VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN LUÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU NGÂN SÁCH
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HIỆP ĐỨC
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, Năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN LUÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU NGÂN SÁCH
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HIỆP ĐỨC
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số : 8 34 04 10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ VĂN TÍNH
HÀ NỘI, Năm 2019
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KÝ HIỆU
NGHĨA
NSNN
Ngân sách Nhà nước
KT-XH
Kinh tế - xã hội
KTTT
Kinh tế thị trường
SXKD
Sản xuất kinh doanh
UBND
Ủy ban nhân dân
HĐND
Hội đồng nhân dân
Công nghệ thông tin
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
Tên bảng
hiệu
Trang
2.1
Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội huyện Hiệp Đức
32
2.2
Một số chỉ tiêu thu NSNN huyện Hiệp Đức 2016 – 2018
35
2.3
2.4
2.5
Tình hình quyết toán thu ngân sách trên địa bàn huyện Hiệp Đức
giai đoạn 2016 - 2018
Tình hình quyết toán một số khoản hưởng tỷ lệ % trên địa bàn
huyện Hiệp Đức giai đoạn 2016 – 2018
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số
hiệu
Trang
30
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thu ngân sách nhà nước (NSNN) là một hệ thống bao gồm các quan hệ giữa
nhà nước và xã hội về kinh tế tài chính làm phát sinh trong quá trình quản lý nhà
nước để huy động tài chính nhằm tạo nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp
ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Một thực trạng đối với Ngân sách Việt Nam là luôn ở trong tình trạng bội chi
với mức thâm hụt lớn. Cân bằng cán cân Thu - Chi ngân sách là một trong những
mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước ta. Để cân bằng Thu - Chi, có hai hướng là
tăng thu và giảm chi. Nhiều năm qua, Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp như giảm
thiểu chi hành chính, sự nghiệp, tăng cường chi cho đầu tư phát triển và xây dựng cơ
bản, chi đúng chỗ, chi hiệu quả, tiết kiệm. Đầu tư của Nhà nước vô cùng quan trọng
đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), đặc biệt Việt Nam là
nước đang phát triển, nên thâm hụt ngân sách là không thể tránh khỏi, nhưng ở mức
độ nào là hợp lý cần nhiều nỗ lực. Đảm bảo cho nhu cầu chi rất lớn thì việc tăng thu
NSNN là rất cần thiết.
Huyện Hiệp Đức, là một trong 18 đơn vị hành chính huyện, thành phố của
tỉnh Quảng Nam và là một trong 09 huyện Miền núi của tỉnh, huyện Hiệp Đức có
11 xã và 01 thị trấn với diện tích hơn 496,88 km2, dân số năm 2018 là 39.582 người.
Trong những năm qua, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện luôn đạt và vượt
kế hoạch do Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện giao. Tuy nhiên, huyện Hiệp Đức vẫn là
một trong những địa phương đang hưởng trợ cấp cân đối từ Ngân sách cấp trên.
Công tác quản lý thu ngân sách đang còn thiếu thống nhất và chưa tập trung,; không
ít nguồn tài chính chưa được huy động đóng góp vào NSNN, tình trạng thất thu còn
xảy ra ở nhiều nơi; hàng năm nguồn thu NSNN ở huyện vẫn chưa bảo đảm sự tự
cập đến thực trạng về thu NSNN tại thành phố Bắc Ninh và đưa ra các giải pháp nhằm
tăng thu ngân sách trên địa bàn thành phố.
“Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Nhà nước trên địa bàn thị xã Phú
Thọ, tỉnh Phú Thọ” luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Hoàng Thị Ánh Tuyết
(2014). Công trình này nêu ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý thu và chi
NSNN nhằm phù hợp thực tiễn yêu cầu phát triển trên địa bàn Thị xã Phú Thọ, tỉnh
2
Phú Thọ.
Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác về NSNN, song phần lớn tập trung vào
nghiên cứu về vấn đề quản lý chi NSNN, về kiểm soát việc thanh toán về vốn đầu tư
xây dựng cơ bản.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống
về quản lý Nhà nước về thu NS trên địa bàn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Vì
vậy, việc học viên chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn
huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam” là đề tài mới và không trùng lặp với các đề tài
đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý luận để đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về thu
ngân sách tại huyện Hiệp Đức. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác quản lý Nhà nước về thu ngân sách trên địa bàn huyện Hiệp Đức trong thời
gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hoá các vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn quản lý thu ngân
sách nhà nước.
+ Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về thu ngân sách
của huyện Hiệp Đức giai đoạn 2016 - 2018.
Kho bạc, Phòng Tài nguyên Môi trường, cập nhật Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
huyện, văn bản quản lý Nhà nước và nhiều tài liệu khác có liên quan (Báo cáo KTXH, kế hoạch dự toán thu và báo cáo quyết toán thu chi NSNN...)để đánh giá đúng
hiện trạng quản lý nhà nước về thu NS và đáng giá công tác quản lý thu ngân sách
giai đoạn 2016 - 2018 trên địa bàn huyện.
* Phương pháp phân tích tổng hợp và xử lý thông tin: Nguồn dữ liệu và số
liệu thu thập được sẽ phân tích tổng hợp và hệ thống hóa theo các nhóm tiêu thức
nhằm phù hợp với yêu cầu về nội dung nghiên cứu. Số liệu điều tra và kê tính được
xử lý bởi phần mềm thống kê SPSS và Excel.
* Phương pháp phân tích và đánh giá thông tin:
- Dùng phương pháp thống kê mô tả và so sánh, đối chiếu để xác định chiều
hướng biến động tăng hay giảm của nguồn thu của NSNN thông qua chuỗi dữ liệu
4
về thời gian để phân tích đánh giá về công tác quản lý thu NSNN. Sử dụng các phân
tích kinh tế về các dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp đã được tổng hợp nhằm đánh
giá rõ hơn thực trạng việc quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện nhà.
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả: Trên cơ sở số liệu đã được thu thập,
sẽ tiến hành thống kê bảng biểu. Tính toán bình quân số liệu, cả số liệu tuyệt đối và
số liệu tương đối, các chỉ số khác. Sử dụng các kết quả tính toán này để so sánh,
phân tích thực trạng công tác quản lý về thu NSNN trên địa bàn huyện Hiệp Đức.
Từ đây có thể đánh giá căn bản về các nhân tố đã tác động ảnh hưởng tới công tác
quản lý về thu NSNN trên địa bàn huyện Hiệp Đức.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về NSNN, thu NSNN, quản lý thu NSNN.
- Hệ thống hóa nội dung chủ yếu của NSNN, thu NSNN, quản lý thu
NSNN.
- Chỉ ra mục đích, yêu cầu và nguyên tắc cũng như phương thức và công cụ
quản lý thu NSNN.
+ Đánh giá nhiệm vụ kế hoạch (dự toán) và chấp hành kế hoạch (dự toán)
qua các năm. Tỷ lệ thu so với dự toán.
+ Chỉ tiêu cơ cấu và sự biến động các nguôn thu NSNN trên địa bàn qua các
năm.
+ Chỉ tiêu biến động về tăng thu qua các năm.
9. Kết cấu luận văn
Bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn có kết cấu 3 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động
thu ngân sách.
Chương 2: Đặc điểm địa bàn và thực trạng quản lý thu ngân sách Nhà nước
trên địa bàn Huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Hoàn thiện quản lý thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện
Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THU NGÂN SÁCH
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý thu ngân sách Nhà nước
1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước và thu ngân sách Nhà nước
1.1.1.1. Ngân sách Nhà nước
Theo Luật NSNN số 83/2015/QH13 của Quốc hội nước ta thông qua ngày 25
tháng 6 năm 2015 đã quy định: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu và
chi được Nhà nước dự toán trong khoảng thời gian xác định và được cơ quan quản
lý Nhà nước có thẩm quyền quyết định và tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo thực thi
chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Thu NSNN được lấy từ mọi lĩnh vực KT-XH khác nhau. Chúng bao hàm
Nguồn thu NSNN tùy thuộc rất lớn vào tốc độ, chất lượng và tính bền vững
trong phát triển của một quốc gia. Song về cơ bản, trong cơ cấu nguồn thu NSNN
thì nguồn thu quốc nội thường phải chiếm tỷ lệ chi phối và lớn nhất. Không thể đạt
tới sự phát triển quốc gia một cách bền vững nếu nguồn thu NSNN của quốc gia lại
phụ thuộc chủ yếu từ nguồn thu ở bên ngoài quốc gia và những khoản thu như:
nguồn thuế nhập khẩu, nguồn thu NSNN từ việc bán các tài nguyên thiên nhiên cho
các quốc gia khác… có tỷ lệ lớn trong cơ cấu nguồn thu NSNN.
