Lời nói đầu
Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và đổi mới cơ chế quản lý
nền kinh tế của nước ta, việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, giải quyết vấn
đề lao động - việc làm đóng một vai trò quan trọng, vừa góp phần hạn chế thất
nghiệp thiếu việc làm hiện đang trong hình trạng nóng bỏng, đồng thời vừa đem
lại thu nhập chính đáng cho người dân, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, ổn
định xã hội là yêu cầu không thể thiếu.
Trong những năm qua, Thành phố Đà Nẵng có nhiều bước chuyển mình,
tích cực đổi mới cả về kinh tế lẫn xã hội. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đời
sống và thu nhập của người dân được cải thiện, xã hội ổn định là tiền đề cơ bản
giúp Đà Nẵng góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa - hiện đại hóa
cùng cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới và phát triển đó vẫn còn vấp
phải nhiều bất cập khó khăn lớn như: thiếu vốn đầu tư, môi trường tự nhiên
không ổn định, trình độ khoa học kỷ thuật chưa phát triển cao ...trong đó vấn đề
lao động việc làm và tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng đã ảnh hưởng
không nhỏ đến mục tiêu xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một đô thị hiện
đại , văn minh xứng đáng là trung tâm kinh tế trọng điểm của miền trung và của
cả nước trong tương lai .
Vì vậy phục vụ cho quá trinh thực hiện thành công mục tiêu trên, trong
thời gian đến việc giải quyết tốt vấn đề lao động - việc làm và giảm lượng lao
động thất nghiệp trên Thành phố là một trong những yêu cầu cần thiết phù hợp
với quy luật khách quan.
Xuất phát từ yêu cầu trên cộng với quá trình tìm hiểu thực tế trong thời
gian qua, em quyết định chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm giải quyết
việc làm cho người lao động tại Thành phố Đà Nẵng”.
Vấn đề việc làm cho người lao động là vấn đề vừa mang tính sách lược và
chiến lược của cả nước nói chung và Đà Nẵng nói riêng, nên nhiều tổ chức, đơn
vị cá nhân nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhằm tìm ra giải pháp tối ưu để
1
nói trên càng phong phú, đa dạng và phát triển ở trình độ cao hơn. Để tồn tại,
con người phải có thức ăn, đồ mặc, nhà ở, phương tiện đi lại ... Muốn vậy con
người phải tạo ra chúng, nghĩa là phải sản xuất không ngừng sản xuất với quy
mô ngày một mở rộng xã hội sẽ không thể tồn tại nếu ngừng hoạt động sản xuất.
Bởi vậy, sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người.
Sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của con người và xã hội
loài người. Đây là một nguyên lý có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp ta thấy được
nguyên nhân cơ bản của sự thay đổi lớn từ nấc thang này đến nấc thang khác
trong sự phát triển của lịch sử loài người.
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất :
Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp ba yếu tố: sức
lao động, đối tượng lao động, và tư liệu lao động.
* Sức lao động và lao động:
Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực của con người được sử dụng
trong quá trình lao động. Nó là khả năng lao động của con người là một yếu tố
vật chất, một điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất. Lao động là hoạt động
có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các
nhu cầu của đời sống con người. Lao động là hoạt động bản chất nhất của con
người, là tiêu thức để phân biệt hoạt động của con người với hoạt động theo bản
năng của con vật.
3
* Đối tượng lao động:
Là toàn bộ những vật mà lao động tác động vào nhằm biến đổi nó cho phù
hợp với nhu cầu của con người được chia làm 2 loại:
Loại sẵn có trong tự nhiên, con người tách nó ra khỏi mối liên hệ trực tiếp
với tự nhiên và biến thành sản phẩm như gỗ trong rừng nguyên thủy, quặng
trong lòng đất, tôm có dưới biển. Loại này sẽ bị cạn kiệt trong tương lai trong
khi nhu cầu về nguyên vật liệu, năng lượng ngày càng tăng, cho nên đòi hỏi con
nước.
