TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 60

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------------------

VÕ THỊ HƯƠNG TRÀ

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

ĐĂK LĂK - NĂM 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------------------

VÕ THỊ HƯƠNG TRÀ

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ VĂN NHIÊM

ĐĂK LĂK - NĂM 2019

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TA

: Tòa án

LTTHC

: Luật Tố tụng hành chính

TAND

: Tòa án nhân dân

THC

: Tòa Hành chính

VKS

: Viện kiểm sát

HĐXX

: Hội đồng xét xử

HTND

: Hội thẩm nhân dân


1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn ................................................ 3
3. Đối tượng nghiên cứu của luận văn ......................................................................... 6
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ................................. 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XÉT XỬ
VỤ ÁN HÀNH CHÍNH ................................................................................................. 8
1.1 Khái niệm trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính ............................................. 8
1.2 Đặc điểm của trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính ........................................ 9
1.2.1 Cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động tố tụng ............................................... 10
1.2.2 Người tham gia tố tụng .................................................................................. 10
1.2.3 Về các hoạt động cụ thể được tiến hành trong hoạt động tố tụng ................. 11
1.2.4 Điểm khác biệt cơ bản giữa trình tự, thủ tục tố tụng hành chính và trình tự,
thủ tục tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm, phúc
thẩm ........................................................................................................................ 12
1.3 Trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính tại cấp sơ thẩm................................... 16
1.3.1 Trình tự, thủ tục thụ lý vụ án ......................................................................... 16
1.3.2 Trình tự thủ tục chuẩn bị xét xử .................................................................... 19
1.3.3 Trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ..................................................... 25
1.4 Trình tự xét xử vụ án hành chính tại cấp phúc thẩm............................................ 27
1.4.1 Điểm khác biệt giữa trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính tại cấp sơ thẩm
và trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính tại cấp phúc thẩm .............................. 27
1.4.2 Trình tự, thủ tục thụ lý vụ án xét xử phúc thẩm và thời hạn chuẩn bị xét xử 28
1.4.3 Trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính phúc thẩm .................................... 30


Tiễn kết chương 1 ................................................................................................... 33
CHƯƠNG 2 TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH TẠI TÒA
ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH ĐẮK LẮK ........................................................................ 34
2.1 Trình tự, thủ tục xét xử VAHC tại TAND ở tỉnh Đắk Lắk .................................. 34
2.2 Đánh giá thực hiện trình tự, thủ tục xét xử VAHC cấp sơ thẩm tại TAND ở tỉnh

3.6 Tăng cường công tác quản lý, hướng dẫn đối với việc thực hiện trình tự, thủ tục
xét xử VAHC của TAND cấp trên đối với TAND cấp dưới ..................................... 70
3.7 Đảm bảo cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân .............................................................................................................................. 72
Tiễn kết chương 3...................................................................................................... 74
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................. 1


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê số lượng thụ lý vụ án Hành chính sơ thẩm – phúc thẩm của TAND
ở tỉnh Đắk Lắk từ năm 2014 - 2018 .............................................................................. 36
Bảng 2.2. Thống kê kết quả xét xử sơ thẩm VAHC của TAND ở tỉnh Đắk Lắk
....................................................................................................................................... 39


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết tranh chấp hành chính bằng con đường tư pháp là vấn đề đang được
Đảng, Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm, nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội hiện nay.
Hiến pháp 2013 khẳng định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [12], quy định này đã xác định rõ
ràng, cụ thể vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước. Lần đầu tiên
Hiến pháp 2013 ghi nhận Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp – nhánh
quyền lực ngang bằng với quyền lập pháp và hành pháp, đây cũng là cơ sở hiến định
cho việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các loại án, trong đó có xét xử
án hành chính. Đảng và Nhà nước ta cũng xác định rõ quan điểm về cải cách tư pháp
trong Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020”, Nghị quyết nêu rõ: Mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các

