Bảo đảm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án hình sự từ thực tiễn huyện thường tín, thành phố hà nội - Pdf 60

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

HONG THY HNG

BảO ĐảM QUYềN CủA CáC NHóM Dễ Bị TổN THƯƠNG
TRONG GIAI ĐOạN ĐIềU TRA, TRUY Tố Vụ áN HìNH Sự:
Từ THựC TIễN HUYệN THƯờNG TíN, THàNH PHố Hà NộI

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2019


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

HONG THY HNG

BảO ĐảM QUYềN CủA CáC NHóM Dễ Bị TổN THƯƠNG
TRONG GIAI ĐOạN ĐIềU TRA, TRUY Tố Vụ áN HìNH Sự:
Từ THựC TIễN HUYệN THƯờNG TíN, THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Phỏp lut v quyn con ngi
Mó s: 8380101.07

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. L KHNH TNG

H NI - 2019


Nhóm dễ bị tổn thƣơng và những đặc thù ........................................ 8

1.1.1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thương và các nhóm người dễ bị tổn thương ...... 8
1.1.2. Sự phân chia các nhóm dễ bị tổn thương ............................................ 10
1.1.3. Tính dễ bị tổn thương của một số nhóm ............................................. 10
1.2.

Quyền của các nhóm dễ bị tổn thƣơng trong giai đoạn điều
tra, truy tố vụ án hình sự theo pháp luật nhân quyền quốc tế ..... 14

1.2.1. Các quyền chung ................................................................................. 15
1.2.2. Quyền đặc thù của các nhóm dễ bị tổn thương trong giai đoạn
điều tra, truy tố vụ án hình sự ............................................................. 20
1.3.

Quyền của các nhóm dễ bị tổn thƣơng trong giai đoạn điều
tra, truy tố vụ án hình sự theo Hiến pháp và pháp luật TTHS
Việt Nam............................................................................................. 23

1.3.1. Các quyền chung ................................................................................. 23
1.3.2. Quyền đặc thù của các nhóm dễ bị tổn thương ................................... 26
1.4.

Phân loại nhóm dễ bị tổn thƣơng trong TTHS theo tƣ cách
tham gia tố tụng ................................................................................. 31

Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 34


Chƣơng 2: THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA CÁC NHÓM DỄ


Tồn tại và nguyên nhân .................................................................... 72

2.7.1. Đối với việc tạm giữ, tạm giam .......................................................... 72
2.7.2. Đối với người bị buộc tội .................................................................... 75
2.7.3. Đối với người bị hại ............................................................................ 78
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 83
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO ĐẢM QUYỀN
CỦA CÁC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƢƠNG TRONG GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA, TRUY TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ ...................................... 84
3.1.

Các biện pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con ngƣời
nói chung và các nhóm dễ bị tổn thƣơng nói riêng ........................ 84

3.1.1. Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS 2015 ................................ 84
3.1.2. Biện pháp nâng cao trách nhiệm của CQĐT, Viện kiểm sát trong
giai đoạn điều tra, truy tố vụ án hình sự.............................................. 98
3.1.3. Nâng cao cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ cho các cơ quan tiến
hành tố tụng ....................................................................................... 100
3.1.4. Tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ quyền con người trong tố
tụng hình sự ....................................................................................... 102


3.2.

Đối với huyện Thƣờng Tín ............................................................. 103

Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................ 106
KẾT LUẬN .................................................................................................. 107


Tòa án nhân dân

TTHS:

Tố tụng hình sự

VAHS:

Vụ án hình sự

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1

Thống kê các VAHS được điều tra, truy tố,
xét xử từ năm 2016 - 2018

36


Thống kê người chưa thành niên phạm tội bị
khởi tố từ năm 2016 - 2018

49

Thống kê các tội phạm xâm hại trẻ em từ năm
2016 - 2018

53

Thống kê vụ án có bị can nữ đã khởi tố từ năm
2016 - 2018

55

Thống kê các vụ án khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại từ 2016 - 2018

