Tác động của chất lượng thể chế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới - Pdf 60

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN NHẬT HOÀNG

“TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ
DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN
THẾ GIỚI”

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN NHẬT HOÀNG

TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG THỂ CHẾ VÀ
DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN
THẾ GIỚI

Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số

: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


1.2.

Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................ 2

1.3.

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu thập dữ liệu................................................. 3

1.4.

Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 3

1.5.

Những điểm mới đề tài............................................................................................ 4

1.6.

Kết cấu của đề tài. ................................................................................................... 5

CHƯƠNG 2.TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI ........................................................................................................................ 6
2.1.

Tổng quan lý thuyết ................................................................................................ 6

2.1.1.

Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh ..................................................................... 6


Chất lượng thể chế và tăng trưởng kinh tế ..................................................... 23


CHƯƠNG 3.MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................... 32
3.1.

Mô hình nghiên cứu .............................................................................................. 32

3.2.

Kỳ vọng dấu .......................................................................................................... 34

3.2.1.

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ........................................................... 34

3.2.2.

Chất lượng thể chế ......................................................................................... 36

3.2.3.

Lạm phát ........................................................................................................ 38

3.2.4.

Độ mở thương mại ......................................................................................... 39

3.2.5.

Kết quả kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi .................................... 55

4.3.

Thảo luận kết quả nghiên cứu ............................................................................... 56

4.3.1.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDPGR .............................................................. 56

4.3.2.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDPPCGR ......................................................... 63

4.3.3.

Đối với các quốc gia đã và đang phát triển

…………………………. …69

CHƯƠNG 5.KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................. 73
5.1.

Kết luận ................................................................................................................. 73

5.2.

Khuyến nghị .......................................................................................................... 75

5.3.

chất lượng thể chế thấp. Các yếu tố vĩ mô khác ví dụ như lạm phát, chi tiêu chính
phủ, thất nghiệp… cũng thể hiện các tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế ở
mức ý nghĩa thống kê cao.
Mong rằng kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học khách quan để nhìn nhận
đầy đủ về vấn đề tăng trưởng ở các quốc gia trên thế giới, đồng thời mở ra những
hướng nghiên cứu tiếp theo với các yếu tố và phương pháp khác để giúp cho hướng
nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Từ khóa: tăng trưởng, chất lượng thể chế, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài


ABSTRACT
Title: Impact of institutional quality and inflows of foreign direct investment
on growth in countries in the world
Summary: Sustainable and high economic growth is the main goal of all
countries in the world. Previous studies in the world have shown that institutional
quality play an important role in determining economic growth in countries.
However, the specific impact of institutional quality on economic growth is largely
dependent on the domestic market. Although receiving a lot of attention from
researchers around the world, in Vietnam, the number of studies on this topic and
especially analyzing the differences between high-income, low-income countries
and The average is relatively scarce. Students should choose the topic "The impact
of institutional quality and the flow of foreign direct investment on the
economic growth of countries in the world" with the desire to clarify this issue.
Every one investigated the effects of both foreign direct investment inflows
and institutional quality on countries' economic growth by using the interaction
variables of these two variables and found that one country has High institutional
quality when implementing policies to attract foreign direct investment will be able
to improve the nation's economic growth rate higher than countries with low
institutional quality. Other macro factors such as inflation, government spending,