1.1.1.3. Quản lý thu ngân sách nhà nước
Ở phần lớn các quốc gia trên thế giới, nguồn thu thuế là nguồn thu chính
trong cơ cấu thu NSNN, nguồn thu từ thuế luôn có tỷ trọng lớn nhất, vì nguồn thu
thuế được hình thành từ trích xuất các giá trị mà nền kinh tế quốc nội tạo ra, chúng
thể hiện rõ nhất về quyền lực của Nhà nước. Nguồn thu NSNN gồm có khoản thu
thuế, khoản thu từ những hoạt động kinh tế của Nhà nước, phí và lệ phí, những
khoản viện trợ, khoản thu đóng góp của các cá nhân và tổ chức, những khoản thu
khác theo luật định.
Do đó, quản lý thu NSNN được hiểu là quá trình mà Nhà nước sử dụng
những công cụ quản lý bằng chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý nguồn thu
NSNN từ nghĩa vụ nộp thuế và những khoản thu ngoài thuế để bảo đảm sự công
bằng và khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh. Đó là khoản tiền thu được mà
8
Nhà nước huy động vào ngân sách, mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn
trả cho đối tượng nộp NSNN. Về cơ bản, hầu hết những khoản thu NSNN thường
mang tính cưỡng chế, bắt buộc đối với mọi thành phần kinh tế và tất cả người dân
có nghĩa vụ phải tuân thủ.
Với quy định của Luật NSNN số 83/2015/QH13, NSNN gồm có hai cấp
ngân sách (trung ương và địa phương). Ngân sách ở cấp địa phương gồm có ngân
sách của chính quyền các cấp (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã). Điều này có thể được
+ Việc thực hiện bổ sung từ nguồn ngân sách của cấp trên dành cho ngân
sách ở cấp dưới nhằm đảm bảo tính công bằng và cân đối trong phát triển giữa các
vùng miền, giữa các địa phương. Việc hình thành nguồn bổ sung ngân sách này
cũng từ khoản thu của ngân sách ở cấp dưới.
+ Trong trường hợp khi cơ quan quản lý Nhà nước ở cấp trên ủy quyền chức
năng của mình cho cơ quan quản lý Nhà nước ở cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thì
phải điều chuyển tài chính ngân sách ở cấp trên về cho cấp dưới để thực thi nhiệm
vụ ủy quyền đó.
+ Ngoài hoạt động bổ sung nguồn thu cũng như hoạt động ủy quyền thực thi
nhiệm vụ chi trên, thì không được và không thể sử dụng ngân sách cấp này chi cho
nhiệm vụ của cấp khác.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý thu ngân sách Nhà nước.
Để thực thi đầy đủ chức năng của Nhà nước, Nhà nước cần tạo lập khoản thu
nhất định để chi phí trang trải nhằm bảo đảm sự tồn tại hoạt động và phát triển bộ
máy Nhà nước, bảo đảm quản lý xã hội và đảm nhiệm những khoản chi tiêu nhằm
phục vụ các mục đích công ích khác. Vì vậy, Nhà nước mới định ra những khoản
thu nhằm lập nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, tạo tiền đề vật chất tối thiểu
để phục vụ tốt việc thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Thực
chất, nguồn thu NSNN chính là Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để tập trung
một bộ phận tài chính quốc gia để tạo lập quỹ tiền tệ của Nhà nước. Đồng thời thu
NSNN cũng là một kênh phân phối thu nhập quốc dân trong hệ thống tài chính
quốc gia. Ở khía cạnh pháp lý, nguồn thu NSNN gồm có các khoản tiền được Nhà
nước mà trực tiếp là Chính phủ huy động sự đóng góp vào ngân sách nhằm đáp
ứng nhu cầu của Nhà nước trong chi tiêu để quản lý phát triển. Về bản chất, thu
NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước dùng
quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính nhằm hình thành
10
11
định. Trong đó, vai trò của nguồn thu NSNN được xem xét ở hai mặt: Nó chẳng
những là công cụ tập hợp nguồn tài chính nhằm bảo đảm nhu cầu Nhà nước trong
chi tiêu hoạt động của mình, mà còn quan trọng là để tổ chức quản lý đối với nền
kinh tế.
