Nghiên cứu đa dạng hệ sinh thái tại khu di tích mỹ sơn tỉnh quảng nam và đề xuất một số giải pháp bảo tồn gắn với phát triển bền vững - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Đặng Ngọc Bích

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG HỆ SINH THÁI TẠI KHU DI TÍCH
MỸ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP BẢO TỒN GẮN VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Đặng Ngọc Bích

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG HỆ SINH THÁI TẠI KHU DI TÍCH
MỸ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP BẢO TỒN GẮN VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 8420101.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Đoàn Hƣơng Mai
TS. Ngô Xuân Nam
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG


bè đã động viên giúp đỡ và là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Một lần nữa, học viên xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2018
Tác giả luận văn

Đặng Ngọc Bích


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN ........................................................................................... 3
1.1. Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu hệ sinh thái ....................................... 3
1.1.1. Một số khái niệm về hệ sinh thái................................................................ 3
1.1.2. Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái ...................................................... 4
1.1.3. Các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái và vai trò của chúng ............... 6
1.1.4. Dịch vụ sinh thái (Ecosystem services) ..................................................... 9
1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đa dạng hệ sinh thái trên thế giới và ở
Việt Nam ............................................................................................................... 11
1.3. Bảo tồn và phát triển bền vững ...................................................................... 17
Chƣơng 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.......................................................................................................... 21
2.1. Thời gian, địa điểm và đối tƣợng nghiên cứu ................................................ 21
2.1.1. Thời gian nghiên cứu................................................................................ 21
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu ................................................................................ 21
2.1.3. Đối tƣợng nghiên cứu ............................................................................... 21
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................... 21
2.2.1. Phƣơng pháp hồi cứu................................................................................ 21
2.2.2. Phƣơng pháp khảo sát thực địa ................................................................ 21
2.2.3. Phƣơng pháp phỏng vấn ........................................................................... 22


DVST

Dịch vụ sinh thái

HST

Hệ sinh thái

PTBV

Phát triển bền vững

PTNT

Phát triển nông thôn

UNESCO

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Phân loại dịch vụ sinh thái ....................................................................... 10
Bảng 1.2. Các kiểu HST trên thế giới ....................................................................... 12
Bảng 1.3. Phân loại các kiểu hệ sinh thái (ecosystem types) ở Việt Nam ................ 14
Bảng 3.1. Tổng hợp thành phần động thực vật tại Khu di tích Mỹ Sơn ................... 31
Bảng 3.2. Diện tích các hệ sinh thái tại Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam ......... 34
Bảng 3.3. Hiện trạng các công trình xây dựng ở Khu di tích Mỹ Sơn ..................... 41
Bảng 3.4. Đánh giá các dịch vụ sinh thái của các hệ sinh thái ở Khu di tích Mỹ Sơn,

cổ. Từ ngọn núi này, khởi nguồn của dòng suối Khe Thẻ chảy qua giữa thung lũng
rồi theo hƣớng Bắc đổ ra sông Thu Bồn. Giá trị Khu di tích Mỹ Sơn không chỉ nằm
ở khu vực trung tâm với khoảng 70 ngôi đền tháp mà giá trị đó còn gắn liền với một
không gian văn hóa và tự nhiên xung quanh. Những cánh rừng tự nhiên và những
dòng suối đã tạo nên cảnh quan đặc biệt cho Khu di tích Mỹ Sơn.
Theo Quyết định số 1915/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ngày
30/12/2008 về Phê duyệt dự án quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích
Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2008 - 2020, quy hoạch bảo tồn và phát huy giá
trị Khu di tích Mỹ Sơn bao gồm toàn bộ thung lũng Mỹ Sơn giới hạn bằng các đỉnh
núi bao quanh thung lũng nhƣ đỉnh núi Văn Chỉ, đỉnh núi Hòn Ngang, đỉnh núi Đá
Bèo, đỉnh núi Kỳ Vĩ, đỉnh núi Mật Mã. Trong đó, phạm vi nghiên cứu quy hoạch là
toàn bộ Khu di tích Mỹ Sơn, các cánh rừng trên sƣờn núi phía trong thung lũng Mỹ
Sơn, khu vực xây dựng các công trình quản lý và dịch vụ thuộc khu Mỹ Sơn Thạch Bàn, có tổng diện tích phạm vi nghiên cứu quy hoạch là 11.580.000 m2 18.
Hiện nay, các nghiên cứu về bảo tồn chủ yếu tập trung vào khu vực đền tháp nhằm
tôn tạo, ngăn chặn quá trình hủy hoại của toàn bộ các di tích hiện còn ở Mỹ Sơn,
đặc biệt là các di tích gốc; các công trình nghiên cứu chƣa chú trọng đến bảo tồn
cảnh quan thiên nhiên tại thung lũng Mỹ Sơn. Ngoài bảo tồn khu vực đền tháp, việc
bảo tồn khu vực quanh khu di tích cũng rất quan trọng.
Tuy nhiên, cho đến nay, tại khu di tích này vẫn chƣa có công trình nghiên
cứu tổng hợp nào liên quan đến cảnh quan thiên nhiên và hệ sinh thái quanh khu di
tích. Vì vậy, rất cần những nghiên cứu về hệ sinh thái ở Khu di tích Mỹ Sơn, từ đó
giúp cho địa phƣơng và các nhà nghiên cứu có biện pháp bảo tồn phù hợp góp phần
duy trì và phát huy giá trị di sản nhƣng vẫn đảm bảo hài hòa giữa phát triển và gìn
giữ nét văn hóa, lịch sử của ngƣời Champa.
1


