Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường mầm non ngoài công lập ở thành phố hà nội theo hướng chuẩn hóa - Pdf 60

B QUC PHềNG
HC VIN CHNH TR

T HOA DUNG

Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
các trờng mầm non ngoài công lập
ở thành phố Hà Nội theo hớng chuẩn hóa

Chuyờn ngnh: Qun lý giỏo dc
Mó s
: 914 01 14

LUN N TIN S QUN Lí GIO DC

NGI HNG DN KHOA HC:
GS. TS NGUYN NGC PH

H NI - 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu của riêng tác giả. Các số liệu, trích dẫn
trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất
xứ rõ ràng. Luận án không trùng lặp với các
công trình khoa học đã công bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Tạ Hoa Dung


3.1. Khái quát tình hình giáo dục mầm non ở thành phố Hà Nội
3.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng
3.3. Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên mầm non ngoài
công lập
3.4. Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm
non ngoài công lập ở thành phố Hà Nội theo hướng
chuẩn hóa
Chương 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG

5
12
12
19

29

32
32
41

65

70
70
73
77

83
109

152
155
156
167


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.

Chữ viết đầy đủ
Ban giám hiệu
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Đội ngũ giáo viên
Hội đồng nhân dân

Bảng 3.1.
Bảng 3.2.
Bảng 3.3.
Bảng 3.4.
Bảng 3.5.
Bảng 3.6.
Bảng 3.7.
Bảng 3.8.
Bảng 3.9.

Bảng 3.10.
Bảng 3.11.
Bảng 3.12.
Bảng 3.13

Bảng 3.14

Bảng 3.15

Bảng 4.1.
Bảng 5.1.
Bảng 5.2
Bảng 5.3

Số trường mầm non Hà Nội 2011 – 2018
Số lớp mầm non ở Hà Nội từ 2011 - 2018
Số phòng học mầm non ở Hà Nội từ 2011 - 2018
Số trẻ đang học tại các trường mầm non ở Hà Nội
Thông tin về khách thể khảo sát
Số lượng giáo viên mầm non ở Hà Nội từ 2011 – 2018


70
71
72
73
74
77
78
80

81
83
86
88

92

94

97
116
137
138
139


Bảng 5.4
Bảng 5.5
Biều đồ 3.1.


145
146

82

98

140
148


5
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Phát triển, QLPT đội ngũ giáo viên theo quan điểm chuẩn hóa là xu thế
giáo dục của các quốc gia trên thế giới trong thời đại cách mạng khoa học công
nghệ, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa. Ở nước ta trong quá trình lãnh đạo cách
mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu và là sự
nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, BCH TW Ðảng
khóa XI về "Ðổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và
hội nhập quốc tế" đã khẳng định vai trò "quyết định chất lượng giáo dục" của đội
ngũ nhà giáo. Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng nêu rõ: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt
chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề
nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước”. Ðiều này thể hiện niềm tin và sự mong đợi của Ðảng và Nhà nước
đối với nhà giáo các cấp trong đó có đội ngũ giáo viên mầm non.
Bước vào thời kỳ đổi mới phát triển kinh tế đất nước, hệ thống GDMN

giai đoạn sau như bồi dưỡng, phát triển đội ngũ theo chuẩn nghề nghiệp ít được
chủ thể quản lý ở các trường quan tâm, nhất là các trường MNNCL.
Vấn đề quản lý phát triển ĐNGV các trường MNNCL theo hướng
chuẩn hóa còn thiếu những nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể và chuyên
sâu để giải đáp bất cập trong thực tiễn quy hoạch, kế hoạch phát triển, đào
tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, sử dụng và kiểm tra, giám sát, đánh giá sự phát
triển đội ngũ này theo hướng chuẩn hóa...Do đó, để nâng cao chất lượng giáo
dục MNNCL đáp ứng đòi hỏi phát triển xã hội, đặt ra cần nghiên cứu phát
triển đội ngũ giáo viên ở các trường MNNCL theo hướng chuẩn hóa, là yêu
cầu cấp thiết hiện nay; và đây cũng là vấn đề ấp ủ từ lâu của nghiên cứu sinh.
Xuất phát từ các lý do cơ bản trên, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề:
“Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường mầm non ngoài công lập ở
thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên
ngành Quản lý giáo dục.