XIII, Kỳ họp thứ 10 đã thông qua LTTHC năm 2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/7/2016. LTTHC 2015 gồm có 23 chương, 372 điều, trong đó sửa đổi, bổ sung 198
điều, giữ nguyên 63 điều của LTTHC 2010 và bổ sung 111 điều mới. Ngoài việc sửa
đổi, bổ sung một số khái niệm của LTTHC 2010 như: quyết định hành chính, hành vi
hành chính, quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan,
tổ chức, LTTHC 2015 đã bổ sung quy định việc giải thích một số khái niệm như
“quyết định hành chính bị kiện”, “hành vi hành chính bị kiện”, “vụ án phức tạp”, “trở
ngại khách quan”, sự kiện bất khả kháng; bổ sung các quy định để cụ thể hoá nguyên
tắc tranh tụng trong xét xử; bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự.
Mặc dù quy định của pháp luật về xét xử các VAHC không ngừng được hoàn
thiện. Tuy nhiên, các TA hiện nay vẫn còn gặp những khó khăn, vướng mắc trong quá
trình áp dụng các quy định của luật trong thực tiễn, nguyên nhân là vì có những quy
định của LTTHC chưa phù hợp với thực tiễn; có những quy định còn chưa rõ, có cách
hiểu và vận dụng khác nhau trong việc áp dụng các quy định của pháp luật khi xét xử
VAHC, nhất là đối với các địa phương miền núi, biên giới đang trong quá trình phát
triển mạnh như tỉnh Đắk Lắk. Thực tiễn cho thấy việc giải quyết các VAHC còn gặp
không ít khó khăn như: vấn đề xác định đối tượng khởi kiện, xác định người tham gia
2


tố tụng trong VAHC; về thủ tục đối thoại trong tố tụng hành chính, về căn cứ đánh giá
tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, về cơ chế đảm bảo thi
hành bản án còn nhiều bất cập...
Vì vậy, việc nghiên cứu những trình tự, thủ tục xét xử các VAHC tại địa phương
vẫn đang là vấn đề cấp thiết. Với lý do đó, đồng thời là người đang công tác trong
ngành Tòa án, học viên lựa chọn đề tài “Trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính – Từ
thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và
Luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

xét xử các VAHC.
Luận án Tiến sĩ: “Tòa hành chính trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân” của Trần Kim Liễu. Luận án đã làm rõ được những vấn đề về
lý luận liên quan đến THC trong hệ thống TAND. Đồng thời chỉ ra những bất cập của
mô hình tổ chức, bất cập về phạm vi thẩm quyền xét xử các VAHC của TAND, trong
đó có TAND cấp tỉnh. Tuy nhiên, nhiều vấn đề luận án đặt ra cũng đã được giải quyết
trong LTTHC năm 2015. Mặc dù vậy, giá trị của những vấn đề về lý luận, về mô hình
tổ chức, chức năng nhiệm vụ, cũng như một số bất cập về bảo đảm tính độc lập của
TA trong xét xử các VAHC chưa được giải quyết một cách cơ bản trong LTTHC năm
2015, như thành lập THC khu vực. Luận án đã tập trung phân tích vị trí, vai trò THC
trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Đặc biệt luận án
cũng đã đưa ra được một số đảm bảo pháp lý cho tổ chức và hoạt động của THC; phân
tích, đánh giá, bình luận thực trạng tổ chức, hoạt động của THC, những ưu điểm trong
hoạt động, một số hạn chế, nguyên nhân của hạn chế về bảo đảm pháp lý đối với việc
tổ chức và hoạt động của THC. Tuy nhiên luận án chỉ đề cập và giải quyết những vấn
đề chung về THC, chưa chuyên sâu về THC trong TAND cấp tỉnh với chức năng xét
xử sơ thẩm và phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện khi có kháng
cáo, kháng nghị.
Ngoài ra, còn có “Thiết lập tài phán hành chính ở nước Tòa án nhân dân” –
GS.TS Nguyễn Duy Gia (chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1995 – tác giả phân
tích những vấn đề lý luận, các quan điểm, nguyên tắc tổ chức Toà án hành chính ở
Việt Nam; “Một số vấn đề về tài phán hành chính ở Việt Nam”- PTS. Lê Bình Vọng,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tác giả phân tích vị trí của tài phán hành chính
trong nền hành chính quốc gia và sự cần thiết phải thiết lập hệ thống toà án hành chính
4


