Thực hiện chính sách sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BHIRYU LONG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP, BỐ TRÍ DÂN CƯ
VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BHIRYU LONG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP, BỐ TRÍ DÂN CƯ
VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN VĂN MINH


huyện, các Phòng: NN&PTNT, Dân tộc, Nội vụ; Văn phòng HĐND&UBND
huyện, Chi cục thống kê, UBND các xã, thị trấn; các đồng chí, đồng nghiệp
đã giúp đỡ và hỗ trợ nhiệt tình trong quá trình thu thập số liệu điều tra,
minh chứng, tổng hợp, phân tích, đánh giá về các nội dung nghiên cứu có
liên quan trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Trong thời gian thực hiện cũng như hoàn thành luận văn, tuy đã có
nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, đặc biệt xác
định nguyên nhân và đề ra các giải pháp giải quyết vấn đề trong thời gian đến.
Kính mong quý thầy, cô giáo tiếp tục chia sẻ, góp ý thêm để đề tài được
hoàn thiện tốt hơn.
Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẮP XẾP, BỐ TRÍ DÂN
CƯ VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ ..........................................................................9
1.1. Một số khái niệm ..................................................................................................9
1.2. Những vấn đề chung về dân cư vùng dân tộc thiểu số.......................................10
1.3. Quy trình chính sách sắp xếp, bố trí dân cư .......................................................15
1.4. Yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện sắp xếp, bố trí dân cư
vùng dân tộc thiểu số.................................................................................................19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SẮP XẾP, BỐ TRÍ
DÂN CƯ VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN ĐÔNG GIANG,

TỈNH

QUẢNG NAM .........................................................................................................25
2.1. Khái quát chung về huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam ................................25

2

UBND

Ủy ban nhân dân

3

HĐND

Hội đồng nhân dân

4

UBMTTQVN Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam

5

KT-XH

Kinh tế - Xã hội


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Việt Nam là một quốc gia bao gồm 54 dân tộc với ngôn ngữ, lối sống
và văn hoá đặc trưng của từng dân tộc, từng vùng miền. Người Kinh chiếm
hơn 86% tổng dân số, và 53 dân tộc còn lại có số dân lớn nhất tiếp theo là
Tày, Thái, Mường, Khmer, Nùng, Mông và Dao chiếm khoảng 10% tổng dân
số. Các nhóm dân tộc thiểu số, đặc biệt các nhóm có dân số ít, tập trung chủ

thiểu số từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam nhằm khẳng định
thêm tính đúng đắn chiến lược phát triển của quốc gia cũng như giúp huyện
Đông Giang có thực tiễn cần thiết trong quá trình xây dựng và phát phát của
mình trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế xã hội của 53 dân
tộc thiểu số dựa trên số liệu điều tra về thực trạng kinh tế xã hội của 53 dân
tộc thiểu số nhằm xây dựng một bức tranh tổng thể về các dân tộc thiểu số
Việt Nam với đầy đủ các đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, y tế, giáo
dục,…Dựa trên các phân tích này, đưa ra một số khuyến nghị chính sách để
giải quyết các vấn đề mà người dân tộc thiểu số đang gặp phải. Dân tộc thiểu
số của Việt Nam có dân số khoảng 13,4 triệu người, phân bố rải rác ở tất cả
các tỉnh thành trong cả nước, trong đó có những dân tộc có dân số đông, trên
một triệu người và cả những dân tộc có vài trăm người. Các dân tộc có sự
cách biệt khá lớn về tuổi thọ và tỷ suất tử vong ở trẻ em. Kết hôn sớm và hôn
nhân cận huyết thống là hai vấn đề nổi cộm đối với dân tộc thiểu số. Vấn đề
này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như trình độ phát triển thấp, địa bàn sinh
sống biệt lập, ít cơ hội giao lưu, trao đổi, hội nhập với xã hội bên ngoài, tập
quán kết hôn, định kiến giữa các tộc người; hiểu biết chưa đầy đủ về hậu quả
2