- Thu NSNN là công cụ chủ yếu để tập trung các nguồn tài chính nhằm bảo
đảm nhu cầu của Nhà nước trong chi tiêu cho phát triển.
Thu NSNN đóng vai trò đảm bảo nguồn vốn huy động để thực thi nhu cầu
chi tiêu của Nhà nước và những chương trình kế hoạch trong phát triển KT-XH. Vai
trò này xuất phát từ sự cần thiết khách quan của việc ra đời Nhà nước và chức năng
quản lý KT-XH của Nhà nước và được xem là một nhiệm vụ hàng đầu của hoạt
động tài chính vĩ mô.
Những nguồn tài chính được huy động này bằng nhiều hình thức đa dạng: có
thể huy động cả trong nước lẫn ở nước ngoài; huy động từ những lĩnh vực hoạt
động và các thành phần kinh tế. Những khoản thu NSNN bắt nguồn chủ yếu từ các
khu vực sản xuất kinh doanh dịch vụ thông qua thu thuế. Nên, về dài hạn, việc tăng
nguồn thu NSNN thì phải tăng cường đẩy mạnh gia tăng sản phẩm quốc dân cũng
như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Bên cạnh đó, Nhà nước còn phải tiến
hành những khoản vay bù đắp một khi có sự thiếu hụt nếu những khoản thu không
trang trải đủ những khoản chi tiêu.
- Thu NSNN góp phần tổ chức quản lý nền kinh tế
Thu ngân sách ngoài vai trò huy động nguồn lực tài chính cho nhu cầu chi
tiêu của Nhà nước còn góp phần trong tổ chức quản lý nền kinh tế. Thông qua thu
ngân sách, Nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền KT-XH nhằm
hạn chế những khuyết điểm, phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nền
kinh tế hoạt động ngày càng hiệu quả hơn
1.2. Yêu cầu, nội dung và quy trình của quản lý thu ngân sách Nhà nước
1.2.1. Yêu cầu đối với quản lý thu ngân sách Nhà nước
yêu cầu cơ quan thu thuế vừa phải lập quy trình về quản lý thuế theo luật định, vừa
phải hợp lý và phù hợp với đặc điểm, tình hình điều kiện sản xuất - kinh doanh, phù
hợp với nguồn thu nhập phát sinh của đối tượng nộp thuế. Việc thực thi nguyên tắc
trên cần phải tạo lập được môi trường thuận lợi và tiết kiệm nhất về chi phí vật chất
- tiền của và thời gian cho cơ quan thu thuế và đối tượng nộp thuế. Qua đó phát huy
13
và gia tăng hiệu lực và hiệu quả trong quản lý thu thuế.
1.2.2. Nội dung quản lý thu ngân sách nhà nước
1.2.2.1. Lập dự toán thu ngân sách
Việc lập dự toán thu NSNN được triển khai bắt đầu từ cơ sở và chúng được
tổng hợp từ dưới lên. Mốc thời điểm quy định việc lập dự toán NSNN hàng năm từ
ngày 10/6. Các đơn vị, cơ quan có trách nhiệm trong thu - chi NSNN phải lập dự
toán thu - chi NSNN ở phạm vi nhiệm vụ được phân giao; và báo cáo gửi đến cơ
quan tài chính ở cùng cấp. Cơ quan tài chính ở địa phương xem xét, thẩm định dự
toán của các đơn vị, cơ quan cùng cấp và xem xét, thẩm định dự toán ngân sách của
chính quyền cấp dưới. Từ cơ sở này cơ quan tài chính ở địa phương tổng hợp lại,
lập dự toán, lên phương án phân bổ ngân sách ở địa phương để đệ trình UBND cùng
cấp. Cơ quan hành chính Nhà nước (UBND) cùng cấp có trách nhiệm lập dự toán
và đề xuất phương án về phân bổ ngân sách ở địa phương để đệ trình HĐND cùng
cấp quyết định và đồng thời báo cáo lên cơ quan hành chính Nhà nước cấp trên trực
tiếp, cơ quan tài chính cấp trên. Sở Tài chính tỉnh xem xét, thẩm định dự toán ngân
sách các cơ quan tỉnh và xem xét, thẩm định dự toán ngân sách địa phương, rồi tổng
hợp lại và lập dự toán đệ trình UBND cấp tỉnh; Việc lập dự toán thu NSNN được
tiến hành trình tự qua 3 bước:
- Bước 1: Hướng dẫn việc lập dự toán NSNN và thông báo số kiểm tra.