ở Việt Nam; “Tài phán hành chính ở Việt Nam”- PTS. Đinh Văn Mậu và PTS. Phạm
Hồng Thái, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, các tác giả phân tích những vấn đề
chung về tài phán hành chính và vấn đề xác định thẩm quyền của toà án hành chính;

xử VAHC trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật và nâng cao chất lượng xét xử VAHC trên địa bàn các tỉnh nói chung
và tỉnh Đắk Lắk nói riêng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
Với mục đích nghiên cứu như trên, luận văn phải hoàn thành những nhiệm vụ
sau đây:
+ Nghiên cứu, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về trình tự, thủ tục xét xử
vụ án hành chính cấp sơ thẩm và phúc thẩm.
+ Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục xét xử
VAHC giai đoạn sơ thẩm và giai đoạn phúc thẩm, qua Luật tố tụng Hành chính 2015
và các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực thi hành.
+ Phân tích và đánh giá thực trạng trình tự, thủ tục xét xử VAHC tại tỉnh Đắk
Lắk – từ đó rút ra những ưu điểm, kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập, và nguyên
nhân của những kết quả và hạn chế, bất cập trong thực tiễn giải quyết VAHC tại địa
phương hiện nay.
+ Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất quan điểm và giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trình tự, thủ tục xét xử VAHC cũng như nâng cao
chất lượng giải quyết VAHC, nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức, nâng cao vị thế, uy tín của Tòa án theo đúng tinh thần cải cách tư pháp
và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của luận văn Thạc sĩ luật học, luận văn tập trung nghiên cứu
quy định cụ thể của pháp luật về trình tự, thủ tục xét xử VAHC ở cấp sơ thẩm, cấp
phúc thẩm, và hoạt động xét xử VAHC của Tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh.
- Phạm vi nghiên cứu;
+ Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động
thực hiện trình tự, thủ tục xét xử VAHC trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
+ Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động thực hiện trình tự, thủ tục
xét xử VAHC trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2014 đến năm 2018.

7


CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC
XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
1.1 Khái niệm trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính
Thủ tục hành chính được xem là một dạng của hoạt động tài phán tư pháp. Theo
nghĩa rộng thì tài phán là quyền lực của Chính phủ trong việc xem xét tính đúng sai
của các hoạt động diễn ra trên phạm vi lãnh thổ nhất định; theo nghĩa hẹp thì thuật ngữ
này dùng để chỉ thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét, đánh giá và ra các phán
quyết đối với vụ việc cụ thể và với các đối tượng xác định. Theo khái niệm này thì tài
phán được hiểu bao gồm hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án và hoạt động giải
quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính. Chúng ta thừa nhận cơ
chế giải quyết tranh chấp hành chính bằng thủ tục tố tụng, tuy nhiên không thành lập
một hệ thống THC độc lập mà thành lập các THC với tư cách là tòa chuyên trách
thuộc hệ thống TAND. Như vậy, xét xử VAHC là việc giải quyết các khiếu kiện hành
chính bằng các trình tự, thủ tục tố tụng theo một cơ chế riêng được điều chỉnh bởi
ngành LTTHC.
Nói đến trình tự, thủ tục là nói đến quy trình và cách thức giải quyết công việc.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Trình tự” có nghĩa là “ thứ tự trước sau”; “ Thủ tục” có
nghĩa là “ những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công
việc có tính chất chính thức” [20].
Thực tế, để thực hiện có hiệu quả một công việc nhất định cần tiến hành một loạt
các hoạt động theo thứ tự trước sau và cách thức thực hiện từng bước theo những quy
định chặt chẽ, thống nhất. Theo nghĩa chung nhất, thủ tục là phương thức, cách thức
giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống nhất, gồm một loạt
nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết quả mong muốn. Hoạt động
tố tụng Hành chính tại TA muốn tiến hành một cách có hiệu quả, TA phải đảm bảo
tuân thủ một cách nghiêm túc những quy tắc, quy định được LTTHC quy định. Những

thủ tục được quy định trong LTTHC
1.2 Đặc điểm của trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính
Trình tự, thủ tục giải quyết các VAHC được thể hiện ở một số đặc điểm sau đây:
Về cơ sở pháp lý để tiến hành các hoạt động tố tụng; Về người tham gia tố tụng; Về

