ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ CÔNG HÙNG
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đà Nẵng - Năm 2018
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ CÔNG HÙNG
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60.31.01.05
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Quang Bình
Đà Nẵng - Năm 2018
LỜI CAM ĐOAN
LÀM CHO THANH NIÊN.............................................................................34
1.3.1. Những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội...34
1.3.2. Các chính sách của Đảng và Nhà nƣớc......................................34
1.3.3 Chính quyền, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội.................35
1.3.4 Bài học kinh nghiệm về giải quyết việc làm ở một số Thành phố
trên cả nƣớc.................................................................................................... 35
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1...............................................................................41
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ....................................42
2.1. CÁC ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI ẢNH HƢỞNG ĐẾN
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN QUẬN CẨM LỆ..............42
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên.......................................................................42
2.1.2. Đặc điểm kinh tế.........................................................................45
2.1.3 Đặc điểm xã hội...........................................................................46
2.1.4 Những thuận lợi, khó khăn trong giải quyết việc làm cho thanh
niên trên địa bàn quận Cẩm Lệ....................................................................... 48
2.2. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ............................................................................50
2.2.1. Khái quát về giải quyết việc làm thanh niên trong độ tuổi lao
động quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng........................................................50
2.2.2. Thực trạng giải quyết việc làm từ tạo việc làm mới cho thanh
niên..................................................................................................................53
2.2.3. Thực trạng giải quyết việc làm thông qua kết nối thanh niên với
các cơ sở sử dụng lao động............................................................................. 56
2.2.4. Thực trạng giải quyết việc làm thông qua đào tạo, dạy nghề, giới
thiệu việc làm và xuất khẩu lao động cho thanh niên..................................... 58
2.2.5. Tình hình thực hiện hiệu quả, đồng bộ các chính sách giải quyết
việc làm cho thanh niên.................................................................................. 61
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐ
: Cao đẳng
CNH, HĐH
: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNKT
: Công nhân kỹ thuật
CSDL
: Cơ sở dữ liệu
ĐH
: Đại học
KT
: Kinh tế Nhà nƣớc
LĐ
: Lao động
LLLĐ
VHTT
: Văn hóa thông tin
TTGDTX HN&DN: Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên hƣớng nghiệp
và dạy nghề
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
hiệu
Tên bảng
Trang
2.1. Diện tích đất nông nghiệp phân theo loại đất
44
2.2. Giá trị sản xuất trên địa bàn quận giai đoạn 2012 – 2016
45
2.3. Lực lƣợng lao động theo thành phần kinh tế
47
2.4. Danh sách các trƣờng thành lập mới giai đoạn 2012 - 2016
56
2.12. Việc làm cho thanh niên nhờ kết nối
57
2.13. Số việc làm thanh niên nhờ xuất khẩu lao động
61
1
MỞ ĐẦU
1. Vấn đề cần thiết của đề tài
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với
mọi quốc gia, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển có lực lƣợng lao động lớn
nhƣ Việt Nam. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của vấn đề trên, Đảng và Nhà
nƣớc đã đề ra nhiều chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách thiết thực, hiệu quả
nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, chuyển
đổi cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu của quá trình hiện đại hóa trong giai
đoạn hiện nay của đất nƣớc. Qua đó, giải quyết nhiều việc làm cho ngƣời lao
động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, cải thiện đời sống, phát huy lợi thế để hội nhập,
xây dựng đất nƣớc dân chủ, văn minh.