Trƣớc những thực tế nhƣ trên, đề tài: “Nghiên cứu đa dạng hệ sinh thái tại
Khu di tích Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam và đề xuất một số giải pháp bảo tồn gắn
với phát triển bền vững” đƣợc thực hiện với mục tiêu:

Theo Odum (1971), sinh vật và thế giới vô sinh ở xung quanh có quan hệ
khăng khít với nhau và thƣờng xuyên có tác động qua lại. Đơn vị bất kỳ nào bao
gồm tất cả các sinh vật (có nghĩa là quần xã) của một khu vực nhất định đều tác
động qua lại với môi trƣờng vật lý bằng các dòng năng lƣợng tạo nên cấu trúc dinh
dƣỡng xác định, sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn vật chất (tức là trao đổi
giữa các phần tử vô sinh và hữu sinh) trong mạng lƣới đƣợc gọi là hệ thống sinh
thái hoặc HST 44.
Năm 1990, Mai Đình Yên định nghĩa ngắn gọn về HST, đó là hệ thống bao
gồm sinh vật và môi trƣờng tác động lên nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hoàn vật
chất và dòng năng lƣợng 32.
Theo Dƣơng Hữu Thời (1998), HST là một đơn vị chức năng và cấu trúc cơ
sở. Nó gồm 2 thành phần chính: sinh vật và môi trƣờng mà trong đó sinh vật hoạt
động sống 24.
Năm 2000, Vũ Trung Tạng đã đƣa ra khái niệm HST là tổ hợp của một quần
xã sinh vật với môi trƣờng vật lý mà quần xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật tƣơng
tác với nhau và với môi trƣờng để tại nên chu trình vật chất và sự chuyển hóa của
năng lƣợng. HST lại trở lại thành một bộ phận cấu trúc của một HST duy nhất toàn
cầu hay còn gọi là sinh quyển (biosphere) 20.
3


Khái niệm HST đã phát triển từ quần lạc sinh vật đến tổ hợp của quần xã
sinh vật với môi trƣờng sống và bao gồm cả mối quan hệ giữa chúng.
Theo Lê Vũ Khôi (2017), HST có thể có quy mô khác nhau: HST nhỏ (ví dụ
nhƣ một chậu hoa cảnh), HST vừa (ví dụ nhƣ một hồ chứa nƣớc, một thảm rừng),
HST lớn (ví dụ nhƣ một đại dƣơng, một khu rừng) 9.
1.1.2. Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái
Mỗi HST gồm các thành phần cấu trúc là thành phần vô sinh và thành phần
hữu sinh. Thành phần vô sinh (sinh cảnh) bao gồm các yếu tố nhƣ ánh sáng, khí
hậu, đất, nƣớc… Thành phần hữu sinh là các quần xã sinh vật. Thành phần cấu trúc