Theo định nghĩa từ điểm khái niệm về việc làm được diễn đạt như sau:
“Công việc mà người lao động tiến hành nhằm có được thu nhập bằng tiền hoặc
bằng hiện vật”1.
Còn trong “đại từ diểm kinh tế thị trường” thì việc làm được hiểu là:
“hành vi của nhân viên, có năng lực lao động, thông qua hình thức nhất định kết
hộ với tư liệu sản xuất để được thù lao hoặc thu nhập”2.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa người lao động là người làm chủ tư liệu
sản xuất, “làm việc có nghĩa là thực hiện quyền làm chủ trên tư liệu sản xuất đó,
vừa làm việc cho cá nhân người lao động, cũng lại là làm việc cho xã hội”.
Khái niệm việc làm đó có thể được hiểu ở hai trạng thái “tỉnh” và “động”.
Ở trạng thái “tỉnh” việc làm chỉ nhu cầu sử dụng sức lao động và các yếu tố vật
chất kỹ thuật khác, nhằm mục đích tạo ra thu nhập hoặc kết quả có ích cho cá
nhân, cộng đồng. Theo cách hiểu này việc làm là khả năng làm tăng của cải vật
chất xã hội, tăng lợi ích cho dân cư và cộng đồng. Là khả năng sử dụng nguồn
nhân lực và là các hoạt động lao động có ích.
Theo nghĩa “động” thì việc làm là hoạt động của dân cư nhằm tạo ra thu
nhập có lợi ích cho cá nhân hoặc cộng đồng trong khuôn khổi pháp luật cho
phép: việc làm là hình thức vận dụng sức lao động là hoạt động có chủ đích của
con người, được tiến hàng trong một không gian và thời gian nhất định với sự
kết hợp giữa các yếu tố vật chất kỹ thuật khác.
1
2
Kinh tế Xã hội xuất bản Pari 1996
Từ điển Kinh tế Thị trường
5
6
Việc làm cho người lao động tri thức: thường là những công việc mang
tính chất tư duy, dùng trí thông minh hơn là sử dụng chân tay, cơ bắp.
Việc làm cho người lao động cơ bắp, chân tay: những công việc này
thường là công việc nặng nhọc, cần nhiều sức lực của cơ bắp, không cần nhiều
tư duy, suy nghĩ.
Ngoài các cách phân loại trên người ta cong có thể chia việc làm theo các
nội dung sau: việc làm hợp lý, việc làm bất hợp lý, việc làm cho người hưu trí,
việc làm cho người tàn tật có khả năng làm việc ...
Mặc dù có sự khác nhau về cách phân loại như trên, nhưng một đặc điểm
chung không thể thiếu cho một công việc đó là cần hay yếu tố: sức lao động và
điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động, trong đó bao gồm cả những yếu tố
xã hội. Như vật có thể hiểu việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa
sức lao động và những điều kiện cần thiết để sử dụng sức lao động đó.
7
1.2.3. Sự cần thiết phải có việc làm trong nền kinh tế:
Việc làm và giải quyết tốt vấn đề việc làm tốt đóng vai trò rất quan trọng
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của một quốc gia trong tất cả các
thời kỳ, nhưng nó càng có ý nghĩa quyết định hơn hết nhất là trong thời kỳ đổi
mới nền kinh tế hiện nay.
Trước hết nếu xét việc làm trong một phạm vi hẹp, việc làm không chỉ là
nhu cầu của tất cả mọi người lao động nhằm đem lại thu nhập cho bản thân và
gia đình họ một cách hợp lý, mà lao động và làm việc còn là ý tưởng và phong
cách sống của mỗi người. Người lao động còn làm việc để tạo một nguồn thu
1.3. Mối quan hệ giữa lao động - việc làm và các vấn đề phát triển
kinh tế - xã hội:
1.3.1. Lao động việc làm tác động đến ự phát triển kinh tế - xã hội:
Dân cư và nguồn lao động với thể lực và trí lực và kinh nghiệm sản xuất
của mình, sử dụng các tư liệu sản xuất tác động vào các đối tượng lao động dưới
hình thức việc làm để tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu cần thiết của cuộc
sống. Nên việc làm sẽ tác động không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế - xã
hội một quốc gia.