9


các hoạt động cụ thể được tiến hành trong hoạt động tố tụng và Điểm khác biệt cơ bản
giữa trình tự, thủ tục tố tụng Hành chính và trình tự, thủ tục tố tụng Dân sự trong giải
quyết các vụ án theo thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm.
1.2.1 Cơ sở pháp lý để tiến hành hoạt động tố tụng
Ở Việt Nam, trước khi THC được thành lập thì vấn đề giải quyết khiếu nại đối
với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan công quyền cũng đã
được quan tâm ở mức độ nhất định. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của các nước xã
hội chủ nghĩa trước đây nên trong thời kỳ này các tranh chấp hành chính chủ yếu
được giải quyết theo thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính mà ít được giải quyết
theo thủ tục tố tụng tại Tòa án.
Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX nhu cầu của thực tiễn đòi hỏi phải
thiết lập một hệ thống cơ quan tài phán độc lập để giải quyết các tranh chấp hành
chính bằng con đường tư pháp. Đáp ứng nhu cầu đó, các chuyên gia pháp lý đã tiến
hành nghiên cứu và khảo sát các mô hình tài phán hành chính cũng như kinh nghiệm
thực tế giải quyết khiếu kiện hành chính trên thế giới để đưa ra mô hình phù hợp với
điều kiện thực tế của Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành
trung ương Đảng khóa VII ngày 23/01/1995 đã quyết định về việc thành lập Tòa hành
chính trong hệ thống Tòa án nhân dân. Ngày 28/10/1995 Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, trong đó giao cho TAND chức năng xét
xử các VAHC.
Như vậy, cơ sở pháp lý mà cơ quan Tòa án được quyền tiến hành các hoạt động

1.2.3 Về các hoạt động cụ thể được tiến hành trong hoạt động tố tụng
Xét về mặt thuật ngữ, khi nói đến trình tự, thủ tục xét xử VAHC là nói đến một
quá trình được quy định trong LTTHC để thực hiện nhiệm vụ của Tòa án nhân dân,
hiểu theo nghĩa rộng, trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính là bao gồm các giai
đoạn của Tố tụng hành chính là: Thụ lý vụ án; Chuẩn bị xét xử và Xét xử vụ án hành
chính. Tuy nhiên, giai đoạn thụ lý vụ án, theo quan điểm của nhiều học giả, thì không
được xem như một giai đoạn của TTHC, bởi việc thụ lý VAHC chỉ là hành vi tố tụng
đầu tiên mà Tòa án phải tiến hành, là tiền đề có hay không có các giai đoạn tiếp theo
của VAHC mà thôi, nên hiểu theo nghĩa hẹp thì trình tự, thủ tục xét xử VAHC chỉ bao
gồm hai giai đoạn là Chuẩn bị xét xử và Xét xử VAHC.

11


Tuy nhiên, để đáp ứng những yêu cầu mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đề ra
là: “…đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến Tòa án, Tòa án có trách
nhiệm nhận và thụ lý đơn” [3], thì Ban cán sự Đảng, lãnh đạo TANDTC, đã đưa ra
nhiều giải pháp, trong đó, việc thành lập tại mỗi TAND một tổ hành chính tư pháp
nhằm tập trung vào việc đổi mới các quy trình, thủ tục tiếp nhận và xử lý công văn,
đơn khởi kiện, hồ sơ kháng cáo, kháng nghị, hồ sơ do Viện kiểm sát (VKS) chuyển
đến,...đã cho thấy tầm quan trọng của giai đoạn thụ lý vụ án. Thụ lý vụ án là hành vi tố
tụng của TA có thẩm quyền, sau khi xem xét Đơn khởi kiện, kiểm tra toàn bộ yêu cầu,
các tài liệu kèm theo, và chỉ thụ lý khi đảm bảo đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy
định. Như vậy, Thụ lý vụ án là một giai đoạn có tính tiền đề, làm cơ sở cho các giai
đoạn tố tụng sau, và bắt buộc tại giai đoạn thụ lý vụ án, người tiến hành tố tụng phải
tuân thủ một loạt các trình tự, thủ tục được quy định tại LTTHC thì mới phát sinh hành
vi thụ lý vụ án. Do đó, “ trình tự, thủ tục xét xử vụ án hành chính” theo quan điểm của
học viên bao gồm ba giai đoạn là Thụ lý vụ án; Chuẩn bị xét xử và Xét xử vụ án hành