Các yếu tố khí hậu.
Thực chất ba thành phần đầu chính là quần xã sinh vật, còn ba thành phần

sau là môi trƣờng vật lý và hóa học mà quần xã đó sử dụng để tồn tại và phát triển.
Sinh vật sản xuất (Producer - P) là những sinh vật tự dƣỡng (autotrophy),
gồm các loài thực vật có màu xanh và một số nấm, vi khuẩn có khả năng quang hợp
hoặc hóa tổng hợp. Chúng là thành phần không thể thiếu đƣợc trong bất kỳ HST
hoàn chỉnh nào. Nhờ hoạt động quang hợp và hóa tổng hợp của chúng mà nguồn
thức ăn ban đầu đƣợc tạo thành để nuôi sống, trƣớc tiên chính những sinh vật sản
xuất sau đó, nuôi sống cả thế giới sinh vật còn lại, trong đó kể cả con ngƣời.
4


Sinh vật tiêu thụ (Consumer - C) là những sinh vật dị dƣỡng (heterotrophy)
bao gồm tất cả các loài động vật và những vi sinh vật không có khả năng quang hợp
và hóa tổng hợp, nói một cách khác, chúng tồn tại đƣợc là dựa vào nguồn thức ăn
ban đầu do các sinh vật tự dƣỡng tạo ra. Tuỳ theo đặc điểm tiêu thụ của chúng,
đƣợc chia ra:
- Sinh vật tiêu thụ bậc 1 (C1): bao gồm những loài động vật ăn thực vật.
- Sinh vật tiêu thụ bậc 2 (C2): Bao gồm sinh vật ăn thịt, sử dụng sinh vật tiêu
thụ bậc 1 làm thức ăn.
- Sinh vật tiêu thụ bậc 3 và bậc 4 (C3 và C4) có thể là sinh vật ăn thịt, sử
dụng sinh vật tiêu thụ bậc 2 làm thức ăn. Cũng có thể là ký sinh trùng sống ký sinh
trên sinh vật tiêu thụ bậc 1 hoặc bậc 2 hoặc động vật ăn xác chết.
Sinh vật phân hủy (Decomposer - D) là tất cả các vi sinh vật dị dƣỡng, sống
hoại sinh (saprophy). Trong quá trình phân hủy các chất, chúng tiếp nhận nguồn
lƣợng hóa học để tồn tại và phát triển, đồng thời giải phóng các chất từ các hợp chất
hữu cơ phức tạp ra môi trƣờng dƣới dạng những khoáng chất đơn giản hoặc các
nguyên tố hóa học ban đầu tham gia vào chu trình (nhƣ CO2, O2, N2...).
Trong tự nhiên, HST không tồn tại độc lập mà còn liên hệ mật thiết với các

hệ của quần xã sinh vật với môi trƣờng vật lý mà quần xã đó tồn tại đƣợc xác lập và
5


ít thay đổi từ năm này đến năm khác, chính là kết quả cân bằng của 4 chức năng nêu
trên trong các HST lớn 46.
Một hệ thống mới trong quá trình phát triển sẽ đạt đến trạng thái cân bằng ổn
định, phải sau một thời gian dài tiến hoá thích nghi, trong đó bao gồm sự phát triển
tƣơng hỗ của các thành phần cấu trúc. Mỗi một chức năng của hoạt động chức năng
lại chứa đựng các phần cấu trúc riêng 44.
Do tính cấu trúc đa dạng, HST ngày càng hƣớng đến trạng thái cân bằng ổn
định và tồn tại vô hạn khi không chịu những tác động mạnh, vƣợt quá ngƣỡng chịu
đựng của mình.Cấu trúc và chức năng của HST thay đổi theo không gian và thời
gian, vì vậy, cần thay đổi theo không gian và thời gian khi đánh giá, lập bản đồ và
quản lý HST 20.
Trong một khu vực nghiên cứu có thể tốt hoặc kém hơn so với các khu vực
khác do sự khác nhau về thành phần đất và chế độ thủy văn. Mỗi điều kiện này quy
định sự hình thành những loài động vật hay thực vật nhất định. Ở khu vực không
gian rộng hơn, nhiệt độ và gradient độ ẩm thay đổi theo vĩ độ, độ cao. Sự thay đổi
theo không gian rộng lớn thể hiện sự phong phú của môi trƣờng mà sự thay đổi này
ảnh hƣởng đến cảnh quan của vùng, cấu trúc chức năng của HST 20.
1.1.3. Các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái và vai trò của chúng
Quần thể sinh vật là dạng tồn tại của loài trong HST, tất cả các sinh vật về
bản chất không thể sống biệt lập mà ít nhiều có mối quan hệ tƣơng tác với các cá
thể khác của cùng một loài. Quần thể là một nhóm cá thể của một loài, khác nhau về
kích thƣớc, về tuổi và giới tính, nhƣng có khả năng giao phối tự do với nhau để tái
xuất số lƣợng và phân bố trong vùng phân bố của loài. Quần xã sinh vật là một tổ
hợp bất kỳ của các quần thể phân bố trong lãnh thổ hoặc sinh cảnh xác định 6. Các
mối quan hệ tƣơng tác giữa sinh vật với sinh vật, giữa sinh vật với môi trƣờng làm
cho HST trở nên phong phú, đa dạng nhƣng vẫn có khả năng tự điều chỉnh bằng các