Cũng nhƣ các tỉnh thành khác trên cả nƣớc, thành phố Đà Nẵng trong
những năm qua đã có nhiều chính sách đổi mới nhằm giải quyết bài toán về
lao động và định hƣớng nghề nghiệp cho xã hội, trong đó lực lƣợng thanh
niên đƣợc đặt lên hàng đầu với nhiều chính sách hỗ trợ nhƣ: hỗ trợ vay vốn,
thành lập vƣờn ƣơm doanh nghiệp, mở phiên chợ việc làm…Nhờ đó, thành
phố Đà Nẵng đã có những phát triển mạnh trên nhiều lĩnh vực, đáp ứng đƣợc
Đạt đƣợc mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra:
+ Hệ thống những vấn đề lý luận về giải quyết việc làm cho lao động
+ Phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn
quận Cẩm Lệ giai đoạn 2012 - 2016, chỉ ra những mặt làm đƣợc, làm tốt và
những vấn đề còn tồn tại.
+ Đề xuất giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận
Cẩm Lệ giai đoạn từ nay đến năm 2020.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến giải
3
quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Cẩm Lệ.
3.2 Phạm vị nghiên cứu
Về nội dung luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm
cho thanh niên.
Không gian: Quận Cẩm Lệ
Thời gian: nghiên cứu trong giai đoạn 2012 – 2016 và đề xuất các giải
pháp giải quyết việc làm cho thanh niên đến năm 2020.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
+ Phƣơng pháp phân tích thực chứng, phân tích chuẩn tắc;
+ Hệ thống hoá, phân tích các tài liệu tham khảo và các kết quả nghiên
cứu của các đề tài đã đƣợc công bố;
+ Điều tra xã hội học và tổng hợp, phân tích các kết quả điều tra;
+ Nghiên cứu khảo sát tại cơ sở.
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích nghiên cứu các
lý luận và tài liệu khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để
tìm hiểu sâu hơn các đối tƣợng công việc. Phƣơng pháp tổng hợp lý thuyết là
liên kết từng chi tiết, từng bộ phận thông tin đã đƣợc phân tích để tạo thành
niên.
Số liệu thu thập từ Niên giám thống kê của Chi cục Thống kê quận Cẩm
Lệ, các báo cáo của phòng Lao động thƣơng binh và xã hội, Đoàn thanh niên,
Ngân hàng chính sách và xã hộ, phòng Giáo dục và Đào tạo quận Cẩm Lệ từ
năm 2012 đến 2016 và từ biểu tổng hợp cơ sở dữ liệu thị trƣờng lao động phần cung lao động thành phố Đà Nẵng của Sở LĐ-TB&XH thành phố Đà
Nẵng có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn góp phần hệ thống hóa các cơ sở lý luận, phân tích và làm rõ
những vấn đề cơ bản về việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên.
5
Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận
Cẩm Lệ, giai đoạn 2012 - 2016.
Đề xuất giải pháp nhằm giải quyết việc làm hiệu quả cho thanh niên trên
địa bàn quận Cẩm Lệ đến năm 2020.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm việc làm và tạo việc làm đƣợc
nhiều cơ quan và tác giả thực hiện dƣới nhiều góc độ khác nhau. Trong đó có
thể kể đến những tài liệu sau:
Giáo trình Kinh tế lao động của TSKH. Phạm Đức Chính(2008) [5],
Trƣờng ĐH Kinh tế Luật, Đai học Quốc gia TP.HCM Tác giả đã làm rõ
những khái niệm về lao động và nguồn lao động, việc làm, thất nghiệp, tiền
lƣơng, những vấn đề lý thuyết và thực tế quan hệ lao động, đƣợc nghiên cứu
theo quan điểm bản chất xuất hiện, đánh giá giá trị và ảnh hƣởng của chúng
đến kết quả hoạt động. Quản lý các quan hệ lao động trong xã hội hƣớng đến
việc điều tiết giá cả sức lao động thông qua xác lập luật lao động, ảnh hƣởng
đến việc làm đảm bảo quan hệ của các bên liên quan.