Về các trường hợp trả lại đơn khởi kiện: Trong BLTTDS có quy định việc Tòa án
trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp người khởi kiện rút lại đơn khởi kiện (Điều 192
BLTTDS) nhưng LTTHC không quy định trường hợp này (Điều 123 LTTHC) mà quy
định Tòa án trả lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự nếu có yêu cầu khi
ra Quyết định đình chỉ vụ án (Khoản 2, Điều 143 LTTHC). Để khắc phục hạn chế này,
theo ý kiến của người viết khi người khởi kiện rút đơn khởi kiện thì Tòa án cần phải có
văn bản trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện để đương sự thực hiện quyền khiếu
nại của mình (nếu có).
Về khiếu nại, kiến nghị đối với việc trả lại đơn khởi kiện: Thời hạn khiếu nại,
kiến nghị đối với việc trả lại đơn khởi kiện và thời hạn khiếu nại, kiến nghị đối với
quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện trong TTHC là
7 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện hoặc nhận được quyết định
giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện. (Điều 124 LTTHC).
Trong LTTHC chỉ có 2 cấp giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Quyết định giải quyết
khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp là quyết định cuối

13


cùng. (Điều 124 LTTHC).
Còn đối với thời hạn khiếu nại, kiến nghị đối với việc trả lại đơn khởi kiện và
thời hạn khiếu nại, kiến nghị đối với quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc
trả lại đơn khởi kiện trong BLTTDS là 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại
đơn khởi kiện hoặc nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại
đơn khởi kiện. (Điều 194 BLTTDS). Trong BLTTDS việc giải quyết khiếu nại, kiến
nghị được thực hiện theo 3 cấp. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh
án Tòa án trên một cấp trực tiếp chỉ là quyết định có hiệu lực thi hành, đương sự hoặc
VKS vẫn có quyền khiếu nại, kiến nghị đến Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao. Quyết
định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án Tòa án nhân dân cấp cao mới
là quyết định cuối cùng. (Điều 194 BLTTDS).

Chánh án Tòa án cấp tỉnh, Tòa án nhân dân tối cao có quyền kiến nghị sửa đổi,
bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước từ cấp tỉnh trở
xuống; đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương. Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao tự mình hoặc theo đề nghị của Chánh án Tòa án cấp dưới kiến nghị
sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở
trung ương. (Điều 112 LTTHC 2015). Trong BLTTDS thì chỉ có Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao mới có quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy
phạm pháp luật còn chánh án các Tòa án khác chỉ có quyền đề nghị Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao kiến nghị (Điều 221 BLTTDS 2015).
+ Về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, vụ án hành chính và thời hiệu yêu cầu
hủy quyết định hành chính:Theo quy định của LTTHC, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết
VAHC nếu thời hiệu khởi kiện đã hết (Điểm g, Khoản 1, Điều 143 LTTHC
2015) nhưng theo quy định của BLTTDS thì Tòa án chỉ đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự do hết thời hiệu khởi kiện khi đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa
án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã
hết (Điểm e, Khoản 1, Điều 217 BLTTDS 2015 (Áp dụng từ ngày 01/01/2017).
Theo quy định của LTTHC đương sự chỉ có quyền yêu cầu hủy QĐHC nếu thời
hiệu khởi kiện vẫn còn. Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án nếu thời hiệu khởi kiện đã
hết nhưng theo quy định của BLTTDS thì đương sự vẫn có quyền yêu cầu hủy QĐHC
theo BLTTDS cho dù thời hiệu yêu cầu hủy QĐHC theo LTTHC đã hết.

15


+ Về căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án và việc tham gia phiên tòa của đại
diện Viện kiểm sát: Trong LTTHC có quy định việc Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ
án trong trường hợp đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà một trong các đương sự không
thể có mặt vì lý do chính đáng, trừ trường hợp có thể xét xử vắng mặt đương sự (Điểm
c, Khoản 1, Điều 141 LTTHC 2015) nhưng BLTTDS không có quy định về việc Tòa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status