biểu thị một cách rõ nét đặc trƣng của môi trƣờng trên cạn. Ví dụ nhƣ thảm thực vật
đƣợc gọi tên rừng cây lá kim, rừng lá rộng rụng lá, savan, cây bụi… Những tên gọi
này đặc trƣng cho quần xã sinh vật điển hình của HST. Thảm thực vật trong HST
trên cạn có vai trò quan trọng. Ngoài chức năng là sinh vật sản xuất, thảm thực vật
còn giữ vai trò quan trọng trong các chu trình vật chất. Nhiều tác giả dựa vào đặc
điểm thảm thực vật để phân chia các HST 8.
7


Sinh vật dị dưỡng hay sinh vật tiêu thụ:
Đây là những sinh vật thu nhận thức ăn và năng lƣợng từ các sinh vật khác,
hoặc là của động vật, hoặc là thực vật hoặc là cả hai, bao gồm: động vật ăn thực vật,
động vật ăn thịt, động vật ăn tạp và những động vật ăn thịt bậc cao. Sinh vật dị
dƣỡng không tự sản sinh ra chất hữu cơ cho bản thân nó mà tiêu thụ các chất hữu cơ
từ nguồn gốc có sẵn nên đƣợc gọi là sinh vật tiêu thụ. Các sinh vật tiêu thụ chiếm
giữ một số bậc dinh dƣỡng. Những sinh vật tiêu thụ ăn thực vật sống là những sinh
vật tiêu thụ sơ cấp hay động vật ăn thực vật. Những sinh vật tiêu thụ động vật ăn
thực vật là những sinh vật tiêu thụ bậc 2 hay động vật ăn thịt. Trong một số HST, có
những động vật ăn động vật ăn thịt, đây là những sinh vật tiêu thụ bậc 3 hay những
động vật ăn thịt bậc cao. Có cả những động vật ăn cả động vật, ăn cả thực vật, đó là
động vật ăn tạp. Sinh vật ăn chất hữu cơ chết là sinh vật ăn phế liệu. Những thành
phần này có quan hệ sinh học chặt chẽ với nhau và trong quan hệ dinh dƣỡng,
chúng là các mắt xích trong chuỗi thức ăn và lƣới thức ăn trong quần xã 1.
Sinh vật phân hủy hay sinh vật ăn mùn bã:
Những sinh vật sống hoại sinh các chất hữu cơ chết gọi là sinh vật phân hủy,
trong khi sinh vật ăn mùn bã phá vỡ chúng thành những mảnh nhỏ hơn và tiêu thụ
từng phần 1.
Trong các quần xã sinh vật trong HST bất kỳ đều có sinh vật phân hủy. Quá
trình phân giải đƣợc phân ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn phá vụn các xác chết động vật, thực vật, các chất hữu

hội đều dựa vào những dịch vụ này - khai thác nguồn nguyên liệu đầu vào, quá trình
sản xuất và điều tiết khí hậu. Tuy nhiên hiện nay nhiều HST chƣa đƣợc định giá
đúng mức hoặc không có giá trị kinh tế nào cả. Do quyết định hàng ngày đƣợc đƣa
ra chỉ ƣu tiên làm sao để thu đƣợc lợi nhuận tài chính ngay lập tức, hàng loạt cấu
trúc và chức năng của HST đều bị định giá thấp hơn giá trị thực của nó.
Thuật ngữ DVST: “DVST là các lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp mà con
ngƣời hƣởng thụ từ các chức năng của HST” đƣợc mô tả trong tài liệu Đánh giá
HST thiên niên kỷ (2005) 54. Bản báo cáo đã xác định danh mục các loại hình
DVST cung cấp nhƣ: sản phẩm lƣơng thực, thực phẩm (nhƣ lúa gạo, vật nuôi, thủy
hải sản...); các cây công nghiệp (nhƣ bông, gỗ, gai dầu...); các nguồn dƣợc liệu;
cung cấp nguồn nƣớc; điều hòa không khí; điều tiết nguồn nƣớc; hạn chế xói mòn;
các dịch vụ văn hóa (bao gồm cả tinh thần và tôn giáo, các giá trị thẩm mỹ, giải trí,
9