Nghiên cứu của TS.Nguyễn Hữu Dũng [8] về “Chính sách giải quyết việc
làm ở Việt Nam”.Nghiên cứu đi sâu phân tích mốc thời gian là những năm cuối
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2015) về “Tạo
việc làm cho ngƣời lao động huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”, tác giả hệ
thống hóa đƣợc khuôn khổ lý luận và có thể vận dụng vào bối cảnh nền kinh
tế huyện Yên Dũng trong quá trình hội nhập kinh tế,chuyển đổi cơ cấu kinh
tế. Đặc biệt là tình hình tạo việc làm trong lĩnh vực công nghiệp, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, thu hút lao động từ nông nghiệp nông thôn sang công nghiệp.
Ðồng thời, tác giả cũng đã phát hiện ra những hạn chế trong các chính sách
tạo việc làm của huyện, ví dụ nhƣ trong phát triển các doanh nghiệp để tạo ra
việc làm tốt hơn; quy mô xuất khẩu lao dộng vẫn còn thấp, thị truờng lao
động chƣa linh hoạt, vẫn chƣa góp phần thúc đẩy đuợc việc hỗ trợ các thông
tin về việc làm cho nguời lao động, chất luợng đào tạo nghề chƣa đáp ứng
7
đuợc với yêu cầu phát triển của thị trƣờng lao động.
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hồng Phƣợng (2012)[9] về “Giải quyết
việc làm cho thanh niên tại khu kinh tế Vũng Áng huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà
Tĩnh” đã làm rõ những vấn đề lý luận về việc làm, các nhân tố ảnh hƣởng đến
việc làm của thanh niên trong thời gian tới cũng nhƣ xu hƣớng phát triển việc
làm của thanh niên làm tiền đề quan trọng cho việc vạch ra giải pháp giải
quyết vấn đề. Tác giả cũng tiến hành khảo sát phân tích các đặc điểm kết cấu
của nguồn lao động thanh niên trên địa bàn, đƣa ra cách nhìn nhận và đánh
giá của tác giả về vấn đề này, tìm hiểu những nguyên nhân tồn tại làm cơ sở
để đƣa ra giải pháp có tính khả thi nhất. Nghiên cứu dựa trên một số căn cứ
khoa học nhƣ: Căn cứ kết quả điều tra khảo sát, quan điểm giải quyết việc
làm của địa phƣơng, lắng nghe nguyện vọng của thanh niên để vạch ra
phƣơng hƣớng cụ thể, xây dựng hệ thống giải pháp với mục đích giải quyết
việc làm cho thanh niên.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Chinh và cộng sự Phạm Thị Ngọc
Kim (2008) [6] về “Mô hình dạy nghề thổ cẩm và tạo việc làm cho thanh niên
việc làm cho người lao động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2012 –
2015”(Ban hành kèm theo Quyết định số: 2644/QĐ-UBND ngày 09 tháng 4 năm
2012 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng). Đề án Quy hoạch phát triển
tổng thể kinh tế - xã hội quận Cẩm Lệ đến năm 2020.
Hầu hết các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố chủ yếu tập trung
nghiên cứu vấn đề việc làm, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho ngƣời lao
động nói chung. Giá trị lớn nhất của những nghiên cứu này là phân tích thực
trạng và từ đó đề xuất ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn nhằm giải
quyết các vấn đề có liên quan đến tạo việc làm và đào tạo nghề cho ngƣời lao
động, chƣa có nghiên cứu nào đi sâu phân tích thực trạng việc làm và tạo việc
làm cho đối tƣợng thanh niên trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Nghiên cứu các công trình đã công bố, tác giả cũng tham khảo, nắm bắt đƣợc
9
nhiều vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận và thực tiễn rất có giá trị đối với đề tài
của mình. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề đƣợc nghiên cứu từ
các công trình khoa học trên, kết hợp với việc tìm hiểu tình hình thực tế trên
địa bàn quận Cẩm Lệ, tôi có thể rút ra và kiến nghị những giải pháp giải quyết
việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Cẩm Lệ.