Thất nghiệp, thiếu việc làm là nguyên nhân lớn của hiện tượng tăng dân
số và sự phân bổ dân cư không đồng đều. Theo quy luật của tự nhiên, người lao
động không có việc làm thường có xu hướng mong tìm cho mình một công việc
cho dù lớn hay nhỏ. Cho nên hiện tượng đổ xô đi tìm việc làm không theo sự
kiểm tra sóat của Nhà nước đã gây ra hiện tượng tăng dân số đột ngộ tại khu vực
nào đó, khiến cho dân cư có vùng đông, vùng thưa thớt, không những không
đảm bảo cho sự ổn định phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đối
với tình hình chính trị.
Lao động thiếu việc làm là gánh nặng xã hội, vì người lao động không có
thu nhập, bị đói nghèo, thiếu cái ăn, cái mặc, dẫn đến con dường cùng tệ nan gây
mất ổn định cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội chung trong cả nước. Vấn
đề quan trọng ở đây không thể không bàn đến đó là: người lao động không có
việc làm, đói nghèo, thiếu thốn là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu thốn về tri thức
9
cũng như phương pháp làm ăn, khôgn tìm được việc làm họ sẽ không thóat khỏi
được vòng lẩn quẩn: thất nghiệp - đói nghèo - mù chữ. Việc giải quyết tốt vấn đề
lao động và việc làm có thể xem như mấu chốt của quá trình tháo gỡ vòng lẩn
quẩn trên.
Dân số, lao động được nâng cao cả về chất lượng, số lượng, có được việc
làm ổn định, có thu nhập đó sẽ là nguồn tiêu thụ đáng kể các sản phẩm mà xã
kiến thức, nắm bắt được nhiều thông tin. Cho nên, trình độ kỹ năng của người
lao động cũng được nâng cao nhờ chất lượng giáo dục đào tạo tốt, thể lực đảm
bảo sẽ là cơ hội cho mọi người tìm cho mình việc làm thích hợp.
Đồng thời với việc nền kinh tế phát triển nhanh, thế giới có những sáng
tạo mới trong mọi lĩnh vực, trình độ khoa học kỵ phát triển, công nghệ tiên tiến
ra đời, máy móc thay thế dần dần lao động chân tay khiến cho việc sa thải lao
động thiếu năng lực hoặc có trình độ tay nghề thấp sẽ xảy ra. Kết quả người lao
động mất việc làm là điều tất yếu, sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã
hội.
11
1.3.3. Vấn đề việc làm cho người lao động ở Việt Nam trong thời gian
qua:
1.3.3.1. Nguyên nhân dẫn đến những thành công:
Nhờ hiệu lực thi hành của Luật doanh nghiệp, hàng chục nghin doanh
nghiệp tư nhân đã được thành lập trong hai năm 2000 - 2001 tạo thêm việc làm
cho khoảng 600.000 lao động, số hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp cũng
tăng nhanh. Năm 2001 cả nước có khoảng hơn 2 triệu hộ với tổng số lao động
việc làm là 10.965.800 người.
Ơ nông thôn, kinh tế trang trại phát triển khá mạnh, ước tính số lượng
trang trại năm 2001 tăng 9000 so với năm 2000, đã thu hút hàng trăm nghìn lao
động vào làm việc, giải quyết một lượng lao động thiếu việc làm đang tồn đọng
trước đây do phần lớn thiếu vốn và tư liệu sản xuất.
Hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia tập trung chú trọng hơn.