du lịch sinh thái...). Cũng theo báo cáo, khoảng 60% DVST trên thế giới đang bị
suy thoái hoặc khai thác, sử dụng không bền vững.
Các DVST - việc cung cấp tài nguyên thiên nhiên và các chức năng của HST
nhằm tạo ra các hàng hoá và dịch vụ có giá trị về kinh tế và môi trƣờng.
Dựa vào vai trò, chức năng khác nhau của HST, các nhà sinh thái học đã
phân thành 4 nhóm chức năng hay 4 loại dịch vụ của HST với mục đích khác nhau
về kinh tế - xã hội, bao gồm:
Bảng 1.1. Phân loại dịch vụ sinh thái
Rừng
1. Dịch vụ - Lƣơng thực
cung cấp
- Nƣớc
- Nhiên liệu
- Sợi
- Nguồn gen

- Sợi
- Nguồn gen
- Nguồn gen
Biển

- Điều hòa/Ổn định
khí hậu
- Điều tiết dịch bệnh.
- Giữ trầm tích

- Điều hòa/Ổn định
khí hậu
- Bảo trì chất
lƣợng/Lọc nƣớc
- Hấp thụ CO2
- Thụ phấn

- Tái tạo chất dinh
dƣỡng
- Sản xuất cơ bản
- Năng suất sinh học

- Tái tạo chất dinh
dƣỡng
- Kiến tạo đất
- Năng suất sinh học

-Đa dạng sinh học
- Đa dạng sinh học
- Thẩm mỹ

-

Lƣợng nƣớc trong hồ chứa đã tăng lên 4 lần kể từ năm 1960 đến năm 2000.

-

Các dòng tuần hoàn vật chất của nitơ và phốt pho sinh học đã đƣợc tăng lên

2-3 lần.
-

Tốc độ gia tăng những loài đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng tăng ở mức

gấp 1000 lần so với tốc độ cơ bản trong lịch sử.
-

10-30% của động vật, chim và động vật lƣỡng cƣ đang bị đe dọa tuyệt

chủng.
Chính vì vậy, cần có những nhận thức, đánh giá đúng đắn về những giá trị
mà DVST của các HST mang lại để khai thác một cách hợp lý, hiệu quả, bền vững.
1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đa dạng hệ sinh thái trên thế giới và ở
Việt Nam
Năm 1980, hai nhà sinh thái học Norse và McManus đã viết một chƣơng
trong Báo cáo hàng năm của Ủy ban về Chất lƣợng môi trƣờng, đề cập tới đa dạng
sinh học toàn cầu và đƣa ra hai khái niệm đa dạng hệ sinh thái (ecological
diversity). Sau đó, IUCN đã thúc đẩy ý tƣởng xây dựng một công ƣớc toàn cầu về
đa dạng sinh học. Theo Công ƣớc Đa dạng sinh học (1992) 50: “Đa dạng sinh học là
sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở
biển và các HST dƣới nƣớc khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng


yếu tố, nhƣng nếu chỉ xét trên hai thành phần chính là môi trƣờng và sinh vật sẽ
thuận tiện hơn.
-

Cách đánh giá và thể hiện mức độ đa dạng HST, cảnh quan thông thƣờng

hiện nay là sử dụng các bản đồ, các ảnh; đối với đánh giá đa dạng loài là danh lục,
còn đa dạng gen là các sơ đồ phân tích điện di.
Năm 1973, Ellenberg phân loại các HST trên thế giới thành 15 dạng ở Bảng
1.2. Tác giả đã đƣa ra một số HST điển hình ở Ấn Độ để làm ví dụ minh họa. Tuy
nhiên, có nhiều loại HST ở những nơi khác nhau trên thế giới. Nếu phân tích vi mô
có thể phân loại thành nhiều HST hơn nữa.
Bảng 1.2. Các kiểu HST trên thế giới
STT