Đặt vấn đề

Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là mục tiêu chính của tất cả các quốc
gia trên thế giới. Theo đó các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách đã
phân tích tác động của các yếu tố kinh tế và phi kinh tế đến tăng trưởng kinh tế của
các quốc gia. Trong đó các cuộc tranh luận gần đây về các yếu tố xác định tốc độ
tăng trưởng kinh tế trong dài hạn đã đề cập đến vai trò của khung thể chế khi giải
thích sự khác biệt trong thu nhập bình quan đầu người giữa các quốc gia. Thể chế thường được định nghĩa như là “các ràng buộc mà chính con người áp đặt lên bản
thân của họ” - được biết đến là có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế trong
những năm đầu của thế kỷ 18. Tuy nhiên, vai trò của thể chế trong việc xác định tốc
độ tăng trưởng kinh tế thì hầu như vẫn bị lu mờ (Nawaz, 2015) do các nghiên cứu
trước đây tập trung phân tích vào các yếu tố khác như yếu tố vốn con người, yếu tố
vốn vật chất và yếu tố phát triển công nghệ kỹ thuật khi xem xét các yếu tố quyết
định tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia.
Dường như sau khi công trình về lý thuyết thể chế của North (1990) đề cập
đền việc một chất lượng thể chế tốt có thể thúc đẩy tăng trưởng của quốc gia, thì
yếu tố thể chế bắt đầu nhận được nhiều sự quan tâm sâu sắc từ các nhà nghiên cứu,
các nhà hoạch định chính sách và các học viên của các viện nghiên cứu. Qua thời
gia, các nghiên cứu thực hiện đã đưa đến kết luận chung khi cho rằng khung thể chế
của một quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tốc độ tăng trưởng của
quốc gia (Acemoglu và Robinson, 2010; Jones, 1987; North, 1981; North và
Thomas, 1973). Theo đó, một số nghiên cứu thực nghiệm cung cấp bằng chứng mối
quan hệ cùng chiều giữa thể chế và tăng trưởng kinh tế như nghiên cứu của
Acemoglu và Robinson (2010), Iqbal và Daly (2014), Mauro (1995) và Rodrik và
các cộng sự (2004). Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho rằng tác động của


2


3

Đầu tiên, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động cùng chiều (+) hay ngược
(-) đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới?
Thứ hai, chất lượng thể chế có tác động cùng chiều (+) hay ngược (-) đến
tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới ?
1.3.

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu thập dữ liệu.

 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,
chất lượng thể chế và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác đến tăng trưởng kinh tế.
 Phạm vi thu thập dữ liệu.
Luận văn sử dụng dữ liệu của 70 quốc gia đang phát triển và đã phát triển ở
khu vực Á – Âu trong giai đoạn 2000 – 2016. Dữ liệu của các quốc gia này được
luận văn thu thập trên cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế Giới (WorldBank)
1.4.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng của Mankiw và các
cộng sự (1992), Hall và Jones (1999) và Hayat (2016) để phân tích tác động của
chất lượng thể chế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế
của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 2000 – 2016. Cụ thể, phương trình
nghiên cứu được trình bày như sau:
𝐺𝑑𝑝𝑝𝑐𝑔𝑟𝑖𝑡 = 𝛽0 + 𝛽1 ∗ 𝐺𝑑𝑝𝑝𝑐𝑔𝑟𝑖𝑡−1 + 𝛽2 ∗ 𝐹𝐷𝐼𝑖𝑡 + 𝛽3 ∗ 𝐼𝑛𝑠𝑖𝑡 + 𝛽4 ∗
𝐹𝐷𝐼𝑖𝑡 ∗ 𝐼𝑛𝑠𝑖𝑡 + 𝛽5 ∗ 𝑇𝑟𝑎𝑑𝑒𝑂𝑝𝑖𝑡 + 𝛽6 ∗ 𝑈𝑛𝑒𝑚𝑝𝑖𝑡 + 𝛽7 ∗ 𝑇𝑒𝑙𝑒𝑖𝑡 + 𝛽8 ∗ 𝐺𝑜𝑣𝑒𝑥𝑝𝑖𝑡 +
𝛽9 ∗ 𝐼𝑛𝑓𝑖𝑡 + 𝜀𝑖𝑡
Trong đó

tương tác của hai biến số này và tìm thấy rằng một quốc gia có chất lượng thể chế
cao khi thực hiện chính sách thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì sẽ có


5

thể cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia cao hơn so với các quốc gia có
chất lượng thể chế thấp.
Hơn thế nữa, đề tài cũng phân tích một mẫu nghiên cứu lớn hơn so với một
số nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam, trong đó mẫu nghiên cứu bao gồm 70
quốc gia đã phát triển và đang phát triển ở trên thế giới thuộc khu vực Á – Âu trong
giai đoạn 2000 – 2016.
1.6.

Kết cấu của đề tài.
Luận văn bao gồm 05 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề

tài.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.