66

Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Bảng 2.10

1


đoạn tố tụng quan trọng, trong đó CQĐT tra căn cứ vào các quy định của
pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện
pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình
tiết của VAHS, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm để truy cứu trách
nhiệm hình sự. Giai đoạn truy tố về hình sự là giai đoạn Viện kiểm sát thực
hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ
của toàn bộ các hành vi tố tụng mà cơ quan Điều tra có thẩm quyền đã áp
dụng để bảo đảm cho các quyết định của Viện kiểm sát được chính xác và
khách quan, góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng tội, đúng người và
đúng pháp luật.
Các nhóm người dễ bị tổn thương là những đối tượng dễ lâm vào
những hoàn cảnh bất lợi, thua thiệt hơn so với những người bình thường khác.
Do đó, việc quan tâm ưu tiên bảo vệ hơn đối với những nhóm người này là
vấn đề cần được nghiên cứu cụ thể để giúp đỡ họ theo kịp với các nhóm khác,
đảm bảo sự công bằng cho họ. Đối với những nhóm người dễ bị tổn thương,
họ sẽ gặp khó khăn hơn khi có liên quan đến các VAHS. Với tinh thần sửa đổi
nhằm đảm bảo hơn các quyền con người, BLTTHS 2015 cũng đã có những
quy định cụ thể hơn nhằm bảo vệ quyền của những nhóm người dễ bị tổn
thương khi họ tham gia tố tụng.
Bởi vậy, trong bối cảnh hiện nay, khi BLHS và BLTTHS 2015 đã có
hiệu lực từ ngày 01/01/2018, học viên mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Bảo đảm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong giai đoạn điều tra,
truy tố vụ án hình sự: Từ thực tiễn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội”
làm luận văn thạc sỹ nhằm so sánh, nghiên cứu những quy định mới, cụ thể
của luật TTHS năm 2003 và năm 2015 về việc bảo vệ quyền con người của
các nhóm người dễ bị tổn thương khi họ tham gia tố tụng, qua một thời gian
đi vào thực tiễn, quyền của các nhóm này trên thực tế (tại địa bàn huyện

quyền con người của một số nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em,

3


người khuyết tật, người sống chung với HIV/AIDS, người lao động di trú,
người thiểu số và một số nhóm dễ bị tổn thương khác như người bản địa,
người tị nạn và người không quốc tịch, cơ chế giám sát việc thực thi quyền
của một số nhóm người dễ bị tổn thương.
- Bài viết: Bảo đảm quyền con người, quyền công dân - Tư tưởng xuyên
suốt trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 - Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Hòa
Bình trong cuốn sách Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 của Nhà xuất bản chính trị Quốc gia - Sự thật, tr.40-54. Nội dung bài
viết phân tích khái quát những điểm mới ưu việt của BLTTHS năm 2015
trong việc bảo đảm quyền con người nói chung và một số nhóm dễ bị tổn
thương nói riêng như nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, người tiến hành
tố tụng, việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công
dân, bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội,...
- Bài viết: Bộ luật hình sự năm 2015 với việc bảo đảm thực hiện quyền
con người - Tác giả: PGS.TS. Hoàng Thế Liên - Nguyên Thứ trưởng Thường
trực Bộ Tư pháp. Nội dung bài viết phân tích những điểm mới của BLHS
2015 trong việc bảo vệ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân, quy
định về bãi bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội danh, quy định về việc bảo
đảm quyền của một số nhóm dễ bị tổn thương,...
- Bài viết: Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự - một số vấn
đề cần trao đổi - Tác giả Đoàn Thị Ngọc Hải - . Bài viết đề
cập đến quyền con người trong tố tụng hình sự quy định trong pháp luật quốc
tế và pháp luật quốc gia, bên cạnh đó, tác giả có phân tích một số quy định bảo
vệ quyền con người của các nhóm dễ bị tổn thương được phân loại theo tư cách
tham gia tố tụng như người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng.

hành từ ngày 01/01/2018) dưới góc độ so sánh với BLTTHS 2003, có liên
hệ với các luật cụ thể khác có quy định liên quan đến các nhóm dễ bị tổn

