui và nỗi đau của dân tộc trong những thời khắc lịch sử,
góp phần phát triển và làm rạng rỡ nền văn hóa Việt Nam. Tôn trọng và
phát huy những giá trị nhân văn của tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã
được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2018. Đây là cơ sở để
các tôn giáo ở nước ta hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Thế nhưng,
trong những năm gần đây, các thế lực phản động và thù địch đang lợi dụng
vấn đề tôn giáo để chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của
Đảng, Nhà nước ta.
Thứ hai, thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng
Việt Nam của các thế lực thù địch.
Trong tiến trình cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tôn giáo
đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến và tiếp tục
phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều chức sắc tôn
1.2.4.2. Các yếu tố chủ quan
Một, quá trình xây dựng chính sách tôn giáo.
Trước tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, với chính sách tự do
tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt
Nam, đông đảo chức sắc, tín đồ các tôn giáo đã phát huy truyền thống yêu
nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, đoàn kết đồng bào tôn giáo với
đồng bào không theo tôn giáo, hăng hái tham gia các chương trình phát
triển kinh tế - xã hội, tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo
18