6

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN
CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.1.

trong dài hạn (Barro và Sala – I – Martin, 1995). Cho nên tăng trưởng kinh tế của
một quốc gia phụ thuộc vào vốn tích lũy và lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật
cao. Kết quả là, khi các nhà đầu tư nước ngoài dịch chuyển dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào các quốc gia nhận đầu tư và đưa ra các công nghệ kỹ thuật cao
đối với quá trình sản xuất của quốc gia sở tại thì có thể làm gia tăng năng suất của
lực lượng lao động và vốn (De Jager, 2004). Nhìn chung, lý thuyết này lập luận
rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp sẽ tăng cường nguồn vốn của quốc gia sở tại. Và sau
đó sẽ thúc đẩy răng trưởng kinh tế với một trạng thái ổn định mới bằng việc tích lũy
nguồn vốn này. Từ đây có thể thấy rằng lập luận của lý thuyết tăng trưởng ngoại
sinh là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng
kinh tế trong ngắn hạn thông qua việc cải thiện đầu tư trong nước (Herzer và
Klasen, 2008).
2.1.2. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Vào những năm 1980, khi các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính
sách nhận thấy lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh không giải thích đầy đủ các yếu tố
tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn (Barro và Sala – I – Martin, 1995),
thì Romer (1986) đã đề xuất lý thuyết tăng trưởng nội sinh khi tập trung vào việc
phân tích hai yếu tố. Theo đó lý thuyết này xác định tăng trưởng kinh tế xuất phát từ
vốn con người và sự thay đổi trong công nghệ kỹ thuật (De Jager, 2004). Cơ chế
của lý thuyết này liên quan đến việc vốn con người là sự gia tăng trong lực lượng
lao động. Điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh tế có thể được thúc đẩy ngoại sinh
với tốc độ gia tăng không thay đổi. Sau đó, sự tăng trưởng kinh tế này sẽ được kích
thích bởi sự thay đổi trong công nghệ kỹ thuật, điều này cho thấy rằng tăng trưởng
kinh tế có thể được thúc đẩy nội sinh thông qua việc lực lượng lao động thay đổi
công nghệ kỹ thuật (De Jager, 2004). Tuy nhiên, đặc điểm chỉnh của lý thuyết này
là sự thiếu hiện diện của sự suy giảm trong tỷ suất sinh lợi của vốn đầu tư (Ho và
các cộng sự, 2007). Do đó, sự tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật dưới hình thức tạo


8

9

Ở khía cạnh khác, thể chế cũng không bó gọn trong một lĩnh vực cụ thể
của đời sống con người. Nó không chỉ liên quan đến vấn đề kinh tế như phân bố
nguồn lực khan hiếm; đến vấn đề chính trị như cấu trúc hay sự phân chia quyền lực
nhà nước; mà còn liên quan tới cả vấn đề xã hội như sự công bằng hay vấn đề môi
trường như kiểm soát sự ô nhiễm. Nó hiện diện ở mọi lĩnh vực trong đời sống con
người, xuyên suốt và kết nối các lĩnh vực với nhau để hình thành một chỉnh thể có
tổ chức của các cộng đồng.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, hầu hết các khái niệm về thể chế đều
đặt trọng tâm vào các nhân tố mang tính xã hội mà ít nhiều ảnh hưởng đến hành vi
của con người. John Commons, một trong những nhà kinh tế học thể chế thời kỳ
đầu, đã xem thể chế như một dạng hành động tập thể nhằm đạt được sự kiểm soát,
giải phóng và mở rộng hành động cá nhân (Commons, 1931). Các mục tiêu hướng
tới ở đây của thể chế vừa đối lập vừa thống nhất với nhau. Các thỏa thuận của xã
hội trong kiểm soát hành động cá nhân, trong những phạm vi nhất định, chính là
điều kiện để đảm bảo và mở rộng sự tự do của mọi thành viên trong xã hội.
Định nghĩa về thể chế hiện được dẫn nhiều nhất hiện nay là của Douglas
North, nhà kinh tế học thể chế đi tiên phong trong việc xây dựng khung khổ phân
tích, tích hợp các vấn đề thể chế vào mổ xẻ các vấn đề kinh tế. Cách tiếp cận của
North không chỉ được các nhà kinh tế sử dụng, mà còn được nhiều nhà khoa học ở
các lĩnh vực khoa học xã hội khác bổ sung, chỉnh sửa nhằm đặt nền móng cho các
phân tích của họ về thể chế. North (1994) cho rằng thể chế là những ràng buộc do
con người đặt ra để tạo khuôn khổ cho các mối quan hệ tương tác của mình. Thể
chế bao gồm các ràng buộc chính thức (quy tắc, luật, hiến pháp...) và phi chính thức
(chuẩn mực hành vi, tục lệ, quy tắc ứng xử...), và các đặc trưng thực thi của chúng.
Thể chế chính là "luật chơi" còn tổ chức và cá nhân trong đó là "người chơi".



