Thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer ở tỉnh An Giang - Pdf 59

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO . 9
1.1. Khái quát về tôn giáo ..........................................................................................
9
1.2. Chính sách tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo ................................... 13
1.3. Chính sách tôn giáo tại Việt Nam hiện nay ..................................................... 20
Tiểu kết chương 1 .....................................................................................................
24
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI
VỚI ĐỒNG BÀO NGƯỜI KHMER Ở TỈNH AN GIANG .............................. 25
2.1. Khái quát về đồng bào người Khmer tỉnh An Giang ...................................... 25
2.2. Nội dung thực hiện chính sách tôn giáo đối với đồng bào người Khmer tỉnh
An Giang ...................................................................................................................
31
2.3. Đánh giá việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer ở tỉnh An
Giang
61

.........................................................................................................................

Tiểu kết chương 2 .....................................................................................................
66
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI NGƯỜI KHMER Ở
TỈNH AN GIANG ..................................................................................................
67
3.1. Quan điểm cho việc tăng cường hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo đối với
người Khmer ở tỉnh An Giang .......................................................................... 67
3.2. Đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả chính sách tôn giáo đối với đồng

PGHH

: Phật giáo Hòa Hảo



: Trung ương

TW

: Trung ương

UBND

: Ủy ban nhân dân

UBMTTQVN

: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

UBTVQH

: Ủy ban thường vụ Quốc hội

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC BẢNG BIỂU

An Giang là địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer. Hầu hết
đồng bào người Khmer ở đây đều theo đạo Phật giáo Nam Tông. Từ khi đổi
mới (1986) đến nay, đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội vùng đồng
bào Khmer ở An Giang luôn ổn định và từng bước vươn lên. Để không ngừng
tạo điều kiện ngày càng tốt hơn, giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa, vùng núi, vùng hải đảo và vùng biên giới có những điều kiện
thuận lợi để phát triển và hội nhập; Đảng và chính quyền tỉnh An Giang đã có
những chủ trương, chính sách trong đó đối với các dân tộc Khmer.
Để nâng cao hiệu quả hơn nữa việc thực hiện chính sách tôn giáo đối
với đồng bào người Khmer theo Phật giáo Nam Tông ở tỉnh An Giang, phát
huy những mặt tích cực, xây dựng niềm tin vào sự nghiệp đổi mới, huy động
được đông đảo đồng bào Khmer theo đạo vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, qua đó đáp ứng được ước nguyện sống “tốt đời đẹp đạo” của đông
đảo đồng bào Khmer. Hơn nữa, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế
lực thù địch đã và đang tìm cách khống chế, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tôn giáo là vấn đề mà các thế lực thù địch luôn lợi dụng để công kích, tuyên
truyền, xuyên tạc lịch sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, để đòi ly khai, tự trị
gây chia rẻ đại đoàn kết dân tộc. Đề tài “Thực hiện chính sách tôn giáo đối
với người Khmer ở tỉnh An Giang” được làm đề tài luận văn tốt nghiệp
nhằm có những hiểu biết đầy đủ, đánh giá khoa học những thành tựu đã đạt
được trong công tác tôn giáo, thực hiện chính sách đối với đồng bào có đạo,
cụ thể đối với cộng đồng Khmer theo Phật giáo Nam Tông ở An Giang, từ đó
có thể có những đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác thực hiện
chính sách tôn giáo đối với đồng bào Khmer ở An Giang.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
1


Đã có nhiều bài báo khoa học, luận văn viết về đề tài này, nhưng ở các
địa phương khác nhau và nhiều góc độ khác nhau.