5


thương. Đánh giá mức độ phù hợp trên tinh thần Hiến pháp 2013 và luật
nhân quyền quốc tế.
- Những ưu điểm, hạn chế trong việc thực thi BLTTHS mới tại địa bàn
huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
để bảo đảm, thực thi quyền con người của các nhóm dễ bị tổn thương.
- Đưa ra những giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật, nâng
cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
nhằm bảo đảm các quyền con người của các nhóm dễ bị tổn thương trong giai
đoạn điều tra, truy tố VAHS.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên
cứu, giảng dạy về vấn đề này. Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo
có giá trị đối với các cán bộ đang làm công tác tại các Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án các cấp.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành đối với người tham gia TTHS thuộc các
nhóm dễ bị tổn thương chủ yếu như: Người chưa thành niên, người có nhược
điểm về thể chất hoặc tinh thần, người bị tước tự do (người bị tạm giữ, tạm
giam), người bị đối mặt với hình phạt tử hình, người nghèo, người có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn tại huyện Thường Tín, thành phố Hà
Nội từ thời điểm năm 2016 đến năm 2018.
6. Nội dung, địa điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nội dung nghiên cứu

nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự
Chương 2: Thực tiễn bảo đảm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương
trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án hình sự tại huyện Thường Tín, thành
phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của các nhóm dễ
bị tổn thương trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án hình sự.
7


Chƣơng 1
NHỮNG KHÍA CẠNH LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA
CÁC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƢƠNG TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA,
TRUY TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Nhóm dễ bị tổn thƣơng và những đặc thù
1.1.1. Khái niệm về tính dễ bị tổn thương và các nhóm người dễ bị
tổn thương
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tính dễ bị tổn thương. Theo quan
điểm của Ingrid Nifosi-Sutton (Giáo sư về Luật Quốc tế, Luật Nhân quyền
quốc tế và tổ chức quốc tế của Trường Đại học Luật Washington, Mỹ) trong
cuốn sách Bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương trong Luật nhân quyền quốc tế thì
“tính dễ bị tổn thương” trong luật quốc tế được thể hiện ở hai yếu tố cấu
thành: (i) có đặc điểm về thể chất hoặc trong tình trạng bị khiếm khuyết v.v.,
không quốc tịch hoặc bị tước quyền tự do, tình trạng tìm kiếm tị nạn; (ii) về
mặt pháp lý căn cứ vào hoạt động của luật pháp mà làm cho một số người bị
tổn thương hơn trong việc vi phạm quyền con người hoặc không thể thực hiện
được các quyền con người này, ví dụ như nhóm người bản địa, người di cư,
người sống chung với HIV/AIDS [47].
Theo quan điểm của Bryan Stanley Turner (Giáo sư về xã hội học của
Trường Đại học Cambrigde, Anh) trong cuốn Dễ bị tổn thương và nhân quyền,
cho rằng, toàn bộ hệ thống của Liên Hợp quốc được hình thành trên cơ sở lấy

Trong pháp luật Việt Nam cũng quy định về những người dễ bị tổn
thương như:
- Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định những người được trợ giúp
pháp lý bao gồm người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô
đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số
thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn [30, Điều 7].
- Luật phòng, chống thiên tai năm 2013 quy định về đối tượng dễ bị tổn

9


thương là nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng phải
chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ thiên tai so với những nhóm người khác
trong cộng đồng. Đối tượng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, người cao tuổi,
phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người khuyết
tật, người bị bệnh hiểm nghèo và người nghèo [24, Điều 3].
Ngoài ra, Luật Người khuyết tật, Luật Trẻ em,... là những luật cụ thể
quy định về từng nhóm người dễ bị tổn thương.
1.1.2. Sự phân chia các nhóm dễ bị tổn thương
Căn cứ vào độ tuổi có thể chia ra các nhóm dễ bị tổn thương gồm: Trẻ
em, phụ nữ, người cao tuổi,...
Căn cứ vào đặc điểm về thể chất có thể chia ra các nhóm dễ bị tổn thương
gồm: Người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo, người sống chung với
HIV/AIDS,...
Căn cứ vào các đặc điểm về hoàn cảnh sống có thể chia ra các nhóm dễ
bị tổn thương gồm: Người tị nạn, người lao động di trú, người thiểu số, người
bản địa, người không quốc tịch, người nước ngoài,…
Căn cứ vào tư cách tham gia TTHS có thể phân chia các nhóm dễ bị tổn
thương gồm: Người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, người
bị kết án, người bị thi hành án, người bị hại,…

hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể
phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ
sở bình đẳng với những người khác”. Người khuyết tật được coi là một trong
những nhóm dễ bị tổn thương nhất, vì tình trạng khuyết tật khiến họ dễ bị
phân biệt đối xử do những nhược điểm cơ thể, tâm thần, trí tuệ, cảm xúc,…
và thường bị người khác kỳ thị, trêu đùa, bỏ rơi và bị mặc cảm. Tình trạng
khuyết tật cũng làm cho người bị khuyết tật khó khăn hơn trong việc thực
hiện các quyền của mình như quyền học tập, lao động, tham gia vào các hoạt
động vui chơi, giải trí,… [7, tr.289].

11


Với những đặc điểm dễ bị tổn thương như vậy, người khuyết tật dễ
phạm tội và dễ bị tổn thương bởi tội phạm. Khi tham gia TTHS, người khuyết
tật là đối tượng dễ chịu thiệt thòi do thiếu hiểu biết pháp luật, thiếu những
phương tiện kỹ thuật hỗ trợ tiếp cận tư pháp, đa số họ có hoàn cảnh khó khăn
thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý nhưng quyền này của họ dễ bị bỏ qua
bởi những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng…
1.1.3.3. Phụ nữ
Phụ nữ là nhóm dễ bị tổn thương chiếm số lượng lớn nhất trong số các
nhóm dễ bị tổn thương do phụ nữ chiếm một nửa thế giới nên vấn đề quyền
của phụ nữ thu hút sự quan tâm rất lớn của cộng đồng quốc tế [7, tr.232].
Năm 1967, Liên hợp quốc thông qua Tuyên bố về xoá bỏ mọi hình thức phân
biệt đối xử chống lại phụ nữ. Sau đó là sự ra đời của Công ước về xoá bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) vào ngày 18-12-1979,
có hiệu lực từ ngày 3-9-1981, nội dung của công ước đề ra những cách thức,
biện pháp nhằm loại trừ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong việc
hưởng thụ các quyền con người mà họ đã được thừa nhận trong những điều
ước quốc tế trước đó.

Cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù quyền của người thiểu số đã được
khẳng định trong ICCPR (Điều 27) và Tuyên bố về quyền của những người
thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm
1992, nhưng vẫn chưa có một định nghĩa nào về “người thiểu số” được chính
thức xác nhận trong bất cứ văn kiện quốc tế nào của Liên hợp quốc. Tuy
nhiên, có thể thấy người thiểu số có những đặc điểm sau: Có số lượng ít, nếu
so sánh với nhóm đa số cùng sinh sống trên cùng lãnh thổ; Là nhóm yếu thế
trong xã hội (thể hiện ở tiềm lực, vai trò và ảnh hưởng của nhóm tới đời sống
chính trị, kinh tế, xã hội ở lãnh thổ nơi họ sinh sống); Có những đặc điểm
riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục tập quán... mà vì thế có
thể phân biệt họ với nhóm đa số [7, tr.319].

13


Người thiểu số do những hiểu biết về pháp luật bị hạn chế nên họ dễ trở
thành nạn nhân của tội phạm. Bên cạnh đó, người thiểu số cũng dễ bị lợi dụng
bởi những lợi ích về vật chất và trở thành đồng phạm trong những vụ án buôn
bán ma túy xuyên quốc gia hay buôn lậu,… Khi tham gia TTHS, người thiểu
số cũng bị cản trở bởi khác biệt về tiếng nói, chữ viết, bản sắc văn hóa, trình
độ hiểu biết pháp luật nên họ dễ bị phân biệt đối xử hoặc bị bỏ qua các quyền
trong tố tụng bởi những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
1.2. Quyền của các nhóm dễ bị tổn thƣơng trong giai đoạn điều tra,
truy tố vụ án hình sự theo pháp luật nhân quyền quốc tế
Bảo đảm quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong giai đoạn điều tra,
truy tố vụ án hình sự là việc bảo đảm các yếu tố cần và đủ cho quá trình thực
hiện quyền con người của các nhóm dễ bị tổn thương trong giai đoạn điều tra,
truy tố nhằm làm cho các hoạt động này có hiệu lực, hiệu quả cao nhất. Các
yếu tố cơ bản đó bao gồm: Một hệ thống quy phạm pháp luật đầy đủ, cơ sở vật
chất - kỹ thuật hiện đại, hệ thống các CQĐT, Viện kiểm sát có chất lượng; có