11

thoảng điều khiển khả năng nhận thức của con người trong lựa chọn hành động
(Davis, 2010).
Như vậy, các khái niệm về thể chế hiện được sử dụng có nội dung và cách
phân loại rất khác nhau, thể hiện các cách nhìn nhận và mục tiêu phân tích khác
nhau của mỗi tác giả. Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi xuất phát từ khái niệm
của Amartya Sen. Đây khái niệm mà chúng tôi cho rằng tương đối chiết trung, bao
hàm được nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề như đã phân tích ở trên, và hiện được
Ngân hàng thế giới sử dụng trong các báo cáo của mình. Sen (2003) cho rằng thể
chế là các quy tắc và tổ chức, bao gồm cả các chuẩn mực không chính thức, nhằm
điều phối hành vi của con người. Chúng có vai trò thiết yếu đối với phát triển bền
vững và công bằng.
Khái niệm nêu trên thể hiện một số đặc trưng quan trọng của thể chế: i)
Là sản phẩm của con người, được đặt ra trong thời điểm nhất định và thực thi bởi
các phương tiện nhất định; ii) Bao gồm cả khía cạnh luật chơi và người chơi; iii)
Mục đích chính là phối hợp và điều tiết hành vi của con người; và iv) Gồm cả bộ
phận chính thức và phi chính thức.
Tuy nhiên, ở đây cũng nên nhấn mạnh thêm một khía cạnh khác không
kém phần quan trọng. Đó là xem thể chế vừa như tiền đề, vừa như kết quả của cuộc
chơi, nghĩa là nhìn nhận nó trong quá trình liên tục và cân bằng động, chịu sự tương
tác của nhiều loại lực khác nhau. Aoki (2001) cho rằng xem xét thể chế phải xuất
phát từ hai khía cạnh: i) Vấn đề đồng đại: Sự phức tạp, đa dạng và tương tác lẫn
nhau của các bộ phận trong cả hệ thống thể chế; và ii) Vấn đề lịch đại: Cơ chế biến
đổi và tiến triển của thể chế. Về cơ chế biến đổi của thể chế, có ba loại động cơ
chính: i) Quá trình chọn lọc trên cơ sở hiệu quả; ii) Quá trình định hướng mang tính
chính trị và được hình thành bởi các lợi ích đặc biệt; và iii) Quá trình tái diễn các
xung đột trong phân phối các nguồn lực xã hội (Hanisch and Schuter, 1999).




13

chiều. Cụ thể, Ozturk (2007) đã đồng thuận với các phát hiện của các nghiên cứu
trước đây về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khi cho rằng quốc gia có thể đạt
được nhiều lợi ích ở phương diện công nghệ kỹ thuật, giáo dục và cơ sở hạ tầng mà
dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại. Phần lớn các nghiên cứu trước đây
ủng hộ quan điểm khi cho rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng
như một công cụ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau
chẳng hạn như tích lũy vốn và chuyển giao vốn, vốn con người và chuyển giao công
nghệ có liên quan đến vấn đề lan tỏa kiến thức. Ngoài ra, quốc gia nhận được nguồn
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tối đa hóa lợi ích của nguồn vốn này bằng
cách giảm thiểu chi phí giao dịch và đảm bảo sự phân bổ vốn hiệu quả. De Mello
(1997) đã nhấn mạnh điều kiện công nghệ ở các quốc gia nhận đầu tư như là điều
kiện tiên quyết và quan trọng nhất trong việc hấp thụ dòng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo đó, tác giả đã lập luận rằng khi
khoảng cách công nghệ giữa quốc gia chủ đầu tư và quốc gia nhận đầu tư là tương
đối cao thì dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đóng góp một phần nhỏ trong
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhận đầu tư. Tác giả cũng cho rằng
sự chuyển giao công nghệ và kiến thức có được từ việc nhận được dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài sẽ có tác động đến sự phát triển kinh tế trong dài hạn. Tuy
nhiên, thậm chí công nghệ là khía cạnh quan trọng nhất của dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, nhưng vẫn rất khó để đo lường và định lượng yếu tố này trong việc
xem xét mức độ đóng góp đến tăng trưởng kinh tế (De Mello, 1997). Ngoài ra,
Balasubramanyam và các cộng sự (1996) đã tìm thấy vấn đề mở cửa thương mại và
thị trường tự do khá cần thiết để có được các tác động tích cực của dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế. Phát hiện này cũng được ủng hộ bởi
nghiên cứu của Borensztein và các cộng sự (1998) người đã tìm thấy mối quan hệ
cùng chiều giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở
những quốc gia có đủ nguồn nhân lực và lực lượng lao động đủ tiêu chuẩn về trình