- Bước 2: Lập và thảo luận trao đổi về dự toán NSNN.
- Bước 3: Quyết định phân bổ và tiến hành giao dự toán NSNN.
đơn vị thực hiện thu ngân sách gửi báo cáo thu - chi cho đơn vị quản lý. Nhận báo
cáo quyết toán thu chi ngân sách hàng năm của các xã có xác nhận của cơ quan
KBNN tại bộ phận quản lý ngân sách Phòng Tài chính. Bước 2: Thẩm định và đối
chiếu số liệu quyết toán của các đơn vị ngân sách. Bước 3: Tổng hợp báo cáo quyết
toán bằng phần mềm Quản lý ngân sách của các xã và các đơn vị khối huyện, thuyết
minh quyết toán và đối chiếu với KBNN huyện số liệu thu - chi ngân sách. Bước 4:
In quyết toán trình lãnh đạo phòng ký và chuyển KBNN huyện ký xác nhận và gửi
báo cáo về Sở Tài chính và Kiểm toán nhà nước.
1.2.3. Quy trình quản lý thu ngân sách Nhà nước
Theo Thông tư 85/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của Bộ Tài chính về việc
Hướng dẫn quy trình tổ chức phối hợp thu ngân sách nhà nước giữa Kho bạc nhà
nước - Tổng cục thuế - Hải quan - Tài chính, các địa phương trên cả nước phải thực
hiện thu NSNN theo quy trình trên phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ cấu tổ
chức, trình độ công nghệ thông tin… được thực hiện theo quy trình sau:
- Thu qua Kho bạc nhà nước (KBNN): Dưới đây là phương pháp nộp phổ
15
biến đang áp dụng, đang khuyến khích đối với một số đối tượng kinh doanh nhỏ,
không có tài khoản ở ngân hàng tại địa phương sở tại.
+ Thu bằng chuyển khoản qua KBNN: Trên địa bàn địa phương sở tại,
KBNN đã tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế.
Người nộp thuế lập bảng kê nộp thuế chuyển cho KBNN nơi mở tài khoản.
Căn cứ bảng kê nộp thuế, KBNN thực hiện trích tài khoản tiền gửi của người nộp
thuế để thu NSNN; đồng thời, in 2 liên giấy nộp tiền vào NSNN và xử lý các liên
giấy nộp tiền: Liên 1: Làm chứng từ ghi Nợ tài khoản tiền gửi, Liên 2: gửi cho
người nộp thuế;
Theo định kỳ hoặc cuối ngày, KBNN sẽ nhập các dữ liệu về số thuế đã thu
được vào hệ thống cơ sở dữ liệu thu, nộp thuế; đồng thời, in ra hai liên Bảng kê
chứng từ nộp NSNN: Một liên bảng kê chuyển đến cơ quan, đơn vị thu trực tiếp
thuế
bạc
Báo cáo
nhà
nhà
nước
Đối chiếu số thu
Nguồn: Kho bạc nhà nước
+ Thu bằng tiền mặt qua KBNN:
Thu bằng giấy nộp tiền vào NSNN: Người nộp thuế lập bảng kê nộp thuế gửi
KBNN; căn cứ bảng kê của người nộp thuế, KBNN nhập thông tin vào chương trình
máy tính, in 2 liên giấy nộp tiền vào NSNN và làm thủ tục thu tiền, hạch toán thu
NSNN và xử lý các liên giấy nộp tiền:
Liên 1: làm chứng từ hạch toán thu NSNN; Liên 2: gửi người nộp thuế;
16