Hiện nay cả nước ta có khoảng 159 doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu lao
động, trong đó có 15 doanh nghiệp chuyên doanh xuất khẩu lao động. Ước tính
cả năm 2001 xuất khẩu được khoảng 37.000 lao động. Nhờ những hoạt động
trên kết quả có khoảng 400.000 lao động và chuyên gia Việt Nam đang sống và
làm việc tại trên 40 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới.
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Cơ cấu kinh tế - tài nguyên và lao động - việc làm tại Thành phố
Đà Nẵng:
2.1.1. Vị trí địa lý:
Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ của đất nước, nằm trên trục giao
thông Bắc Nam về đường bộ (Quốc lộ 1A) đường sắt, đường biển và đường
hàng không. Quốc lộ 1A nối cảng Tiên Sa, Liên Chiểu đến Tây Nguyên và trong
tương lai không xa với hệ thống đường xuyên Á qua Lào, Campuchia, Thái
Lan...
Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên
và các nước trên thế giới đến các vùng Đông Bắc Á, những năm tới khi thực
hiện tự do hóa thương mại (gia nhập AFTA) và đầu tư khu vực ASEAN thì vị trí
địa lý của Thành phố cũng là một lợi thế quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho
Thành phố Đà Nẵng mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh vùng Duyên Hải, Tây
Nguyên, cả nước và với nước ngoài, là tiền đề quan trọng góp phần để các
ngành kinh tế của tpó phát triển, tạo lực để Thành phố trở thành một trong
những trung tâm phát triển của vùng trọng điểm miền Trung.
2.1.2. Điều kiện tự nhiên:
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên 1.256,24km 2, trong đó đất dùng
cho nông nghiệp 123,8 km2 chiếm khoảng 9,9% đất lâm nghiệp 518,5 km 2
chiếm khoảng 41,3%, đất chuyên dùng và đất nhà ở 401,9 km 2 tương đương với
31,99% còn lại đất chưa sử dụng cùng với đồi núi 212,13 km 2 chiếm khoảng
16,8% tổng diện tích đất tự nhiên. Hiện nay Thành phố đã và đang chỉ đạo các
ngànhm các cấp thực hiện quy hoạch sử dụng đất đi vào nề nếp. Khi hậu nhiệt
đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao ít biến động khoảng 25,7 0C, chế độ ánh
sáng, mưa ẩm phong phú, là nơi chuyển tiếp khi hậu miền Bắc và miền Nam nên
14
kỹ thuật gắn với nâng cấp, chỉnh trang đô thị, nhất là hệ thống giao thông cảng
15
biển, các khu công nghiệp , mạng lưới điện, bưu chính viễn thông ... Thành phố
cũng đã có nhiều dự án thiết thực, có trọng điểm nhằm phát triển kinh tế. Vai trò
của kinh tế Nhà nước được tăng cường, chiếm gần 60% giá trị sản xuất công
nghiệp, bên cạnh đó việc phát huy năng lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh của
thành phần kinh tế trên địa bàn cũng được xem trọng, kinh tế ngoài quốc doanh
chiếm 18,2%, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 22%. Khu
công nghiệp Đà Nẵng, Hòa Khánh và Liên Chiểu với diện tích trên 860ha được
hình thành với cơ sở hạ tầng khá tốt, nhiều nhà máy đang được xây dựng tại đây,
thu hút gần 10.000 lao động. Nhiều đổi mới công nghệ, nhiều sản phẩm của
Thành phố như hàng dệt may, da giày, cao su, xi măng, gạch CERAMIC, đồ
dùng INOX, nhựa ... đã vươn ra thị trường trong nước và ngoài nước. Thành phố
cps 7 doanh nghiệp cấp chứng nhận ISO 9002 và một doanh nghiệp được chứng
nhận ISO 14000.