của tảo hôn và kết hôn cận huyết thống. Việc chăm sóc sức khỏe sinh sản cho
phụ nữ dân tộc thiểu số chưa thực sự được lưu tâm. Tỷ lệ phụ nữ đến các cơ
sở y tế để khám thai chưa cao và chưa phổ biến ở một số dân tộc, trung bình
chỉ đạt 70,9% phụ nữ khám thai ít nhất một lần tại các cơ sở y tế. Tập quán
sinh con tại nhà rất phổ biến ở các dâm tộc thiểu số, mới có khoảng 64% các
ca sinh được thực hiện ở cơ sở y tế trong khi có đến một nửa lựa chọn phương
pháp sinh con tại nhà là chủ yếu. Sử dụng các biện pháp tránh thai chưa phổ
biến, có đến 23% phụ nữ có gia đình không sử dụng một biện pháp tránh thai

thiểu số rất ít người gồm: Si La, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo, Cống, Mảng,
Bố Y, Lô Lô, Cờ Lao, Ngái.
Việc phân tích đặc điểm của các dân tộc thiểu số theo từng khía cạnh
nhân khẩu học, điều kiện sống, sinh kế, bình đẳng giới, tiếp cận y tế, giáo dục
đào tạo, cơ sở hạ tầng,… cho thấy các khía cạnh này có liên quan chặt chẽ
đến nhau, các dân tộc làm tốt một số khía cạnh thường sẽ làm tốt ở các khía
cạnh khác. Ngược lại, các dân tộc gặp khó khăn ở một số vấn đề cũng thường
gặp hạn chế ở các vấn đề còn lại.
Chính sách về đất ở, nhà ở được Đảng, nhà nước sớm quan tâm nhằm
hạn chế tối đa tập quán du canh du cư, phát nương làm rẫy một thời gian ngắn
sau đó chuyển đến nơi mới để sinh sống hoặc khi dịch bệnh xảy ra gán cho
ma quỷ xua đuổi làm bất ổn định đời sống các vùng dân tộc thiểu số. Mặt
khác, nhằm ổn định đời sống, tập trung cho phát triển kinh tế, xã hội giữa các
vùng miền, bảo vệ vững chắc quốc phòng - an ninh và thực hiện thắng lợi khu
vực phòng thủ ở mỗi cấp. Vì vậy, việc triển khai thực hiện sắp xếp, ổn định
dân cư đã được thực hiện quyết liệt thông qua chương trình 327/CP, 167/CP,
661/CP, Quyết định 135/CP, nhà ở 22/CP cho người có công với cách mạng
và nhiều chính sách của địa phương, chương trình nhà ở tình nghĩa,…đã từng
bước cải thiện đáng kể nhà ở cho vùng dân tộc thiểu số, từng khu dân cư hình
4


thành và phát triển ổn định phù hợp với phong tục, văn hóa sinh sống của mỗi
vùng miền. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế, xã hội chưa phát triển, nhiều nơi
hạ tầng giao thông yếu kém, rừng và chủ trương cấm rừng trực tiếp ảnh
hưởng đến xây dựng nhà ở cộng với chính sách chỉ mang tính hỗ trợ nên số
khu dân cư hình thành chưa nhiều, nhà ở thực hiện mang tính tạm bợ, không ở
được lâu, khu dân cư không gắn với sản xuất…Trong thời gian qua, công tác
sắp xếp, bố trí nhằm ổn định dân cư vùng dân tộc thiểu số trên phạm vi cả
nước được triển khai quyết liệt; nổi bật như vùng Tây Bắc do lũ lụt xẩy ra

thể. Trong những năm qua chính sách bố trí, sắp xếp dân cư vùng đồng bào
dân tộc thiểu số được các cấp chính quyền triển khai thực hiện thường xuyên
với quy mô và hình thức khác nhau nên kết quả đem lại rất tốt.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn việc triển khai chính
sách bố trí, sắp xếp dân cư tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam làm cơ sở
đề xuất các giải pháp thiết thực, hiệu quả trong việc thực hiện chính sách bố
trí, sắp xếp dân cư tại huyện cũng như các địa phương còn lại vùng dân tộc
thiểu số trong tỉnh có tương đồng các điều kiện trong thời gian đến.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích, luận văn đi sâu nghiên cứu và thực hiện một số
nhiệm vụ trọng tâm như sau:
+ Hệ thống hoá lý luận về một số nội dung liên quan đến chính sách
công và cơ sở pháp lý về chính sách phát triển kinh tế, xã hội miền núi; chính
sách cụ thể về bố trí, sắp xếp dân cư vùng dân tộc thiểu số.
+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách bố
trí, sắp xếp dân cư tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.
+ Đánh giá thực trạng triển khai thực hiện chính sách bố trí, sắp xếp
6


dân cư tại huyện những năm qua, trọng tâm là giai đoạn 2013-2018.
+ Đề xuất một số giải pháp và những kiến nghị đối với cấp ủy, chính
quyền các cấp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách bố
trí, sắp xếp dân cư tại huyện Đông Giang trong thời gian đến.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách bố trí, sắp xếp dân cư
vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.

để hoạch định, định hướng chiến lược phát triển vùng dân tộc thiểu số; việc
triển khai thực hiện công tác bố trí, sắp xếp dân cư và các chính sách khác đối
với miền núi, đặc biệt đối với huyện Đông Giang trong tương lai; tiết tiệm,
vận dụng đúng chính sách và nguồn lực vì mục tiêu phát triển.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần Mở đấu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
nội dung chính gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách sắp xếp, bố trí dân cư vùng dân
tộc thiểu số.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách sắp xếp, bố trí dân cư vùng
dân tộc thiểu số tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục thực hiện chính sách sắp xếp, bố
trí dân cư vùng dân tộc thiểu số tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam.

8


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẮP XẾP, BỐ TRÍ
DÂN CƯ VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Chính sách
Có nhiều khái niệm khác nhau và có cách tiếp cận khác nhau về chính
sách. Nhưng phổ biến và có cách hiểu tương đối đầy đủ và chính xác về chính
sách như sau: Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các
hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất
định.
1.1.2. Chính sách công
Cho đến nay,cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một
chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi trên thế giới. Từ thực tế

1.1.7. Chính sách bố trí, ổn định dân cư
Theo Thông tư số 19/2015/TT-BNNPTNT, ngày 27/4/2015 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định Quy trình bố trí, ổn định dân
cư Thực hiện chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg,
ngày 21/4/2012 của Thủ tướng, khái niệm: Bố trí, ổn định dân cư trong huyện
là hình thức bố trí, ổn định dân cư trong phạm vi một hoặc nhiều xã trên địa
bàn của một huyện. Từ khái niệm trên có thể hiểu Chính sách bố trí, ổn định
dân cư là hình thức tác động của nhà nước về bố trí, ổn định dân cư trong
phạm vi một hoặc nhiều địa bàn nhất định.
1.2. Những vấn đề chung về dân cư vùng dân tộc thiểu số
1.2.1. Đặc điểm của dân cư vùng dân tộc thiểu số
Tuy chưa có đánh giá chính xác và cụ thể về dân cư vùng dân tộc thiểu
số phục vụ cho đề tài luận văn này, nhưng quá trình tham khảo và nghiên cứu
10


sơ bộ có thể thấy dân cư vùng dân tộc thiểu số có những đặc điểm sau:
- Một là, thường hình thành ở những địa bàn có vị trí, địa lý phức tạp
gắn liền biên giới đất liền của quốc gia. Các dân tộc thiểu số đều có quá trình
hình thành và cư trú mỗi vùng khác nhau trong quá trình phát triển. Trong quá
trình nghiên cứu cho thấy họ được di cư từ các nơi khác nhau và trải qua sinh
sống nhiều nơi với thời gian khác nhau nhưng hàng trăm năm nay từ khi các
dân tộc sinh sống ổn định phần đông đều sống ở địa bàn có vị trí, địa lý phức
tạp, ít có đồng bằng, xa biển khơi như Tây bắc, Tây Trung bộ, Tây nguyên và
chỉ có các dân tộc có chủ quyền riêng trước đây của Nam bộ sinh sống địa
bàn thuận lợi.
- Hai là, sống theo cộng đồng có cùng ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập
quán. Cộng đồng 53 dân tộc thiểu số đều có sự phản ánh khác nhau về cội
nguồn, văn hóa, địa bàn cư trú của cùng tộc người được phát triển gần giống
nhau về mọi mặt. Trong quá trình phát triển mỗi tộc người đều có nét riêng và

thù địch. Điều đáng chú ý là, đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn có ý
thức đoàn kết dân tộc, một lòng đi theo Đảng, đã có những đóng góp quan
trọng vào sự nghiệp cách mạng. Bên cạnh đó vẫn còn một số ít đồng bào bị
nhiễm tư tưởng dân tộc tự trị, ly khai, chia rẽ với người Kinh. Đó là hậu quả
của chính sách “chia để trị” của thực dân Pháp và các thủ đoạn phá hoại đoàn
kết dân tộc của đế quốc Mỹ trong thời kỳ xâm lược nước ta cũng như hoạt
động chống phá của các thế lực thù địch hiện nay; trong đó nổi bật là một bộ
phận người dân của một số dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên, người
Hmông ở Tây Bắc có tư tưởng ly khai, đòi thành lập nhà nước độc lập trong
thời gian trước đây.
Từ khi đất nước hòa bình đến nay, nhất là những năm thực hiện công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước, kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc
12


thiểu số đã có bước chuyển biến tích cực, đời sống của nhân dân được cải
thiện rõ rệt. Tuy nhiên, do lịch sử để lại, ở nhiều vùng dân tộc thiểu số, kinh
tế chậm phát triển, đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo
cao so với bình quân chung của cả nước. Kèm theo đó là trình độ dân trí chưa
đồng đều, các tập tục lạc hậu đã ăn sâu, bám rễ, trở thành nếp sống trong sinh
hoạt hằng ngày của đồng bào. Lợi dụng điều đó, cùng những yếu kém, sai sót
của các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc, các thế lực thù
địch ra sức xuyên tạc, kích động, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn. Nguy hiểm hơn, chúng lợi
dụng một số vấn đề nhạy cảm, như: biên giới, dân tộc và tôn giáo, gây xung
đột sắc tộc, tôn giáo, làm mất ổn định an ninh, chính trị ở nhiều khu vực, điển
hình là các vụ biểu tình, bạo loạn vào năm 2001, 2004 và 2008. Hiện nay, vấn
đề dân tộc, tôn giáo đang hết sức nhạy cảm, tiếp tục được các thế lực thù địch
lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, hòng làm suy yếu và cô lập Việt
Nam trong quan hệ quốc tế, kích động chống đối ở trong nước và tạo cớ can

1.2.4. Nguyên tắc sắp xếp, bố trí dân cư
- Đối tượng áp dụng
Hộ gia đình có nhu cầu bức xúc về chỗ ở, gồm: Các hộ dân vùng thiên
tai cần di dời khẩn cấp, hộ dân sống trong các khu vực bảo vệ của rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng, hộ dân tộc thiểu số, hộ nghèo ở xã khu vực III, vùng đặc
biệt khó khăn và các hộ dân khác cần thiết phải sắp xếp, bố trí lại dân cư theo
quy hoạch nông thôn mới.
- Nguyên tắc thực hiện
+ Sắp xếp dân cư phải gắn với đất sản xuất và phù hợp quy hoạch xây
dựng nông thôn mới theo hình thức xen ghép là chủ yếu. Đối với những khu
vực không thể bố trí xen ghép thì mới xem xét xây dựng điểm sắp xếp dân cư
tập trung nhưng hạn chế thấp nhất việc san ủi gây sạt lở.
14


+ Người dân là chủ thể thực hiện các dự án hạ tầng thiết yếu tại cộng
đồng, nhà nước hỗ trợ theo định mức.
+ Đảm bảo phù hợp với phong tục, tập quán sinh hoạt, sản xuất; trên cơ
sở nguyện vọng và sự đồng thuận của người dân, cộng đồng dân cư.
+ Đảm bảo quỹ đất dự phòng đáp ứng nhu cầu gia tăng dân số.
+ Mỗi hộ dân chỉ được hỗ trợ 01 lần.
1.3. Quy trình chính sách sắp xếp, bố trí dân cư
- Quy trình chính sách công
+ Khái niệm: Quy trình chính sách được hiểu là quá trình luân chuyển
các giai đoạn từ khởi sự chính sách đến khi xác định được hiệu quả của chính
sách trong đời sống xã hội. Các giai đoạn của quy trình chính sách có liên hệ
chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc: giai đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn
tiếp theo và kết quả của giai đoạn trước là thông tin cần và đủ cho giai đoạn
tiếp theo.
Các học giả trên thế giới đã đưa ra nhiều mô hình về quy trình chính

Hoạch định chính sách: Trong giai đoạn này, các chính sách được
nghiên cứu đề xuất để Nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai. Quá trình
đề xuất chính sách bao gồm việc xác định vấn đề cần ra chính sách, xác định
các mục tiêu mà chính sách cần đạt được và xác định các giải pháp cần thiết
để đạt tới các mục tiêu đó. Muốn xác định được vấn đề chính sách, cần phải
thường xuyên quan sát và phân tích tình hình thực tế để dự báo được những
mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của xã
hội.
Thực thi chính sách: Đây là giai đoạn thực hiện các mục tiêu chính
sách công trên thực tế. Nói cách khác, đây là giai đoạn vận dụng những giải
pháp định trước để đạt được các mục tiêu chính sách. Chính trong giai đoạn
này, chính sách được biến thành kết quả thực tế. Giai đoạn này bao gồm các
16


hoạt động triển khai, phối hợp thực hiện, kiểm tra đôn đốc và hiệu quả chính
sách cùng các biện pháp tổ chức thực thi để chính sách phát huy tác dụng
trong cuộc sống.
Đánh giá chính sách: Đây là một giai đoạn quan trọng trong quy trình
chính sách. Trong giai đoạn này, người ta tiến hành so sánh các kết quả của
chính sách công với các mục tiêu đề ra, phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội đạt
được thông qua việc thực thi chính sách trên thực tế.
- Thực thi chính sách công
+ Khái niệm: Chính sách được hoạch định ra xuất phát từ yêu cầu khách
quan của thực tế, từ những nhu cầu của xã hội. Trải qua rất nhiều thời kỳ, từ
năm 1930 đến 1960, các nhà nghiên cứu quy trình chính sách hầu như chỉ tập
trung tìm tòi về việc hoạch định chính sách công. Song cho đến tận ngày nay,
người ta vẫn khó có thể khẳng định rằng, một chính sách đề ra là tốt hay xấu.
Điều đó chỉ có thể được đánh giá bằng thực tế là chính sách đó được xã hội
chấp nhận hay không. Chỉ có thực tiễn là phán xét chính xác nhất chính sách

Khi kế hoạch được ban hành, chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước
có trách nhiệm chuẩn bị nguồn lực về kinh tế, con người và các điều kiện cần
thiết khác để tiến hành thực hiện kế hoạch. Tổ chức kiểm tra, rà soát đối
tượng và sau cùng tổ chức thực hiện, kiểm tra đôn đốc để kế hoạch thực hiện
đạt như mục đích đề ra. Thường xuyên đến gặp gỡ, tạo điều kiện để người
thục hiện chính sách thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
1.3.4. Đánh giá, tổng kết
Đây là khâu quan trọng, chu đáo và thực hiện một cách khách quan. Là
việc chính quyền, các cơ quan chức năng tiến hành tổng hợp, phân tích, thống
kê kết quả triển khai thực hiện kế hoạch đề ra ban đầu. Việc đánh giá chính
xác giúp cho công tác lãnh đạo, quản lý có kinh nghiệm trong hoạt động thực
tiễn, kiến nghị cũng như đề xuất chính sách thực hiện đúng đắn hơn. Tổ chức
18


họp đúng thành phần, đối tượng để đánh giá rút kinh nghiệm và biểu dương
khen thưởng những cá nhân, tập thể thực hiện tốt để nhân rộng điển hình.
1.4. Yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện sắp
xếp, bố trí dân cư vùng dân tộc thiểu số
1.4.1. Yêu cầu của quá trình thực hiện sắp xếp, bố trí dân cư vùng
dân tộc thiểu số
Sắp xếp, bố trí dân cư là quá trình phức tạp, đòi hỏi có sự đánh giá,
nhận định và quyết định tổ chức thực hiện đúng đắn nhiều vấn đề quan trọng
liên quan đến quá trình vận dụng các chính sách, phát huy nội lực, tiềm năng
lợi thế đáp ứng các yêu cầu về tính ổn định lâu dài, bảo đảm cho phát triển
KT-XH, Quốc phòng-An ninh, đặc biệt sự phù hợp giữa quy hoạch và văn
hóa vùng miền. Đáp ứng các yêu cầu cơ bản trên thì chính sách mới thực sự
đi vào cuộc sống, từng bước cải thiện đời sống nhân dân, giảm dần khoảng
cách giữa các vùng miền.
1.4.1.1. Tính ổn định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status