Loại HST

Địa điểm ví dụ

1
2
3
4
5
6

HST núi (Mountain ecosystem)
HST chân núi (Foot-hill ecosystem)
HST nông nghiệp

Thị trấn, thành phố
Khu vực khai thác vàng ở cao nguyên
Chota Nagpur ở Ấn Độ
Rừng tự nhiên, rừng trồng
Sa mạc Thar ở Ấn Độ
Đồng cỏ Prairies ở Ấn Độ
Sông Ganges ở Ấn Độ
Ao, hồ, đất ngập nƣớc
Biển Ấn Độ Dƣơng
Ven biển Konkan, Malabar ở Ấn Độ
Đảo Andaman, Nicobar ở Ấn Độ
Sunderbans ở Ấn Độ và Bangladesh
Nguồn: Ellenberg, 1973 36


Quan điểm nghiên cứu của Tunner và cộng sự (2007) về hệ thống phân loại
HST cho vùng vịnh phía Tây Mỹ dựa trên phƣơng pháp nghiên cứu thực địa tiền
trạm và nghiên cứu thực địa thu mẫu. Cảnh quan đƣợc phân loại sơ bộ dựa trên vị
trí dốc và kết cấu đất. Các mẫu thu thập bao gồm thực vật, đất đai, địa hình. Dữ liệu
thực địa lấy từ việc lấy mẫu rất phức tạp, bao gồm nhiều giá trị (mẫu), hầu hết các
chỉ tiêu sẽ đƣợc lấy 30 mẫu trở lên để đảm bảo số liệu về mặt thống kê. Sản phẩm
của nghiên cứu này là một bảng hai chiều, cho thấy sự phân loại của cả hai yếu tố là
vị trí và loài 48.
Kley và Turner (2009) đã phát triển một hệ thống phân loại sinh thái
(Ecological classification system - ECS) cho Rừng Quốc gia của Mỹ và các vùng
đất lân cận Texas và Louisiana. ECS phân loại đất thành các loại HST dựa trên cấu
trúc của thảm thực vật và đất. Sử dụng phép đo chia tỷ lệ đa chiều không gian và
TWINSPAN (Two-Way Indicator Species Analysis) để phân loại các mẫu dựa trên
thảm thực vật tầng mặt tƣơng ứng với độ dốc của vị trí địa hình, tần số cháy, sự xáo
trộn và thành phần dinh dƣỡng của đất. Kết quả của nghiên cứu đã cung cấp cho các

Tháp Mƣời…)
- Rừng tràm đất than bùn
 Nƣớc chảy
6. HST sông
7. HST suối
8. HST cửa sông
 Nƣớc ngầm
9. HST nƣớc ngầm
- Suối nƣớc nóng
- Suối nƣớc khoáng
II. Nƣớc lợ
10. HST đầm - phá
11. HST bãi biển
- Nền cát
- Nền bùn
12. HST ven biển
13. HST rừng sú vẹt

A. Hệ sinh thái trên cạn
I. Các HST nhân tạo:
1. HST đô thị / khu công nghiệp
2. HST nông thôn / nông nghiệp
i. Vùng đồng bằng và ven biển
ii. Vùng núi và trung du