7
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Khái quát vấn đề lý luận về QLPT đội ngũ giáo viên mầm non theo
hướng chuẩn hóa, làm rõ thực trạng QLPT đội ngũ GVMN các trường ngoài
công lập ở thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất biện pháp QLPT đội ngũ giáo viên
MNNCL ở thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa, đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận giải những vấn đề lý luận về QLPT đội ngũ GVMN theo hướng
chuẩn hóa.
Khảo sát, phân tích và đánh giá làm rõ thực trạng phát triển đội ngũ giáo
viên và QLPT đội ngũ GVMN các trường ngoài công lập ở thành phố Hà Nội
theo hướng chuẩn hóa.

thì ĐNGV các trường MNNCL sẽ phát triển đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục MNNCL trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Nghiên cứu QLPT đội ngũ giáo viên MNNCL theo hướng chuẩn hóa ở
thành phố Hà Nội cần dựa trên các quan điểm, nguyên tắc phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, đào tạo, về
quản lý giáo dục, phát triển nguồn nhân lực giáo dục; đồng thời vận dụng các
quan điểm tiếp cận sau:
Tiếp cận hệ thống: Xem xét mối quan hệ giữa các chủ thể quản lý; các
chức năng quản lý; các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên với cơ sở sử dụng
của các trường MNNCL; các biện pháp QLPT đội ngũ giáo viên MNNCL
trong mối tương quan tác động.
Tiếp cận lịch sử - lôgic: Nghiên cứu đề tài luận án cần kế thừa những tri
thức, kinh nghiệm giá trị, thành tựu trong quá khứ. Để công tác QLPT đội ngũ
giáo viên MNNCL theo hướng chuẩn hóa thực sự có hiệu quả, cần xác định rõ
mặt mạnh, mặt yếu để phát huy và khắc phục. Xác định biện pháp QLPT đội
ngũ theo một trật tự lôgic, có mối liên hệ chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn.
Hiệu quả QLPT đội ngũ giáo viên MNNCL theo hướng chuẩn hóa, đáp ứng
yêu cầu chất lượng theo đòi hỏi xã hội và nền giáo dục tiên tiến.


9
Tiếp cận thực tiễn: Đề tài luận án được nghiên cứu dựa trên tiếp cận
thực tiễn về lý luận và thực trạng vấn đề nghiên cứu, nhằm tăng độ tin cậy của
các nhận định, đánh giá và đề xuất biện pháp có tính khả thi trong luận án.
Tiếp cận phát triển nguồn nhân lực: Các khâu kế hoạch hóa, tuyển
dụng, sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ chính sách...đối với đội
ngũ giáo viên MNNCL.
Tiếp cận chuẩn hóa: Những quy đinh về chuẩn hóa do Nhà nước ban hành

Phương pháp khảo nghiệm và thử nghiệm: sử dụng phương pháp này
để kiểm chứng tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất; đồng thời
thử nghiệm một biện pháp để kiểm chứng tính hiệu quả của nó trên thực tế.
Các phương pháp hỗ trợ
Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến chuyên gia về các biện pháp QLPT
đội ngũ giáo viên MNNCL theo hướng chuẩn hóa, bao gồm: Các nhà khoa
học, giáo viên có nhiều kinh nghiệm, cán bộ quản lý.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: sử dụng phương pháp này
để thu thập thông tin của những trường MNNCL điển hình của thành phố Hà
Nội về phát triển ĐNGV các trường MNNCL theo hướng chuẩn hóa, từ đó có cơ
sở đưa ra những nhận định khi phân tích thực tiễn và các biện pháp đề xuất…
Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm SPSS phiên bản
22.0 để phân tích chiều sâu các kết quả định lượng và định tính thu được...
6. Đóng góp mới của luận án
Kết quả nghiên cứu đề tài luận án, góp phần hệ thống hóa cơ sở lý
luận của QLPT đội ngũ giáo viên các trường MNNCL theo hướng chuẩn hóa
như: các khái niệm cơ bản, vấn đề chuẩn hóa ĐNGV mầm non, nội dung và yếu
tố tác động đến QLPT đội ngũ giáo viên các trường MNNCL; khái quát chuẩn
đánh giá GVMN gồm 3 chuẩn, 15 tiêu chí; tiến hành khảo sát, phân tích, đánh
giá làm rõ thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên, QLPT đội ngũ này ở trường
MNNCL về quy mô, cơ cấu, đào tạo, bồi dưỡng...làm rõ ưu điểm, hạn chế,
nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong QLPT đội ngũ giáo viên MNNCL
ở thành phố Hà Nội. Từ cơ sở khoa học đó, luận án đề xuất các biện pháp
QLPT đội ngũ giáo viên các trường MNNCL theo hướng chuẩn hóa, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục mầm non trên địa bàn Thủ Đô hiện nay.