thực hiện, 2000 -2001, đã trình bày khá chi tiết các cuộc đấu tranh chống áp
bức bóc lột, bất công của đồng bào dân tộc Khmer cũng như sự đoàn kết đấu
tranh của các dân tộc trong vùng nhằm chống áp bức, chống xâm lược bảo vệ
quê hương, bảo vệ Tổ quốc từ trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập
cho đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước (30/4/1975).
Tác giả Phạm Phương Hoa (2013) với Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng
và tự do tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay, (Luận văn Thạc sĩ luật
học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội), cung cấp những tri thức khoa học
cơ bản về quyền của người có tín ngưỡng, tôn giáo; pháp luật về quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật quốc tế; giúp người đọc nhận thức rõ hơn
quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt
Nam. Luận văn nêu lên thực trạng và những bất cập trong việc bảo đảm thực
hiện quyền của người có tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, từ đó nêu ra một số
giải pháp cho việc bảo đảm thực hiện quyền của người có tín ngưỡng, có tôn
giáo ở Việt Nam [41].
Tác giả Vũ Hoàng Hải (2016), Thực hiện chính sách tôn giáo từ thực
tiễn tỉnh Phú Thọ (luận văn Thạc sĩ chính sách công, Học viện KHXHVN),
căn cứ vào cơ sở lý luận, thực tiễn của việc ban hành và thực hiện chính sách
tôn giáo được nghiên cứu, tìm hiểu và làm rõ những thành tựu cũng như
những hạn chế trong công tác thực hiện chính sách tôn giáo ở tỉnh Phú Thọ
[34].

3


Ngoài ra còn nhiều bài viết đã đề cập đến quan điểm, đường lối của
Đảng và Nhà nước ta, nhất là trong thời kỳ đổi mới, trong đó là các bài viết:
Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo – Chính sách nhất quán của Đảng
và Nhà nước của Đặng Tài Tính (Công tác tôn giáo, số 1/2005); Trở lại những

sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với đồng bào Khmer trên địa bàn
tỉnh An Giang.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm
vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tôn
giáo;
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer ở
tỉnh An Giang dưới góc độ khoa học chính sách công.
- Đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách tôn giáo đối với người
Khmer ở tỉnh An Giang.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách tôn giáo đối với
người Khmer và thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer cụ thể ở
An Giang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài

5


Đề tài tập trung nghiên cứu các chính sách tôn giáo đối với người
Khmer và việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer tại tỉnh An
Giang giai đoạn từ đổi mới đến nay (1986-2018).
5. Cơ sở luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở luận
Luận văn dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về
tôn giáo, về hoạt động tôn giáo cụ thể đối với đồng bào Khmer ở
An Giang, các cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khoa học chính

công phối hợp thực hiện chính sách tôn giáo đối với người Khmer; đánh giá,
tổng kết rút kinh nghiệm từ đó cung cấp những vấn đề có giá trị tham khảo
cho việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tôn giáo đối với người
Khmer ở tỉnh An Giang. Luận văn cung cấp thông tin khách quan cho các cơ
quan, ban, ngành về công tác dân tộc trong quá trình hoạch định và thực hiện
chính sách tôn giáo đối với người Khmer ở tỉnh An Giang.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn được bố cục theo 03
chương sau:

7


Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách tôn giáo ở
người Khmer tỉnh An Giang.
Chương 2: Việc thực hiện chính sách đối với người Khmer ở tỉnh An
Giang.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện
chính sách tôn giáo đối với người Khmer ở tỉnh An Giang.

8


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI
VỚI ĐỒNG BÀO NGƯỜI KHMER
1.1. Khái quát về tôn giáo
1.1.1. Một số hiểu biết liên quan tôn giáo
Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và
con người” [17, tr.12]. Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn

tài chính hơn, biết sử dụng nguồn tiền một cách hợp lý để giúp đỡ tín đồ, thì
dễ dàng lấy được lòng tin của họ. Một mặt tôn giáo sẽ nâng cao hiệu lực quản
lý, làm xã hội ổn định hơn; nhưng ngược lại, tôn giáo cũng có thể phá vỡ tính
ổn định xã hội, phá vỡ trật tự được định ra từ trước, gây ra những bất ổn xã
hội. Tôn giáo vừa có lợi và vừa có hại đối với quản lý xã hội.
1.1.2. Tôn giáo với ổn định chính trị và phát triển cộng đồng hiện nay
Châu Âu vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ thứ XX đã chứng kiến sự xuất
hiện của nhiều nhóm giáo phái tôn giáo mới có nguồn gốc khác nhau từ Kitô
giáo, các tôn giáo phương Đông do người nhập cư mang đến, số nhóm tôn
giáo mới khác lại có xuất xứ từ Mỹ… Hầu hết các quốc gia Châu Âu đều xuất
hiện một vài phong trào tôn giáo mới ngay trong đời sống tôn giáo của quốc
gia mình. Theo tổ chức INFORM có khoảng 3000 tổ chức tôn giáo mới đang
hiện diện ở Châu Âu với số lượng tín đồ khiêm tốn, rất ít giáo phái có số
lượng tới 1000 thành viên. Phản ứng của xã hội Châu Âu đối với tôn giáo mới
là thái độ nghi ngờ và thù địch [26].

10


Theo Sueki Fumhiko, ở Nhật Bản, các tôn giáo mới được hình thành
vào cuối thời Mạc Phủ - Tokugawa mà: “ngày nay người ta gọi tổng thể
những tôn giáo này là Tân tôn giáo (Shin-Shukyo) đối lập với những tôn giáo
có từ trước” [57, tr.255] như các giáo phái Reiyukai (Linh hữu hội),
Gedatsukai (Giải thoát hội), Thiên lý giáo (Tenri-Kyo), Hắc tú giáo
(Kutozumi-Kyo), Kim Quang giáo (Konko-Kyo). Tuy nhiên, sự chuyển đổi
tôn giáo cũ (trước đó) sang tôn giáo mới ở Nhật Bản chỉ thật sự bùng nổ từ
sau 1945, các học giả Nhật bản thường gọi là: “Thời khắc bùng nổ của các vị
thần” [26]. Việc chuyển đổi tôn giáo ở Nhật Bản, có thể hiểu được nguyên
nhân kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa cho sự bùng nổ tôn giáo ở quốc gia
này.

số đi tìm sự độ trì của lực lượng “siêu nhiên” thông qua sự cầu xin và cúng
dường. Mặt khác, cùng với “diễn biến hòa bình” các tôn giáo gia tăng ảnh
hưởng, các giáo phái nước ngoài thâm nhập ngày càng nhiều vào các tầng lớp
dân cư các tộc người thiểu số ở đây cụ thể đối với người Khmer (An Giang),
đã và đang tác động mạnh mẽ, chứa đựng nhiều nguy cơ gây mất ổn định xã
hội và an ninh quốc gia.
Từ đó, những tác động đến sự phát triển ổn định tôn giáo trong đời
sống xã hội các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Nam Bộ còn thể hiện khá rõ nét
trong các chính sách thực thi về tôn giáo trong thời gian gần đây. Hiện nay,
việc đánh giá về công tác thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo
trong cộng đồng người thiểu số phần nào còn khiên cưỡng và chưa phù hợp
với thực tế khách quan của phát triển vùng. Những biến đổi kinh tế mạnh mẽ
ở Nam Bộ đang dẫn đến những biến đổi về môi trường, xã hội, văn hóa đặc
biệt trong tín ngưỡng, tôn giáo một cách nhanh chóng, kích hoạt những xung
12


lực xã hội tiềm tàng, tạo nên cả cơ hội lẫn thách thức sự ổn định và khối đoàn
kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo.
Vì thế, không thể đơn giản hóa các vấn đề tôn giáo bằng cách quy vào
khuôn khổ pháp luật. Việc nghiên cứu, hình thành cơ sở lý thuyết và chính
sách cho tín ngưỡng tôn giáo thật sự khoa học phải xuất phát từ những
nguyên nhân tác động cả bên trong lẫn bên ngoài làm phát sinh hiện tượng tín
ngưỡng tôn giáo là vấn đề quan tâm của nhiều ngành khoa học nhằm có
những đánh giá khách quan để tìm ra những giải pháp phù hợp cho sự phát
triển ổn định, bền vững của đồng bào thiểu số tại chỗ ở Nam Bộ trong tương
lai cụ thể đối với cộng đồng dân tộc Khmer ở An Giang.
1.2. Chính sách tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo
1.2.1. Khái niệm chính sách tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo
Chính sách tôn giáo là những chính sách xã hội về tôn giáo nhằm quy

Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng,
Bộ Tài nguyên môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương. Tại Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định
nhiệm vụ các cơ quan là:
Bộ Công an là đơn vị được Nhà nước giao trọng trách quan trọng và
theo nhiệm vụ của mình linh hoạt phối hợp trong công tác đảm bảo về mặt an
ninh tôn giáo, đảm bảo cho các hoạt động tôn giáo được thực hiện theo đúng
các quy định của pháp luật, vừa đảm bảo các hoạt động đó không ảnh hưởng
đến an ninh quốc gia, vừa đảm bảo an toàn, bình thường cho các tổ chức tôn
14


giáo, đồng thời khẳng định nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của Đảng, Nhà nước ta.
Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam các cấp là đại diện của khối Đại
đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc các cấp dựa vào chức năng nhiệm vụ
của mình phối hợp với các Bộ, Ban, Ngành và UBND các tỉnh tuyên truyền
phổ biến các chủ trương chính sách Tôn giáo, cũng như giám sát việc thực
hiện chính sách tôn giáo từ Trung ương đến địa phương.
1.2.3. Các bước thực hiện chính sách tôn giáo
* Phổ biến thực hiện chính sách
Tuyên truyền phổ biến chính sách tôn giáo là công tác rất quan trọng là
một trong những yếu tố quyết định sự thành công của việc thực hiện chính
sách. Để quá trình thực thi, thực hiện chính sách tôn giáo diễn ra hiệu quả cần
thường xuyên tổ chức các lớp tuyên truyền chính sách tôn giáo cho các cơ
quan thông tin đại chúng, cán bộ làm công tác tuyên truyền; xây dựng các văn
bản hướng dẫn phổ biến cụ thể việc thực hiện chính sách tôn giáo gửi cho các
bộ, ban ngành Trung ương, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, UBND các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoài ra cũng có thể gửi đăng tải trên
các báo tạp chí, các trang thông tin điện tử để các chức sắc, chức việc và đồng

Thứ nhất, âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt
Nam của các thế lực thù địch.
16


Trong lịch sử nước ta, vấn đề tôn giáo đã từng bị chủ nghĩa đế quốc tìm
cách triệt để lợi dụng để phục vụ cho âm mưu xâm lược và chống phá cách
mạng Việt Nam. Hiện nay, trong âm mưu “Diễn biến hòa bình” chống phá sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các thế lực phản động và thù địch vẫn
triệt để lợi dụng tôn giáo như con bài hết sức lợi hại để thực hiện mục đích
đen tối của chúng. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước, cộng
đồng các tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, hòa chung niềm
vui và nỗi đau của dân tộc trong những thời khắc lịch sử, góp phần phát triển
và làm rạng rỡ nền văn hóa Việt Nam. Tôn trọng và phát huy những giá trị
nhân văn của tôn giáo, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã được Quốc hội thông
qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2018. Đây là cơ sở để các tôn giáo ở nước ta
hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Thế nhưng, trong những năm gần đây,
các thế lực phản động và thù địch đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước ta.
Thứ hai, thủ đoạn lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt
Nam của các thế lực thù địch.
Trong tiến trình cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tôn giáo đã
đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến và tiếp tục phát
huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều chức sắc tôn giáo,
tăng ni, phật tử đã làm tốt việc đạo, việc đời, hướng dẫn tín đồ chấp hành
đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
sống "tốt đời, đẹp đạo", "kính Chúa yêu nước" được ghi nhận và tôn vinh.
Thế nhưng hiện nay, các thế lực phản động đang lợi dụng vấn đề tự do
tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của
Đảng, Nhà nước ta. Chúng ra sức xuyên tạc sự thật về tình hình tín ngưỡng,



không theo tôn giáo, hăng hái tham gia các chương trình phát triển kinh tế xã hội, tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng, đảm bảo an ninh trật tự,
góp phần làm nên những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới quê
hương, đất nước. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo
được in ấn kinh sách, sửa sang, làm mới cơ sở thờ tự, tổ chức sinh hoạt bình
thường. Hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện của các tôn giáo ngày càng được
mở rộng. Các tổ chức giáo hội từng bước được củng cố; quan hệ của tôn giáo
với Nhà nước ngày càng được hoàn thiện.
Nhìn chung, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào tôn giáo những
năm qua được nâng lên, đa số chức sắc, chức việc, tín đồ phấn khởi, tin tưởng
trước những thành tựu đổi mới của đất nước và chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo; các tôn giáo
luôn đồng hành cùng dân tộc, hành đạo theo pháp luật, tích cực tham gia phát
triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, làm từ thiện, xây dựng đời sống văn
hóa,… góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng nhau xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hai, quá trình thực hiện chính sách tôn giáo.
Với vai trò là một thành tố cấu thành của văn hóa, tôn giáo đã góp phần
lưu giữ, bồi đắp và làm phong phú những giá trị truyền thống văn hóa, mang
giá trị nhân văn, hướng thiện có ảnh hưởng tích cực trong đời sống xã hội,
thông qua giáo lý khuyên răn con người sống hướng thiện, vị tha, bác ái...
Những giới điều trong giáo lý các tôn giáo mang giá trị đạo đức và nhân văn
sâu sắc, góp phần điều chỉnh hành vi ứng xử của con người. Nhiều khu dân cư
có đông đồng bào theo tôn giáo trở thành điểm sáng về phòng chống tội
phạm, phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội khác, giữ gìn tốt an ninh trật
tự, an toàn xã hội. Tín đồ, chức sắc tích cực tham gia phát triển kinh tế xã hội,
19



của mình.
Nhìn chung, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào tôn giáo những
năm qua được nâng lên, đa số chức sắc, chức việc, tín đồ phấn khởi, tin tưởng
trước những thành tựu đổi mới của đất nước và chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo; các tôn giáo
luôn đồng hành cùng dân tộc, hành đạo theo pháp luật, tích cực tham gia phát
triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, làm từ thiện, xây dựng đời sống văn
hóa,… góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng nhau xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã
có nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo và công tác tôn giáo, như Nghị
quyết số 24 của Bộ Chính trị (khóa VI); đặc biệt sau khi có Nghị quyết
25/NQ-TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX)
về “công tác tôn giáo”, các tỉnh, thành phố đều xây dựng chương trình hành
động; nhiều tỉnh, thành phố có Nghị quyết chuyên đề về công tác tôn giáo,
thành lập Ban chỉ đạo công tác tôn giáo để chỉ đạo thống nhất trong hệ thống
chính trị thực hiện công tác tôn giáo.
Nhiều tỉnh, thành đã tích cực giải quyết việc lập hồ sơ, xét cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tôn giáo; tạo điều kiện thuận lợi để các
tôn giáo sinh hoạt bình thường, đúng theo tinh thần Nghị quyết hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa IX) về Công tác tôn giáo đã nêu:
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đã, đang
và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam.

21


Việc in ấn, xuất bản các loại kinh sách và các xuất bản phẩm tôn giáo,
việc sản xuất kinh doanh, xuất nhập văn hóa phẩm tôn giáo, đồ dùng trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status