(Khóa luận tốt nghiệp) Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại Đặng Đình Dũng huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ - Pdf 60

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------

NGUYỄN THỊ NGÂN
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG
VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI
ĐẶNG ĐÌNH DŨNG, HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Chăn nuôi Thú y

Khoa

: Chăn nuôi Thú y

Khóa học

: 2014 - 2018

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Sau quá trình học tập tại trường và thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, đến
nay tôi đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này.
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám
hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi
thú y, cùng các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực tập. Đặc biệt, thầy giáo hướng dẫn TS. Lê Minh Châu đã
chỉ bảo và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ông Đặng Đình Dũng - chủ trại, cán
bộ kỹ thuật và các công nhân viên tại trại ông Đặng Đình Dũng, huyện Thanh
Sơn, tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài trong suốt quá
trình thực tập tại cơ sở.
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, cổ
vũ tôi và tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập để
hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và
thành đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu
khoa học.
Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận của tôi được
hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng
Sinh viên

Nguyễn Thị Ngân

năm 2018


ii


: Lở mồm long móng

Nxb

: Nhà xuất bản

STT

: Số thứ tự

TT

: Thể trọng

UBND

: Ủy ban nhân dân

VTM

: Vitamin


iv

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................. i
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................. ii

4.1. Tình hình chăn nuôi lợn nái tại trại lợn ông Đặng Đình Dũng trong 2
năm (2016 - 2017)..................................................................................... 37
4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng trên đàn lợn nái nuôi
tại trại ông Đặng Đình Dũng huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ .................. 38
4.2.1. Số lượng lợn nái và lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại........38
4.2.2. Tình hình sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại trại ............................ 40
4.2.3. Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại ...... 41
4.3. Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh
sản nuôi tại trại ông Đặng Đình Dũng huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ .... 43
4.3.1. Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh trên đàn lợn nái tại trại . 43
4.3.2. Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái của trại .................... 44
4.3.3. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi
tại trại.............................................................................................. 46
4.4. Một số chỉ tiêu sinh lý của đàn lợn nái sinh sản sau điều trị ............... 49
4.5. Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn con ............................................ 50
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................... 55
5.1. Kết luận.............................................................................................. 55
5.2. Đề nghị .............................................................................................. 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 56
PHỤ LỤC


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây kinh tế Việt Nam đang phát triển rất mạnh
mẽ, chất lượng và nhu cầu cuộc sống tăng lên không ngừng, kéo theo nhu cầu
về số lượng và chất lượng thịt cũng tăng cao. Để đáp ứng nhu cầu đó, ngành

- Xác định được một số thuốc có hiệu lực và độ an toàn cao trong điều
trị bệnh sinh sản ở đàn lợn nái (bệnh viêm tử cung, viêm vú, bại liệt,…), để
phòng, hạn chế mầm bệnh.
Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài có thể giúp cho người chăn
nuôi lợn tránh được những thiệt hại do bệnh gây ra.
1.2.2. Yêu cầu
- Điều tra số nái mắc bệnh sinh sản tại trại.
- Theo dõi, chẩn đoán điều trị hiệu quả, kịp thời các bệnh ở lợn nái
ngoại sinh sản.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Trại lợn của ông Đặng Đình Dũng nằm trên địa bàn xã
Tinh Nhuệ thuộc huyện Thanh Sơn của tỉnh Phú Thọ. Đây là một trong những
trại có quy mô lớn. Trại có tổng diện tích khoảng hơn 7 ha, trong đó diện tích
hơn 4 ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và gần 3 ha
trồng cây xanh và ao hồ xung quanh.
- Điều kiện địa hình, đất đai: Địa hình huyện Thanh Sơn phức tạp, bị
chia cắt bởi nhiều dãy núi cao và sông suối, nghiêng từ Tây sang Đông, vùng
núi cao tập trung ở phía Tây, vùng núi thấp ở giữa, vùng gò đồi tập trung ở
phía Đông và những thung lũng chạy dọc theo các con sông, độ cao trung
bình từ 500 – 700 m.
- Giao thông vận tải: Có đường giao thông thuận lợi đi qua các tỉnh lân
cận thuận lợi cho việc vận chuyển thức ăn, thuốc thú y, tiêu thụ sản phẩm
cũng như chuyển giao khoa học kỹ thuật.