11
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu đề tài luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận

thời, các ông cũng đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi bản thân những người thầy
phải biết tự rèn luyện để trở thành hình ảnh mẫu mực về phẩm chất, đạo đức;
nâng cao tri thức, phương pháp giáo dục hiệu quả…Những tư tưởng này được
coi là bước đầu có đề cập đến phát triển ĐNGV theo hướng có chung mục
đích là phát triển đội ngũ này về số lượng và chất lượng để đáp ứng thiết thực
với yêu cầu của thực tiễn.
Ngày nay, không chỉ các nhà nghiên cứu mà các nhà quản lý trên thế
giới đều thừa nhận nguồn nhân lực được xem là yếu tố quan trọng và có tính
quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong nền kinh tế tri thức,
giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng; giáo dục không thể đạt chất lượng
cao nếu không có ĐNGV chất lượng; nó là nhân tố quan trọng góp phần tạo
nên diện mạo và chất lượng giáo dục của mỗi quốc gia. Khi đề cập đến phát
triển ĐNGV, một số nghiên cứu gần đây đề cao việc thúc đẩy phát triển bền


13
vững và sự thích ứng nhanh của giáo viên; và vấn đề đặt ra là họ phải thích
ứng cao trước yêu cầu đổi mới. Daniel R.Beerens chủ trương tạo ra một nền
văn hóa của sự thúc đẩy, có động lực và luôn học tập (Creating a Culture of
Motivation and Learning) trong đội ngũ, coi đó là giá trị mới, yếu tố chính tạo
nên nhà giáo. Theo ông, nhà giáo trước hết phải là nhà chuyên môn, đồng thời
nhà giáo phải là nhà lãnh đạo (lãnh đạo hoạt động học tập của học sinh), giáo
viên phải biết tự làm mới mình để có thể đảm đương được nhiệm vụ.
Đi sâu vào nghiên cứu chỉ ra các chức năng cơ bản của ĐNGV trong thế
kỷ XXI, trong 2 công trình “Staff Development for Higher Education
Instituitions” của tác giả Victor Minichiello viết năm 2008 [113] (Phát triển đội
ngũ nhân viên cho các tổ chức giáo dục đại học); “How to Become a Lecturer”
của tác giả Catherine Armstrong viết năm 2010 [108] (Làm thế nào để trở thành
người giảng viên) đều xem ĐNGV là lực lượng quyết định đến chất lượng đào
tạo của nhà trường. Một nhà trường danh tiếng là trường có một ĐNGV xuất

sinh viên nào không có đủ trình độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng chăm sóc
trẻ thì nhà trường không cấp bằng tốt nghiệp cho người đó.
Những nghiên cứu về chuẩn hóa đội ngũ giáo viên mầm non
Trong tiếng Anh có hai thuật ngữ nói về chuẩn (Từ điển Oxfrord).
“Norm” được hiểu là “tiêu chuẩn quy tắc, quy phạm điển hình” trong đánh giá
giáo dục. Chuẩn theo nghĩa này được xem là giá trị trung bình của nhóm đại
diện trong đánh giá trên diện rộng. Thuật ngữ “Standard” được hiểu là mức độ
phẩm chất đòi hỏi, mong đợi đạt được.
Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong xây dựng chuẩn. Ủy ban quốc
gia chuẩn nghề dạy học được thành lập năm 1987, đã đề xuất 5 điểm cốt lõi
để các bang vận dụng: (1) Giáo viên phải tận tâm với học sinh và việc học; (2)
Giáo viên phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình và liên hệ
với các môn học khác; (3) Giáo viên phải trách nhiệm trong giảng dạy, quản
lý kiểm tra, đánh giá việc học của học sinh; (4) Giáo viên phải thường xuyên
suy nghĩ sáng tạo, phát triển kinh nghiệm nghề nghiệp; (5) Giáo viên phải là
thành viên đáng tin cậy của cộng đồng học tập, biết cộng tác đồng nghiệp,