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1.1. Khái niệm về việc làm và giải quyết việc làm
a. Khái niệm việc làm
nghèo khổ của ngƣời lao động, tăng thu nhập, đồng thời không đi ngƣợc lại
với lợi ích cộng đồng mà pháp luật quy định. Hay nói cách khác, việc làm là
những công việc, hoạt động có ích, không bị pháp luật cấm và mang lại thu
nhập cho bản thân hoặc tạo điều kiện để tăng thu nhập cho các thành viên
trong gia đình, đóng góp một phần cho xã hội.
Sônhin và Grincốp, các nhà kinh tế của Liên xô lại cho rằng “việc làm là
sự tham gia của ngƣời có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích
trong học tập, trong công việc nội trợ, trong khu vực xã hội hoá của sản xuất,
trong kinh tế phụ của các nông trang viên”. Với khái niệm này thì những
ngƣời còn đang đi học, đang tham gia hoạt động trong các lực lƣợng vũ trang,
những ngƣời nội trợ đều coi là ngƣời có việc làm. Ngày nay, ở Liên Bang
Nga khái niệm này đƣợc quy định rõ trong Bộ Luật Việc làm của dân cƣ Liên
bang Nga nhƣ sau: “việc làm là hoạt động của công dân nhằm thoả mãn
những nhu cầu xã hội và của cá nhân, đem đến cho họ thu nhập và không bị
pháp luật Liên bang ngăn cấm”.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến
trong mối quan hệ với lực lƣợng lao động. Khi đó, việc làm đƣợc phân thành hai
loại: Có trả công (những ngƣời làm thuê, học việc...) và không đƣợc trả công
nhƣng vẫn có thu nhập (những ngƣời nhƣ giới chủ làm kinh tế gia đình...). Vì
vậy, “việc làm có thể đƣợc định nghĩa nhƣ một tình trạng trong đó có sự trả công
bằng hiện vật hoặc tiền, do có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và
trực tiếp vào nỗ lực sản xuất”. Theo khái niệm này, ngƣời có
12
việc làm là ngƣời làm việc gì đó để đƣợc trả công, tham gia vào các hoạt
động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích, lợi nhuận đƣợc thanh toán
bằng tiền hoặc hiện vật, hay vì thu nhập của gia đình (không đƣợc nhận tiền
công hay hiện vật). Khái niệm này đã đƣợc chính thức nêu tại (ILO.1993) Hội
nghị quốc tế lần thứ 13 của nhà thống kê lao động và đã đƣợc áp dụng ở
phù hợp với các nhìn nhận và phân tích của Nhà nƣớc ta: “Mọi hoạt động lao
động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều đƣợc thừa nhận
là việc làm” [30, tr.13].
Bộ luật Lao động Việt Nam chỉ ra khái niệm việc làm đƣợc cụ thể hoá,
có thể hiểu dƣới ba dạng hoạt động sau:
+ Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lƣơng bằng hiện vật hoặc
tiền mặt.
+ Làm các công việc để thu lợi cá nhân cho bản thân.
+ Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao
dƣới hình thức tiền công, tiền lƣơng cho công việc đó.
Theo quan niệm trên, để coi một hoạt động là việc làm có hai tiêu thức
cần thõa mãn:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động
và cho các thành viên trong gia đình. Điều này nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu
nhập của việc làm và chỉ rõ tính hữu ích.
Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Quan niệm đã rõ ràng
hơn so với quan niệm của tổ chức lao động quốc tế ILO, điều này chỉ rõ tính
pháp lý của việc làm. Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
hoạt động có ích không giới hạn về ngành nghề, phạm vi và hoàn toàn phù hợp
với sự phát triển của thị trƣờng lao động ở Việt Nam. Ngƣời lao động hợp pháp
ngày nay đƣợc đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do liên kết kinh doanh, tự do
hành nghề, tự do thuê mƣớn lao động, tự do tìm kiếm việc làm
14
trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong
hay ngoài khu vực Nhà nƣớc. Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong
hoạt động của ngƣời lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nƣớc và các khu vực
phi chính thức.
Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ
dụng nhiều vốn. Chẳng hạn, một đơn vị chi phí ban đầu về tƣ liệu sản cuất,
vốn có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động trong điều kiện kỹ thuật thủ
công. Còn trong điều kiện tự động hoá, sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì
chi phí về thiết bị, vốn, công nghệ rất cao, nhƣng chỉ đòi hỏi sức lao động với
tỉ lệ thấp. Do đó, lựa chọn phƣơng án phù hợp để có thể giải quyết việc làm
cho ngƣời lao động còn tuỳ từng điều kiện cụ thể.
Hiện nay, quan hệ tỉ lệ giữa C và V thƣờng xuyên biến đổi theo các dạng
khác nhau trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các
thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ.
- Sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động có nghĩa là mọi ngƣời
có nhu cầu làm việc, có khả năng lao động đều có việc làm. Nếu chỉ xem xét trên
phƣơng diện sử dụng hết thời gian lao động có nghĩa là việc làm đầy đủ. Ta có
khái niệm việc làm hợp lý trong trƣờng hợp sự phù hợp của mối quan hệ này cho
phép sử dụng triệt để tiềm năng về vốn, tƣ liệu sản xuất và sức lao động.
Sự không phù hợp giữa sức lao động và chi phí ban đầu sẽ dẫn đến thiếu
nguồn nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp.
Từ những phân tích trên, trong luận văn này, tác giả đồng tình với khái
niệm việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và
những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ...) để sử dụng sức
lao động đó. Trên cơ sở này sẽ hình thành các dạng việc làm cũng nhƣ phân
tích các nhân tố ảnh hƣớng đến hỗ trợ giải quyết việc làm.
16
b. Khái niệm giải quyết việc làm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ
những điều kiện cần thiết (vốn, tƣ liệu sản xuất, công nghệ...) và những trạng
thái phù hợp giữa sức lao động để sử dụng sức lao động đó. Rõ ràng tạo đƣợc
việc làm cho ngƣời lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình
xuất và sức lao động. Thông qua cơ chế chính sách khuyến khích thu hút của
Nhà nƣớc ở đó, nhằm tạo thêm nơi làm việc mà ngƣời lao động có thể vận
dụng sức lao động của mình mà sản xuất của cải cho xã hội thông qua sự hoạt
động đầu tƣ của nhà sản xuất.
c. Các lý thuyết liên quan đến việc làm
Một bộ phận cấu thành của cơ chế quản lý kinh tế là cơ chế quản lý lao
động việc làm, trong đó Nhà nƣớc kết hợp với thị trƣờng nhằm thiết lập quan
hệ cung cầu về việc làm, lao động. Các nhà nghiên cứu kinh tế đã phân tích
một số lý thuyết kinh tế trong lĩnh vực việc làm để điều tiết, tạo lập việc làm
nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội đã hoạch định.
Lý thuyết của John Maynard Keynes - nhà kinh tế ngƣời Anh cho rằng:
trong một nền kinh tế, khi đầu tƣ tăng, sản lƣợng tăng, thu nhập tăng thì việc
làm tăng và ngƣợc lại. Để giảm thất nghiệp, tăng việc làm, phải tăng tổng cầu
của nền kinh tế. Để tăng tổng cầu chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng
(tiêu dùng sản xuất và phi sản xuất) thông qua tăng trực tiếp các khoản chi
tiêu của chính phủ, hoặc thông qua các chính sách của Chính phủ nhằm
khuyến khích đầu tƣ của tƣ nhân, của các tổ chức kinh tế xã hội.
Lý thuyết của Athur Lewis - nhà kinh tế học Jamaica cho rằng: quá trình
chuyển số lao động dƣ thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công
nghiệp hiện đại do hệ thống tƣ bản nƣớc ngoài đầu tƣ vào các nƣớc lạc hậu,
quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Có hai tác dụng từ
việc di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp: