BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGÔ THỊ HƯƠNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA CÁC DÂN
TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGÔ THỊ HƯƠNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA CÁC DÂN
TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC
VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN............6
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án................................6
1.1.1. Nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa các
dân tộc thiểu số.............................................................................................6
1.1.2. Nghiên cứu về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc
thiểu số vùng Đông Bắc.............................................................................22
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án.........26
Tiểu kết chương 1...........................................................................................30
Chương 2: LÝ LUẬN VỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN
HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM...........31
2.1. Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.....................................................31
2.1.1. Văn hóa và bản sắc văn hóa............................................................31
2.1.2. Những vấn đề cơ bản của bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số..........41
2.2. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng
Đông Bắc........................................................................................................44
2.2.1. Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc...................44
2.2.2. Thực chất của việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu
số vùng Đông Bắc..........................................................................................66
2.3. Những yếu tố tác động đến việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa
các dân tộc thiểu số........................................................................................76
Tiểu kết chương 2...........................................................................................80
Chương 3: THỰC TRẠNG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN
HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM...............81
3.1. Thành tựu của giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc
thiểu số vùng Đông Bắc.................................................................................81
3.1.1. Thành tựu của việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể..........82
3.1.2. Thành tựu của việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa phi
4.2.2. Xây dựng đội ngũ làm công tác văn hóa đáp ứng yêu cầu giữ
gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số................................139
4.2.3. Đầu tư một cách cân xứng, hài hòa giữa nguồn lực kinh tế và
nguồn lực phát triển văn hóa...................................................................141
4.2.4. Nâng cao trình độ, năng lực của đồng bào các dân tộc thiểu số với
tư cách là chủ thể của giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc
mình...........................................................................................................144
Tiểu kết chương 4...........................................................................................148
KẾT LUẬN...................................................................................................149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................152
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
VH
VHDT
BSVH
BSVHDT
DT
BSDT
DTTS
: Văn hóa
: Văn hóa dân tộc
: Bản sắc văn hóa
: Bản sắc văn hóa dân tộc
: Dân tộc
: Bản sắc dân tộc
: Dân tộc thiểu số
vùng Đông Bắc, giúp cho đồng bào tồn tại, phát triển bền vững trong lịch sử. Bối
cảnh và các điều kiện của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhất là quá trình phát
2
triển kinh tế thị trường và xây dựng xã hội hiện đại ở nước ta hiện nay, một mặt đã
tạo ra những điều kiện thuận lợi cho đồng bào các DTTS tiếp tục duy trì, tồn tại,
phát triển các giá trị VH theo hướng hiện đại, mặt khác cũng làm cho các giá
trị VH đó bị pha tạp, biến đổi thậm chí mai một, mất dần BSVHDT như một
thách thức lớn.
Tình hình đó đang đặt ra vấn đề bức xúc hiện nay là làm thế nào để hội nhập
quốc tế và phát triển kinh tế thị trường, xây dựng xã hội hiện đại để phát triển nhanh
mà vẫn giữ gìn và phát huy được BSVH các DTTS; làm thế nào để giữ gìn, phát huy
BSVH các DTTS vùng Đông Bắc một cách hiệu quả để biến sức mạnh VH vùng
Đông Bắc vào sức mạnh chung của sự phát triển đất nước; giải pháp nào để có thể
nâng cao hiệu quả việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc góp
phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới? Vấn đề này có ý nghĩa thiết thực đối
với sự phát triển vùng Đông Bắc nói riêng và cả nước nói chung, bởi “VH thực sự là
nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự
phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc”[34]. Với lý do đó, nghiên cứu sinh
chọn vấn đề “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng
Đông Bắc Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án Tiến sĩ triết học của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích của luận án
Trên cơ sở lý luận về giữ gìn và phát huy BSVH, luận án phân tích để làm rõ
thực trạng của việc giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc Việt Nam
hiện nay; từ đó đưa ra một số quan điểm và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
của việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS ở đây.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và xác định
được sử dụng với cả nghĩa rộng để chỉ DT quốc gia (nation) và cả nghĩa hẹp
để chỉ tộc người (ethnic). Trong luận án này, thuật ngữ các DTTS được sử
dụng đồng nghĩa với khái niệm tộc người (ethnic) - tức là theo cách gọi chung
ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận.
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
4
tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước về việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, DTTS vùng Đông Bắc
nói riêng. Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa
học, tài liệu tổng kết thực tiễn của cơ quan Đảng, Nhà nước và địa phương
liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu.
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: lịch sử và logic, phân tích
và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, lý luận gắn với thực tiễn, tham quan,
quan sát thực tế…, cụ thể:
Luận án sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật để nhìn nhận sự
vật, hiện tượng VH, BSVH vùng Đông Bắc ở trạng thái vận động, phát triển;
giữa các hiện tượng VH có mối quan hệ biện chứng với nhau; các sự vật, hiện
vật VH đều phải rất cụ thể và chúng tồn tại trong điều kiện lịch sử nhất định.
Phương pháp duy vật lịch sử được sử dụng để nghiên cứu các hiện tượng
VH, BSVH trong mối quan hệ với tồn tại xã hội và nó chịu sự tác động, quy
định bởi tồn tại xã hội.
Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp được sử dụng để làm rõ các
khái niệm ở chương 2 như khái niệm VH, BSVH, BSVH các DTTS....
dạng và tiên tiến hóa nền VH Việt Nam; gắn với nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của đồng bào; phát huy vai trò chủ thể của đồng bào. Trên cơ sở đó, luận án đã
đưa ra những giải pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hiệu quả giữ gìn, phát huy
BSVH các DTTS vùng Đông Bắc trong bối cảnh và điều kiện hiện nay như là:
Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa hình thức, nội dung giáo dục, tuyên truyền;
Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa đáp ứng yêu cầu giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số; Đầu tư một cách hài hòa, cân xứng giữa mục
tiêu phát triển kinh tế với mục tiêu phát triển văn hóa; Nâng cao trình độ, năng lực
của đồng bào các dân tộc thiểu số với tư cách là chủ thể giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hóa của dân tộc mình.
6. Ý nghĩa của luận án
6
- Ý nghĩa lý luận:
+ Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú và sâu hơn
lý luận về giữ gìn, phát huy BSVHDT, đặc biệt là của các DTTS vùng Đông
Bắc Việt Nam.
+ Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác hoạch định chiến lược, chính
sách phát triển VH ở đồng bào các DTTS vùng Đông Bắc nước ta.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và
học tập trong các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành và các trường Đại học,
Cao đẳng ở nước ta.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án
được kết cấu thành 4 chương với 10 tiết.
7
8
Định nghĩa về VH của UNESCO năm 1982 đã trình bày một cách có hệ
thống và toàn diện các thành tố của VH theo nghĩa rộng nhất của nó. Quán
triệt tinh thần cơ bản trên, nhân dịp phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn
hóa (1988-1997) trên phạm vi toàn cầu, ngài Tổng giám đốc UNESCO
Federico Mayor đã nhấn mạnh thêm rằng: “VH là tổng thể sống động các hoạt
động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng
tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu
-những yếu tố xác định đặc tính riêng của DT....”[90; 33,34]. Quan điểm của ngài
Mayor thể hiện rõ bản chất của VH là hoạt động sáng tạo của con người tạo ra các
giá trị, và nó làm nên đặc tính riêng của các DT để phân biệt DT này với DT khác.
Như vậy, các nhà khoa học, các nhà hoạt động VH, các tổ chức quốc tế
đã nhận diện VH ở các góc độ khác nhau, qua đó vấn đề bản chất của VH
được bộc lộ. Có công trình tiếp cận VH theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các giá
trị tinh thần, có công trình tiếp cận VH theo nghĩa rộng, bao gồm cả các hoạt
động sáng tạo của con người và kết quả của hoạt động sáng tạo đó là các giá
trị vật chất và tinh thần.
Trong định nghĩa VH của mình, Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra các thành tố
chủ yếu tạo nên VH đó là ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các
phương thức sử dụng. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh đặc trưng sáng tạo
và phát minh của VH và chỉ ra mục tiêu của VH là vì sự sinh tồn và mục đích của
cuộc sống con người. Mặc dầu Người không bàn sâu về VH, song hoàn toàn có thể
khẳng định đó là những quan điểm có giá trị khoa học về VH.
Trong Tuyển tập “Khái niệm và quan niệm về văn hóa”[41], tác giả Trần Độ
đã tiếp cận VH dưới góc độ hoạt động sáng tạo của con người theo hướng chân,
thiện, mỹ. Tác giả cho rằng: “VH là những quá trình hoạt động sáng tạo của con
người theo hướng chân, thiện, mỹ và các sản phẩm của hoạt động đó được lưu
truyền từ đời này qua đời khác. Những cái đó có tác dụng phát triển các lực lượng
10
phổ quát mang đậm dấu ấn nhân tính tạo nên giá trị nhân văn. Bất cứ sáng tạo
của lĩnh vực nào mang tính giá trị, gắn với lợi ích con người đều bao hàm ý
nghĩa nhân văn ở cấp độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp theo đặc thù của
mỗi lĩnh vực. Như vậy, tác giả đã tiếp cận VH ở góc độ hoạt động sáng tạo ra
các giá trị và đồng thời tác giả cũng chỉ ra tính chất của VH đó là tính DT
(gắn với các điều kiện đặc thù của DT) và tính nhân loại (hướng tới các giá trị
chung mang tính phổ quát).
Công trình “Văn hóa và phát triển”[59] của tác giả Đỗ Huy đã lược
khảo các quan niệm về VH ở phương Đông và phương Tây theo dòng lịch sử,
quan niệm Mácxít và quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất của VH. Trên
cơ sở đó, tác giả đưa ra quan niệm của mình về VH, nó chính là tổng thể các
giá trị do con người tạo ra, đó là các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần và
bản thân sự phát triển của con người. Tác giả cho rằng, trong VH, cả ba giá trị
này đều tương tác và gắn bó với nhau. Trong các giá trị vật chất có các giá trị tinh
thần và trong các giá trị tinh thần đều hàm chứa các giá trị vật chất. Trong hai giá trị
đó cũng hàm chứa sự phát triển năng lực bản chất của con người.
Tóm lại, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động VH trên thế giới cũng
như ở Việt Nam đã có sự nhận diện VH là khác nhau về độ rộng hẹp của vấn
đề, về giới hạn phạm trù của các hệ thống, lĩnh vực VH; về thành tố, cấu trúc,
đặc trưng của VH, về mối quan hệ giữa VH học với các khoa học khác, chứ
không phải khác nhau về cái gốc, cái nền, cái tổng quát, cái đại thể của VH.
* Tình hình nghiên cứu về BSVH
Công trình “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”[130] của tác giả Trần
Ngọc Thêm đã vận dụng cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc kết hợp với phương
pháp so sánh - loại hình để tiến hành khảo sát VH Việt Nam trong một bức
tranh toàn cảnh, trên cơ sở so sánh nó với những nền VH xa (của thế giới) là
VH các DT phương Tây và một nền VH gần (của khu vực) có liên hệ mật
tiếp thu được những tinh hoa VH của thời đại, làm tăng nguồn lực để phát
12
triển nhanh và bền vững. “Bản sắc văn hóa dân tộc bắt nguồn từ bản lĩnh dân
tộc”[120;52] của tác giả Hồ Lê đã xem xét vấn đề BSVHDT theo hai bình
diện: BSVH của DT Việt Nam và BSVH của từng DT trong nước Việt Nam.
Đồng thời, tác giả cũng khẳng định bản lĩnh DT là cội nguồn của bản sắc DT,
BSVHDT cũng có tác động ngược lại củng cố bản lĩnh DT, giúp cho DT tự
tin, phát huy tốt hơn bản lĩnh của mình để vượt qua các thử thách của lịch sử.
Công trình “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu
hóa”[64] do tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và tác giả Nguyễn Văn Huyên (đồng
chủ biên) gồm nhiều bài viết về vấn đề BSVH như: “Toàn cầu hóa và một số
vấn đề đặt ra đối với bản sắc văn hóa Việt Nam”[64;223] của tác giả Nguyễn
Văn Huyên; “Bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa”[64;236] của
tác giả Trần Văn Bính. Tác giả bài viết cho rằng, BSVH không chỉ biểu hiện rõ
rệt trong đạo đức, trong lối sống, trong các hoạt động nghệ thuật mà còn tiềm ẩn
trong phong tục tập quán, những cách cảm nhận riêng về thế giới về không gian
và thời gian.
Công trình “Bản sắc văn hóa dân tộc”[129] của tác giả Hồ Bá Thâm đã
chỉ ra bản chất của BSVHDT, tác giả cho rằng BSVHDT đó là một kiểu tổ hợp,
kết hợp những phẩm chất, những giá trị VH nội sinh và ngoại sinh tạo thành linh
hồn, sức sống bền vững của DT, có những nét ưu trội hơn một số DT khác, mang
tính ổn định trong quá trình lịch sử đấu tranh và xây dựng của DT đó.
Trong bài viết “Bản sắc và giao lưu văn hóa - từ góc nhìn Triết
học”[113], tác giả Bùi Thanh Quất cũng đưa ra quan niệm về BSVH, tác giả cho
rằng, BSVH không phải là cái trừu tượng khó thấy mà được hiển lộ ra trong đời
sống hàng ngày của mỗi người và cả cộng đồng. Đó là những nét riêng để phân
biệt được người Việt Nam với các cộng đồng DT khác trên thế giới. Nét riêng đó
được thể hiện từ nếp sống của mỗi thành viên trong gia đình với nhau đến cách
nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Qua đó, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định và tổ chức
triển khai các nội dung trong quan điểm, đường lối, chính sách phát triển VH
của Đảng và Nhà nước ta.
14
Có thể nói, các sách, các bài viết, các công trình nghiên cứu đã tiếp cận
vấn đề BSVH, BSVHDT từ nhiều góc độ khác nhau nhưng đều có điểm
chung là chỉ ra bản chất của VH chính là quá trình hoạt động sáng tạo của con
người. Kết quả của quá trình hoạt động sáng tạo đó chính là hệ thống các giá
trị vật chất và tinh thần. Trong hệ thống các giá trị đó, có những giá trị đặc
trưng, cốt lõi, tinh túy nhất và là cái để phân biệt DT này với DT khác và
được gọi là BSVHDT. Các nhà nghiên cứu cũng đều khẳng định BSVHDT
chính là sức mạnh nội sinh để đưa đất nước phát triển bền vững trong thời kỳ
mở cửa, hội nhập quốc tế. Từ đó, đi đến kết luận cần thiết phải giữ gìn và phát
huy BSVHDT và đưa ra một số định hướng và giải pháp nhằm giữ gìn, phát
huy BSVHDT trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng.
Tuy nhiên, thực tiễn đất nước và thời đại luôn vận động, do đó đặt ra
yêu cầu cho công tác nghiên cứu lý luận là phải tiếp tục làm rõ hơn nhiều vấn
đề đã, đang và sẽ nảy sinh trong quá trình giữ gìn và phát huy BSVHDT để có
những giải pháp kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn và phát huy
BSVHDT.
* Tình hình nghiên cứu về BSVH các DTTS
Việt Nam có 54 DT anh em, mỗi DT đều góp vào sự hình thành sắc thái VH
chung của cả nước bằng những đặc trưng VH riêng độc đáo, tạo nên một nền
VH Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Ngoài DT Kinh chiếm đa số, 53
DTTS còn lại cư trú đan xen, rải rác khắp các vùng miền trong cả nước,
nhưng tập trung chủ yếu ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới,
có đời sống vật chất kém phát triển hơn so với DT Kinh. Tuy vậy, nhưng
của các DTTS, qua đó, góp phần phát huy vai tṛò của VH với tư cách là năng
lực nội sinh của người DTTS trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Ở trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu về VH các DTTS
như: “Một số vấn đề về phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số”[121] của tập
thể các tác giả. Cuốn sách gồm nhiều bài viết của các tác giả về vấn đề cái
chung, cái riêng trong sự phát triển nền VH Việt Nam. Cái riêng đó chính là
16
VH tộc người, VH của từng DT cụ thể sinh sống trong lãnh thổ Việt Nam, góp
vào nền VH chung thống nhất những nét VH độc đáo, đặc sắc, đặc trưng của
từng DT. Cũng trong cuốn sách này, tác giả Ngô Đức Thịnh có bài viết “Về sự
thâm nhập và xuất hiện cái mới trong văn hóa các dân tộc thiểu số”[121], tác
giả đã phân tích, làm rõ trong VH các DTTS, các hiện tượng VH mới dần dần
xuất hiện và nảy sinh do sự phát triển nội tại của nền VH mỗi DT, là sản phẩm
của quá trình giao lưu, ảnh hưởng VH giữa các DT, giữa các nước đang diễn
ra hết sức sống động hiện nay. Tác giả đã đưa ra những chỉ dẫn về sự xuất
hiện các hiện tượng VH mới trong cả VH vật chất lẫn VH tinh thần. Qua đó,
giúp chúng ta nhận diện được xu hướng biến đổi của VH các DTTS trong bối
cảnh kinh tế - xã hội mới hiện nay. Từ đó, cung cấp những cơ sở khoa học cho
việc hoạch định các chiến lược phát triển VH ở vùng các DTTS nước ta.
Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, VH có thể
là động lực phát triển kinh tế - xã hội, ngược lại cũng có thể là áp lực kìm hãm sự
phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, việc quản lý xã hội trên cơ sở những lý luận và
thực tiễn về VH tộc người, về VH vùng là hết sức cần thiết. Do đó, các công trình
“Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số”[110] của tác giả Lò Giàng Páo; “Sắc
thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước ”[108]
của nhà xuất bản Khoa học xã hội; “Xu hướng biến đổi cấu trúc văn hóa vùng ở
các tỉnh phía Bắc Việt Nam”[58] của tác giả Lại Phi Hùng.... đã gợi lên những vấn
đề chung như: Sắc thái VH tộc người, sắc thái VH địa phương (VH vùng), sự thống
triển, tác giả chỉ ra thực trạng VH các DTTS ở các khía cạnh: cơ cấu xã hội cổ
truyền của các DTTS, về VH vật chất, về VH tinh thần, các khuynh hướng
biến đổi đời sống VH các DTTS. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những vấn đề
đặt ra trong phát triển VH các DTTS. Những vấn đề vừa thuộc các khía cạnh
nhận thức của con người, nhất là của những người quản lý, lại vừa thuộc khía
cạnh cơ chế, tổ chức thực hiện. Từ đó cung cấp cho bạn đọc bức tranh tổng
quát về thực trạng VH các DTTS ở nước ta, là cơ sở để các nhà hoạch định
chính sách, các nhà nghiên cứu đưa ra những chính sách, biện pháp nhằm
18
phát triển VH ở vùng các DTTS.
Nghiên cứu cơ bản về VH từng DT là một hướng nghiên cứu lâu dài
của DT học và nhiều bộ môn khoa học xã hội và nhân văn. Qua các công trình
nghiên cứu, những đặc trưng cơ bản về lịch sử, kinh tế, xã hội, VH của các
DT được làm sáng tỏ, tiêu biểu là các tác phẩm: “Sơ lược giới thiệu các nhóm
Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam”[83] của nhóm tác giả Lã Văn Lô, Đặng
Nghiêm Vạn; “Người Dao ở Việt Nam”[35] của Bế Viết Đẳng và nhiều tác
giả; “Văn hóa Tày - Nùng”[82] của Lã Văn Lô, Hà Văn Thư; “Văn hóa tín
ngưỡng Tày, Nùng” [76] do tác giả Vũ Ngọc Khánh chủ biên; “Các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam thế kỷ XX”[119] của tập thể các tác giả; “Tín ngưỡng dân
gian Tày, Nùng”[172] của tác giả Nguyễn Thị Yên; “Văn hóa dân gian Tày,
Nùng ở Việt Nam”[126] của tác giả Hà Đình Thành. Nhìn chung, các công
trình kể trên một mặt đã làm sáng rõ một phần về thực trạng kinh tế, xã hội và
VH của các DT, mặt khác đã từng bước đi sâu tìm hiểu, khám phá các đặc
trưng, BSVH từng DT, nhất là các DTTS đông, trình độ phát triển xã hội
tương đối cao, có ảnh hưởng đối với các DT láng giềng như DT Tày, Nùng cư
trú ở vùng thung lũng Đông Bắc, DT Mông, Dao cư trú ở vùng rẻo cao Đông
Bắc, từ đó đặt ra những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu lý giải.
Vùng Đông Bắc nước ta là nơi tập trung nhiều thành phần DTTS và có