của các công ty đa quốc gia sẽ di chuyển đến các công ty nội địa (Fosfuri và các
cộng sự, 2007). Tuy nhiên, Hayat (2016) cho rằng chất lượng thể chế có tác động
đang kể đến ảnh hưởng lan tỏa của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng


15

trưởng của quốc gia nhận đâu tư. Cụ thể, một chất lượng thể chế tốt như chất lượng
của các quy định tốt, tham nhũng thấp, hiệu quả của chính phủ cao và nhà nước
pháp quyền tốt có thể tạo ra sự đồng bộ hóa giữa các công ty trong nước và các
công ty nước ngoài bằng cách cung cấp sân chơi sòng phẳng. Từ đó có thể thu hút
nhiều dòng vốn quốc tế và nâng cao sự sẵn lòng đầu tư của các công ty nước ngoài,
kết quả là gia tăng ảnh hưởng lan tỏa kiến thức và lực lượng lao động, và cuối cùng,
tăng trưởng kinh tế được nâng cao hơn. Ngược lại, chất lượng thể chế kém sẽ dẫn
đến sự gia tăng chi phí giao dịch và rủi ro cao, điều này sẽ dẫn đến mức độ đầu tư
thấp và cam kết lâu dài của các công ty nước ngoài đối với đất nước sở tại. Từ đó sẽ
làm giảm ảnh hưởng lan tỏa của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh
tế của các quốc gia này. Kết quả là sẽ làm suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của
các quốc gia nhận đầu tư.
2.2.

Các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài.

2.2.1. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh
tế nhận được nhiều sự quan tâm bởi các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch
định chính sách trên thế giới. Tuy nhiên cả bằng chứng thực nghiệm và lý thuyết
đối với tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế
của các quốc gia nhận đầu tư thì vẫn đang tranh cãi. Cụ thể, theo lý thuyết tăng
trưởng kinh tế tân cổ điển, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có tác động đến

tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư từ năm
1971 đến năm 2010. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia
nhận đầu tư khi sử dụng phương pháp ước lượng OLS.
Tuy nhiên, Eller và các cộng sự (2005) tiến hành phân tích mẫu nghiên cứu
bao gồm 11 quốc gia ở khu vực Đông và Trung Âu từ năm 1994 đến năm 2003 và
tìm thấy bằng chứng thực nghiệm ngược lại với các nghiên cứu đã nêu trên khi cho
rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài làm cản trở tăng trưởng kinh tế của quốc
gia nhận đầu tư. Nghiên cứu này lập luận rằng do dòng vốn đầu tư trực tiếp nước


17

ngoài lấn át đầu tư nội địa, cho nên làm suy giảm tăng trưởng kinh tế của các quốc
gia này. Tương tự với phát hiện này, Herzer (2010) tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài lại có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của các quốc
gia trong mẫu nghiên cứu khi phân tích mẫu nghiên cứu bao gồm 44 quốc gia đang
phát triển từ năm 1970 đến năm 2005. Gần đây hơn, Antwi và Zhao (2013) phân
tích tại Ghana trong giai đoạn 1980 – 2010 và tìm thấy rằng mối quan hệ tiêu cực
giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia
nhận đầu tư trong dài hạn.
Mặt khác, các nghiên cứu thực nghiệm khác được tiến hành nhằm giải thích
vai trò của các yếu tố đặc điểm của quốc gia nhận đầu tư đối với hiệu ứng tích cực
của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trương kinh tế của quốc gia. Đầu
tiên, vấn đề tương tác giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn con người
đối với vấn đề tăng trưởng kinh tế của các quốc gia nhận đầu tư nhận được nhiều sự
quan tâm từ các nhà nghiên cứu. Chẳng hạn như Li và Liu (2005) thực hiện phân
tích một bộ dữ liệu dạng bảng bao gồm 84 quốc gia đã phát triển và đang phát triển
trong giai đoạn 1970 – 1999 và đã tìm thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và gián tiếp thông qua vốn con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status