Thế mạnh về thương mại dịch vụ, du lịch có thêm những điều kiện và
triển vọng mới. Nhiều tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng, hàng hải, bảo
hiểm, du lịch có văn phòng đại diện chi nhánh đặt tại Thành phố. Môi trường lao
động mới đã được khai thác, hàng xuất khẩu của Đà Nẵng đã có mặt trên 67
quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau.
Sản xuất thủy sản - nông lâm có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng
áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là giống mới có năng suất cao. cơ
cấu ngành thủy sản nông lâm đã có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng tăng tỷ
trọng thủy sản, giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp vào lâm nghiệp.
Sự phát triển kinh tế đã tạo thêm điều kiện để giải quyết tốt hơn những
vấn đề xã hội bức xúc, năm năm qua Thành phố đã giải quyết được việc làm cho
gầm 82.000 lao động. Đà Nẵng là một trong những địa phương đóng góp cho
ngân sách trung ương. Ý thức được vai trò, vị trí cvủa của mình đối với cả nước
và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được mở rộng, góp
phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Phòng trào thể dục thể thao quần chúng được phát triển, số người tham
gia luyện tập tăng đáng kể 100% số xã phường tổ chức cuộc vận động toàn dân
17
rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại, thể thao Thành phố đạt thành tích
cao trong năm.
Trong những năm qua Thành phố tập trung khai thác hiệu quả chương
trình giải quyết việc làm, chương trình cho vay vốn từ quỹ quốc gia hỗ trợ việc
làm, cho nên tỷ lệ lao động thất nghiệp giảm xuống 5,54% năm 2001, thời gian
nhàn rỗi của người lao động được hạn chế, thu nhập bình quân đầu người tăng
lên đáng kể đạt 550 USD/năm. Sau một năm thực hiện chương trình “5 không”,
năm 2001 toàn Thành phố giảm 2293 hộ nghèo (năm 2000 có đến 7477 hộ
nghèo) đạt 120,36% kế hoạch đặt ra. Số người xin ăn, người già cô đơn, các hộ
thuộc diện chính sách nghèo giảm dần đã tạo môi trường lành mạnh văn minh
trên địa bàn. Các chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, dân số
kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản, y tế, xã hội, văn hóa, giáo dục lồng
ghép với các dự án khác bước đầu có những thành công đáng kể.
Mạng lưới y tế Thành phố được phân bổ đến tận phường, xã, nhiều bệnh
viện Thành phố là trung tâm miền Trung, số giường bệnh qua các năm đều gia
tăng. Tính đến nay, trên địa bàn Thành phố có bình quân 32 giường bệnh/1vạn
dân. Các chương trình chăm sóc sức khỏe được triển khai đều khắp và thu được
những kết quả tốt trong kế hoạch phòng chống tệ nạn và bệnh tật.
2.2. Thực trạng lao động - việc làm tại Thành phố Đà Nẵng:
2.2.1. Lao động và việc làm:
Thời gian từ năm 2000 - 2002 lực lượng lao động trong Thành phố ngày
một tăng. Năm 2000 tổng số lượng người bước vào độ tuổi lao động 413.900
338.500
353.186
Lao động có việc làm
311.143
319.750
335.151
Lao động chưa có việc làm
19.684
18.750
18.035
Lao động được giải quyết việc làm
16.771
18.500
19.800
ngành kinh tế
259.376
100
Nông nghiệp
71.952
33,0
71.324
28,23
64.100
24,71
Công nghiệp - XD
64.963
29,8
80.431
31,83
90.822
Nông - Lâm - Ngư nghiệp78.108 người chiếm 23,04%.
Dịch vụ139.700 người chiếm 41,21%.