II. Các HST tự nhiên:
3. HST rừng (*)
4. HST đồng cỏ
5. HST savan / đất hoang / cây bụi
6. HST đồi cát ven biển

san hô với tổng diện tích khoảng 1.000 ha. Tác giả cũng đã chỉ ra rằng HST rừng
ngập mặn, HST cỏ biển và HST rạn san hô chứa đựng sự đa dạng cao các loài cá và
các loài thủy sinh vật khác; là sinh cảnh đẻ trứng, ƣơm nuôi ấu trùng, kiếm ăn của
nhiều loài sinh vật biển của khu vực biển Đông Nam Việt Nam và của cả khu vực
Đông Nam Á. Các HST biển còn có tầm quan trọng trong việc điều hòa, cân bằng
lƣợng oxy trong nƣớc biển và bảo vệ bờ biển Côn Đảo. Nghiên cứu đa dạng HST và
bảo tồn đa dạng sinh học nhằm duy trì, lƣu giữ nguồn gene và các sinh cảnh đặc
trƣng của Côn Đảo và của Việt Nam, tạo sự cân bằng sinh thái cho môi trƣờng sống
bền vững. Bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên góp phần bảo
tồn và tôn tạo di tích lịch sử đặc biệt của Việt Nam tại Côn Đảo 2.
Đề tài nghiên cứu đặc trƣng sinh thái thảm thực vật Vƣờn Quốc gia BidoupNúi Bà và đề xuất giải pháp bảo tồn của Lê Thị Lệ Quyên (2013). Theo đặc điểm
cấu trúc đề tài đã phân chia thảm thực vật VQG thành 9 kiểu đặc trƣng bao gồm:
rừng kín thƣờng xanh cây lá rộng; rừng kín thƣờng xanh cây lá rộng, lá kim; rừng lá
kim; rừng hỗn giao cây lá rộng, tre nứa; rừng thƣa cây lá rộng bị tác động mạnh;
thảm thực vật tre nứa; trảng cỏ, cây bụi nhân tác; rừng trồng thông ba lá; cây trồng
nông nghiệp. Tác giả đã xây dựng đƣợc bản đồ thảm thực vật tỷ lệ 1/50.000 và đề
xuất giải pháp cụ thể riêng cho từng phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và vùng đệm của
Vƣờn quốc gia 15.
Thái Văn Trừng (1978) đã căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh quần thể
thực vật để phân loại HST rừng Việt Nam. Tƣ tƣởng học thuật của quan điểm này là
trong một môi trƣờng sinh thái cụ thể chỉ có thể xuất hiện một kiểu thảm thực vật
nguyên sinh nhất định. Trong môi trƣờng sinh thái đó, có 5 nhóm nhân tố sinh thái
phát sinh ảnh hƣởng quyết định đến tổ thành loài cây rừng, hình thái, cấu trúc và
hình thành nên những kiểu thảm thực vật rừng tƣơng ứng. Căn cứ vào cơ sở lí luận
trên, Thái Văn Trừng đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm
thực vật có trên đất lâm nghiệp tƣơng ứng với các HST rừng nhƣ sau 23:
- Các kiểu rừng, rừng kín vùng thấp:
I. Kiểu rừng kín thƣờng xanh, mƣa ẩm nhiệt đới
II. Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới
15

biệt, việc phân chia các hệ sinh thái thƣờng dựa vào đặc điểm của quần xã thực vật,
bởi đây là đặc điểm đặc trƣng cho HST, quần xã thực vật ít di chuyển, ít biến động
và dễ nhận biết.
16


1.3. Bảo tồn và phát triển bền vững
Khái niệm PTBV đƣợc đƣa ra năm 1987 tại hội nghị môi trƣờng thế giới ở
Stockhom. Theo đó PTBV là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện
tại và không làm tổn hại đến khả năng phát triển để thỏa mãn nhu cầu của thế hệ
tƣơng lai. PTBV cần đảm bảo sự bền vững cả về kinh tế, bền vững cả về môi trƣờng
và bền vững cả về xã hội 49.
PTBV là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã
hội loài ngƣời, vì vậy đã đƣợc các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành
Chƣơng trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Tại Hội nghị Thƣợng
đỉnh Trái đất về Môi trƣờng và phát triển đƣợc tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro
(Braxin), 179 nƣớc tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi
trƣờng và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chƣơng trình nghị sự 21
(Agenda 21) về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế
kỷ 21. Năm 2002, tại Hội nghị Thƣợng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững ở
Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), 166 nƣớc tham gia Hội nghị đã thông qua Bản
Tuyên bố Johannesburg và Bản Kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững. Hội
nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trƣớc đây và tiếp tục cam kết thực
hiện đầy đủ Chƣơng trình nghị sự 21 về phát triển bền vững.
Việt Nam đã tham gia hội nghị và cam kết thực hiện Chƣơng trình nghị sự
21; Chính phủ Việt Nam đã ban hành và tích cực thực hiện “Kế hoạch quốc gia về
Môi trƣờng và Phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000” (Quyết định số 187-CT
ngày 12/6/1991 của Chủ tịch hội đồng Bộ trƣởng) 16, tạo tiền đề cho quá trình phát
triển bền vững ở Việt Nam. Quan điểm phát triển bền vững đã đƣợc khẳng định
trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cƣờng công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status