15
hợp tác với cha mẹ học sinh. Dựa vào 5 đề xuất cốt lõi đó, mỗi bang ở Mỹ
xây dựng chuẩn nghề nghiệp dạy học, có 4 lĩnh vực: (1) Kiến thức nghề
nghiệp; (2) Thực hành nghề nghiệp; (3) Giá trị nghề nghiệp; (4) Quan hệ nghề
nghiệp. Trên cơ sở khung quốc gia, các bang xây dựng chuẩn nghề nghiệp.
Tuy nhiên, các bang không nhất thiết xây dựng cả 4 lĩnh vực, chỉ 2 lĩnh vực
đầu là giống nhau, các lĩnh vực sau không giống nhau. Ví dụ bang Wetern
Australia có 3 lĩnh vực, lĩnh vực 3 lấy tên là “ Sự cam kết”; còn ở New South
Wales cũng chỉ có 3 lĩnh vực, trong đó lĩnh vực 3 có tên “ Sự tận tụy”.
Cộng hòa Liên bang Đức, theo nghị quyết của Hội nghị Bộ trưởng Văn
hóa giáo dục các bang trong Liên bang (2004) thì Chuẩn đào tạo giáo viên là
những yêu cầu mà mọi giáo viên phải đáp ứng. Những nét chính về hình ảnh

trong xã hội, những người thầy đức độ và tài năng nổi danh trong lịch sử giáo
dục nước nhà như: Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Ngô Thì Nhậm, Lê Quí Đôn,
Nguyễn Du, Đào Duy Từ…Thấm nhuần tư tưởng truyền thống tôn sư trọng
đạo của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục và vai trò của người
thầy giáo gắn liền với sứ mệnh trồng người cao cả: “Nhiệm vụ giáo dục rất
quan trọng và vẻ vang, nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục, không
có giáo dục không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hoá”.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cánh mạng, Đảng và nhà nước ta đã có
nhiều chủ trương, chính sách để phát triển GDĐT, trong đó vấn đề phát triển đội
ngũ giáo viên nói chung, giáo viên mầm non nói riêng; và được xác định trong
các văn kiện Đại hội Đảng, Hội nghị Trung ương, Chiến lược phát triển giáo
dục, Luật giáo dục…Những định hướng của Đảng, Nhà nước và của Ngành
GD&ĐT về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non đã tạo điều kiện cho các công
trình nghiên cứu về lĩnh vực này của các nhà khoa học.
Những năm gần đây, các công trình nghiên cứu phát triển ĐNGV
được triển khai tập trung vào các chủ đề nghiên cứu như: Nhóm công trình
nghiên cứu để thiết lập cơ sở cho việc xây dựng chương trình và chiến lược
đào tạo giáo viên của các tác giả Trần Bá Hoành [60]; Nhóm công trình
nghiên cứu khẳng định những tố chất về nhân cách của người giáo viên của
các tác giả Phạm Minh Hạc [54].


17
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã nhấn mạnh đến vấn đề "lý tưởng sư
phạm" trong "Nghề và Nghiệp của người giáo viên", tạo nên động cơ cho
việc thực hành nghề dạy học của giáo viên. Nếu không có lý tưởng sư phạm
thì không có sự thôi thúc người giáo viên sáng tạo, không thúc đẩy người
giáo viên không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ [71]. Từ đó, các tác giả
đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng tập thể sư phạm theo mô hình "đồng thuận"
mà ở đó giáo viên trong quan hệ với nhau có sự chia sẻ "bí quyết nhà nghề";