Cơ cấu lao động chia theo trình độ đào tạo chuyên môn, qua 3 năm 2000 2002 cho thấy: tỷ lệ lao động qua đòa tạo ở bậc sơ cấp, công nhân và trung học
cũng chỉ 16,48% trong tổng số lực lượng lao động năm 2000 lên 20,8% năm
2002 (tăng lên 4,32%) trong khi đó số lực lượng lao động qua đại học và cao
đẳng chiếm gần 10% tổng lực lượng lao động năm 2002. Nếu theo mỗi quan hệ
cơ cấu lao động giữa lao động có trình độ đào tạo chuyên môn cao và lao động
có trình độ sơ cấp- trung học thì Đà Nẵng chưa có sự cân đối, tình trạng thừa
thiếu thợ xảy ra. Tuy nhiên, với một Thành phố lớn, một trung tâm khoa học kỹ
thuật của miền trung với các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ đóng vai
trò chủ đạo hướng đến một nền kinh tế tri thức thì tỷ t rọng lao động có trình độ
cao đẳng, đại học chiếm 9,25% trong tổng lực lượng lao động chưa phải là vấn
đề đáng kể, chưa có thể đáp ứng nhu cầu của Thành phố.
Bảng 3. Lực lượng lao động qua đào tạo trong tổng số lực lượng lao động
năm 2000 - 2002
Chỉ tiêu
Năm
Tỷ lệ%
2000
Công nhân kỹ thuật/
Năm
Tỷ lệ%
2001
29.318
8,88
30.422
8,89
32.672
9,25
sơ cấp
Trung học chuyên
nghiệp
Cao đẳng, đại học
Nguồn: báo cáo tình hình thực hiện công tác LĐ-TBXH Đà Nẵng năm 2002
20
Cơ cấu lao động chia theo các thành phần kinh tế cũng có sự thay đổi,
nhờ sự phát triển kinh tế nhiều thành phần theo chủ trương của Đảng và Nhà
nước với nhiều biện pháp khác nhau, đã đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo bảng số liệu dưới đây, trong 3 năm qua ta thấy cơ cấu lao động của
Thành phố theo các thành phần kinh tế không thay đổi. Lao động vốn chủ yếu
tập trung trong khu vực kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân với tỷ trọng cao.
năm 1998 lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước chiếm tỷ lệ 22,4% với số
lao động là 66.087 người đã tăng lên 80.224 người năm 2000 chiếm tỷ trọng
66.087
22,4
38.177
22,3
80.224
25,4
Tư nhân
202.566
68,8
209.926
68,9
204.371
64,6
Nước ngoài
6.558
14.663
4,8
17.643
5,6
Tổng
294.594
100
304.874
100
316.419
100
thành phần KT
Nguồn: Niên giám Thống kê và báo cáo Sở LĐ-TBXH
Cơ cấu lao động chia theo khu vực thành thị và nông thôn cũng có sự
chuyển dịch nhanh chóng. Nguyên nhân chính là do quá trình chỉnh trang đô thị.
Mở rộng và phát triển cơ sở hạ tầng kết hợp với chuyển đổi ngành nghề diễn ra
2950 lao động.
Quận Ngũ Hành Sơn
1570 lao động
Quận Liên Chiểu
3200 lao động
Huyện Hòa Vang
3420 lao động
Cơ cấu lao động được giải quyết việc làm phân chia theo các thành phần
kinh tế cũng từng bước có những chuyển biến tích cực. Lao động được đưa vào
làm việc trong thành phần kinh tế Nhà nước giảm xcuống 6919người năm 2001
còng 5968 người năm 2002.
22
Ngược lại, lao động được giải quyết việc làm đưa vào khu vực tư nhân và
khu vực có vốn dr nước ngoài ngày một tăng lên, riêng khu vực tư nhân năm
2000 có 3654 lao động được đưa vào làm việc, nhưng năm 2002 lực lượng lao
động vào làm việc trong khu vực này là 6183 người, tăng gấp 2 lần so với năm
2000.
23
4.497
6.183
Lao động xuất khẩu
484
261
334
Khu vực vốn ĐTNN
3.267
3.462
4.388
Lao động thu hút từ các chương
4.293
3.361
2.927
việc làm