địa hình chủ yếu là đồi núi. Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi
và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất gồm:
Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công
trình phục vụ cho công nhân và hoạt động của trại.
Khu chăn nuôi có hàng rào bao bọc xung quanh và có cổng vào riêng.
Chuồng trại được quy hoạch, bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi
công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn
đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn.
Chuồng nuôi xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản bao gồm:


5

+ 2 chuồng bầu: chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng gồm 6 dãy, mỗi
dãy có 85 ô để nuôi và chăm sóc nái trong thời gian mang thai, được sắp xếp
theo các kỳ mang thai khác nhau. Riêng chuồng bầu 1: Dãy 1 được thiết kế
cho lợn nái chờ phối, có khu thử, ép lợn.
+ 3 chuồng nái đẻ: Mỗi chuồng gồm khu A và khu B, mỗi khu có 2
dãy, mỗi dãy có 29 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê
tông cho lợn mẹ.
+ 1 chuồng đực giống: Bao gồm 35 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai
thác tinh.
+ 1 chuồng cách ly: Bao gồm 3 ô dùng để nuôi lợn hậu bị, mỗi ô
chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị. Lợn được nuôi ở đây 3 tháng,
thời gian này được sử dụng vắc xin đầy đủ trước khi đưa lên làm nái sinh sản.
+ 1 chuồng cai sữa: Gồm 3 khu, mỗi khu gồm 2 dãy, mỗi dãy gồm 6 ô
chuồng, mỗi ô có thể nuôi 30 - 40 lợn cai sữa.
- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ
thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, máy xả cám tự động
từ các bồn chứa cám, có hệ thống điện chiếu sáng và hồng ngoại để sưởi ấm,

tinh, 4 con non mới nhập về và 1 con sử dụng làm đực thí tình cho nái. Các
lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lơn nái
và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn được khai thác từ 3 giống lợn
là Landrace, Yorkshire và Duroc. Lợn nái được phối lặp lại 3 lần.
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao,
được Công ty Cổ phần Chăn nuôi Mavin Austfeed cung cấp cho từng đối
tượng lợn của trại.
* Công tác vệ sinh thú y của trại: Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại
trang trại luôn được thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ
thuật viên Công ty Chăn nuôi Mavin Austfeed.


7

- Công tác vệ sinh:
Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông,
xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây xanh nhằm tạo sự thoáng mát tự
nhiên. Hằng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom
phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn,
phun thuốc khử trùng tiêu độc, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo
quy định. Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi
đều phải sát trùng tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động.
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các
chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại
được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng trại.
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trang trại thực hiện
nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật. Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm
riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực và lợn con. Lợn được tiêm vắc xin ở
trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh
truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt

Trong những năm gần đây, thời tiết diễn biễn phức tạp kèm theo dịch
bệnh khó kiểm soát, gây khó khăn cho chăn nuôi. Những khó khăn trên đòi
hỏi trại phải đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh và nâng cao sức đề
kháng cho đàn lợn tại trại.
2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có
liên quan đến nội dung của chuyên đề
2.2.1. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.1.1. Phòng bệnh
Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nên khâu phòng bệnh
được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn


9

được bệnh xảy ra. Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp
với nhiều biện pháp khác nhau.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [23], bệnh xuất hiện trong một đàn
lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc
không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai. Có rất nhiều biện pháp đã đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh trên đàn lợn. Phần lớn
các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lây truyền tác nhân gây bệnh
và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], trong chăn nuôi việc đảm bảo
đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra
những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại. Ô
chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ. Nhiệt độ phải phù
hợp, đối với lợn mẹ nhiệt độ thích hợp dao động từ 15 - 24 ℃, nhiệt độ lợn
con theo mẹ dao động từ 21 - 31℃. Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm
áp vào mùa đông và đầu xuân là rất quan trọng. Nên dùng các thiết bị sưởi

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ
thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị
tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền.
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể
chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm. Nếu chữa kéo dài, tốn kém
vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa.
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì
không nên chữa.
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [10], các biện pháp
chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện
vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh). Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô


11

hấp, phân, nước tiểu. Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời
đối phó. Cho gia súc ăn, uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của đối
tượng bệnh.
+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy
thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc mắc bệnh. Chữa bệnh bằng
kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác
dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố).
+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,
một số hóa dược dùng để chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm
bệnh. Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi
khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ. Chúng có thể chống lại thuốc và
tính chất quen thuốc được di truyền cho thế hệ sau. Khi cần, có thể phối hợp
nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có
tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn.

nhiễm khuẩn E.coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương.
Theo Urban và cs (1983) [35]; Bilken (1994) [1], các vi khuẩn gây
nhiễm trùng tử cung có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phân lập vi
khuẩn từ mẫu nước tiểu lợn nái sắp sinh thường chứa các vi khuẩn E.coli,
Staphylococcus aureus, Streptococcus Spp. Tuy nhiên các nghiên cứu của tác
giả khác lại ghi nhận các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vi khuẩn cơ
hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh cổ
tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh.
Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [2]; Phạm Sỹ Lăng và cs
(2002) [13], Lê Minh và cs (2017) [16], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường
do các nguyên nhân sau:
+ Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc
lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường,...


13

+ Phối giống quá sớm đối với lợn đẻ lứa đầu hoặc lợn nái già mang
nhiều thai. Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm
cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa
tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn.
+ Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh
bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ. Hoặc do
thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại
vi trùng xâm nhập cũng gây viêm.
+ Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng, gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm
nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn. Những
thao tác đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, đưa dụng cụ vào cổ tử cung không an
toàn, không đảm bảo vệ sinh.
+ Kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng

nặng thêm. Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết
hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ.
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 – 42°C trong vài ngày đầu âm môn sưng
tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ nhờ.
+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch
nhầy trắng đục chảy ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần. Lợn nái thường thụ
tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm
nhiễm niêm mạc âm đạo tử cung lan sang thai làm chết thai.
* Hậu quả của viêm tử cung:
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan
sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều
ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát
triển của lợn con.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7]; Trần Thị Dân (2004) [4], khi


15

lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai.
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc chết lưu.
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong
giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại.
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau
khi sinh đẻ.
Nguyễn Văn Thanh và cs (2013) [24] cho rằng: bệnh viêm tử cung,
viêm vú là nguyên nhân chính gây ra mất sữa ở lợn nái nuôi con, làm lợn nái
đau đớn, giảm sút cân nhanh.

Theo Gardner (1990) [31], Smith (1995) [32], Taylor (1995) [33], tăng
cường vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong
việc phòng ngừa nhiễm trùng sau khi sinh.
Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [20], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ
một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch
bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục
và bầu vú.
Theo Lê Văn Năm (2009) [18], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng
kĩ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaselin hoặc dầu lạc.
Cho lợn nái chửa vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ.
Kiểm tra nghiêm ngặt đảm bảo dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và
không để nhiễm khuẩn.
Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực
tiếp hoặc lấy tinh.
Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis…. bằng cách dùng
vắc xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những
trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai.


17

* Điều trị
Bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước đun sôi để nguội
pha cồn iod 10%
Tiêm oxytocin 2ml/con/ngày, acimoxyl 20ml/con/ngày
Tiêm thuốc trợ sức: B - complex, vitamin ADE.
Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [8], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị
bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày.
Tiêm amoxicillin 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ. Đây là dạng
viêm có kết quả điều trị khỏi bệnh cao.

gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy, thiếu máu.
* Hậu quả của bệnh viêm vú
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ.
- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [15]: Bệnh viêm
tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở
lợn nái nuôi con.
* Điều trị:
Trekaxova và cs (1983) [28] cho biết: Chữa bệnh viêm vú cho lợn nái
hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp. Dùng novocain phong
bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt. Để phong bế thần
kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5% liều từ 30 - 40 ml
cho mỗi túi vú. Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 88 - 10 cm. Dung dịch
novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin hay kháng sinh
khác. Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong
novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần.
Các loại kháng sinh thường dùng: Acimoxyl, pen-strep, ampicillin,
gentamycin, norfloxacin,... và có thể dùng corticoide để giảm viêm kết hợp với



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status