, quyền tự do là quyền cơ bản của con

người, là tiền đề để con người có thể thực hiện những quyền con người khác.
Con người chỉ có thể bi ̣tước đoa ̣t quyề n tự do mô ̣t cách hơ ̣p pháp trong mô ̣t
số trường hơ ̣p nhấ t đinh
̣ . Quyền tự do tuy không phải là quyền tuyệt đối
nhưng là quyền rất quan trọng cần phải được tôn trọng và bảo vệ trong TTHS.
* Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện
được quy định tại Điều 9, UDHR: “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một
cách tùy tiện”. Quyền này cũng đã được cụ thể hóa hơn tại Điều 9, ICCPR.
Điều 9, ICCPR đã được giải thích tại Bình luận chung số 8 (phiên họp thứ 16,
1992). Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc về những biện pháp
không giam giữ (Các quy tắc Tokyo), 1990 cũng có quy định về tránh giam
giữ tiền xét xử. Như vậy, theo quy định của pháp luật nhân quyền quốc tế,
việc giam, giữ một con người trước khi xét xử chỉ được coi là biện pháp cuối
cùng và việc áp dụng phải tuân thủ những quy định tố tụng chặt chẽ để tránh
việc áp dụng tùy tiện có thể gây ảnh hưởng lớn đến các quyền con người.
* Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo,
vô nhân đạo hoặc hạ nhục
Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô

15


nhân đạo hoặc hạ nhục được ghi nhận tại Điều 5 (UDHR) và Điều 7 (ICCPR).
Điều 7 ICCPR ghi nhận: “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt
một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.” Trong Bình luận
chung số 20, HRC bắt đầu với việc xác định mục đích của Điều 7 ICCPR là

đoán vô tội, không hình sự hóa vụ án dân sự, không bị áp dụng hồi tố). Các
quyền này cũng được quy định trong ICCPR tại các Điều 11 (không hình sự
hóa vụ án dân sự); Điều 14 (quyền được xét xử công bằng; quyền được suy
đoán vô tội; quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập, không thiên vị); Điều
15 (không bị áp dụng hồi tố). Tại Bình luận chung số 32, HRC đã giải thích
về Điều 14 ICCPR. Theo đó, mục đích của Điều 14 ICCPR là bảo đảm công
lý và làm tiền đề bảo đảm một số quyền cụ thể trong đó, các quốc gia của
thành viên có thể bảo lưu một số bảo đảm cụ thể ở Điều 14 nhưng không
được bảo lưu chung về quyền được xét xử công bằng.
* Quyền được thông tin
Quyền được thông tin được quy định tại Điều 9 ICCPR, các Điều 7, 8
Công ước Châu Mỹ về quyền con người, Điều 5 Công ước châu Âu về bảo vệ
quyền con người và tự do cơ bản. Quyền này còn được quy định tại Nguyên
tắc 10, 11, 13, 14 của Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị
giam hay tù bất kỳ hình thức nào. Tất cả các quy định này đều thể hiện: Bất
cứ ai bị bắt đều có quyền biết được chính xác lý do khiến mình bị bắt và được
thông báo kịp thời về bất cứ cáo buộc nào chống lại mình. Người bị bắt tạm
giữ, tạm giam có quyền biết lý do, cơ sở pháp lý của việc họ bị bắt, tạm giữ
tạm giam để nhận biết được tính hợp pháp của việc bị giam giữ, từ đó có
những hành động tự bảo vệ như mời luật sư trợ giúp bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ. Theo Nguyên tắc 14, Nguyên tắc 16 Tập hợp các nguyên tắc
về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù dưới bất kỳ hình thức nào; Điều
36 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự thì một người bị bắt, giam giữ hay bị tù
có quyền được được hiểu đầy đủ các thông tin qua ngôn ngữ mà họ hiểu

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status