quyết số 1 đối với GVMN. Tác giả Đào Thanh Âm có bài viết: “Tính chuyên
nghiệp trong phong cách làm việc của người GVMN”[4], đã đề xuất mô hình
nhân cách GVMN trong thời kì hội nhập quốc tế: tiềm năng, khả năng, kĩ năng
hoạt động nghề nghiệp; nếp sống thói quen và các phẩm chất nhân cách; và
khẳng định đặc điểm lao động của GVMN luôn thể hiện ba chức năng là chăm
sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ thơ, lấy quan hệ tình cảm yêu thương mẹ - con làm
yếu tố quyết định, do đó lòng yêu trẻ là phẩm chất đầu tiên trong nhân cách một
GVMN đích thực. Bên cạnh đó tác giả cũng nêu lên những đề xuất GVMN thời
đại ngày nay như ngoài việc kế thừa những phẩm chất mang tính truyền thống
GVMN cần phải được đào tạo một cách bài bản; có kỹ năng quản lý lớp học, có
trình độ tiếng Anh và tin học đủ để đáp ứng yêu cầu công việc.
Trong bài "Nhận thức về sự cần thiết của sáng tạo trong nhân cách và thực
trạng sáng tạo trong chăm sóc - giáo dục trẻ em của GVMN" tác giả Nguyễn
Thị Như Mai đã nêu: Thời đại hiện nay đòi hỏi con người năng động, sáng tạo.
Để tạo ra lớp trẻ có khả năng sáng tạo thì bản thân người GVMN phải nhận thức
được tầm quan trọng của năng lực sáng tạo trong nhân cách, phải nỗ lực sáng tạo
trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ em... Sáng tạo là yếu tố quan trọng hàng
đầu của nhân cách người lao động hiện đại; vì vậy đào tạo những GVMN có
năng lực sáng tạo là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay...
Mô hình nhân cách GVMN cũng xuất phát từ chuẩn nghề nghiệp
GVMN nhưng ứng với mỗi giai đoạn lịch sử - xã hội thì có sự điều chỉnh
hoặc nhấn mạnh đến những tiêu chuẩn đánh giá cụ thể nào đó. Xuất phát từ
chính thực tế tuyển chọn và sử dụng lao động, các GVMN vừa mới tốt nghiệp


19
vào nghề, không chỉ chú trọng rèn luyện kĩ năng trong quá trình đào tạo mà
các GVMN mới vào nghề cần có một quá trình “tập sự” đúng nghĩa.
Tác giả Nguyễn Thị Bạch Mai trong công trình nghiên cứu “Phát triển
ĐNGV mầm non đáp ứng yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi các tỉnh

tiếp về phát triển ĐNGV các nhà trường [112]. Với cách tiếp cận theo quan điểm
thực tiễn, coi các hoạt động thực tiễn là cơ sở quan trọng để phát triển ĐNGV, tác
giả cho rằng: để phát triển ĐNGV đại học cần cố gắng cải thiện hoạt động giảng
dạy của ĐNGV thông qua các hành động lập kế hoạch; biên soạn đề cương chi
tiết; tổ chức các mối quan hệ với sinh viên và tài liệu học tập; sử dụng các phương
pháp và hình thức dạy học; đánh giá kết quả học tập của sinh viên...
Đánh giá toàn diện việc phát triển nhà trường dựa trên các nhân tố của quá
trình đào tạo, trong công trình nghiên cứu của 2 tác giả là B. Davies và L. Ellison
về “School Development Planning - Kế hoạch phát triển nhà trường” [111] đã
chỉ rõ việc phát triển ĐNGV là một bộ phận, nội dung quan trọng trong phát
triển nguồn nhân lực của nhà trường. Theo đó, các tác giả đã phân tích 10 yếu tố
đảm bảo cho sự cạnh tranh về chất lượng đào tạo của mỗi nhà trường là chương
trình học, việc dạy và học; nguồn nhân lực; phúc lợi cho học sinh và sinh viên;
cơ sở vật chất; nguồn tài chính; hồ sơ học sinh và marketing; cơ cấu và các cách
thức quản lý; cơ chế quản lý và đánh giá nội bộ; sự quan tâm của cộng đồng, xã
hội; xây dựng thông tin chiến lược qua việc điều tra.
Daniel R.Beerens chủ trương tạo ra một nền văn hóa của sự thúc đẩy,
có động lực và luôn học tập (Creating a Culture of Motivation and Learning)
trong đội ngũ, coi đó là giá trị mới, yếu tố chính tạo nên nhà giáo. Theo ông,
nhà giáo trước hết phải là nhà chuyên môn, đồng thời nhà giáo phải là nhà
lãnh đạo (trong lãnh đạo hoạt động học tập của học sinh), giáo viên phải biết
tự làm mới mình để có thể đảm đương được nhiệm vụ.
Nghiên cứu việc đào tạo giáo viên là yếu tố quan trọng để phát triển
ĐNGV ở các quốc gia, trong công trình nghiên cứu của nhóm công tác “Giáo
dục là một ngành chuyên trách” của diễn đàn giáo dục và kinh tế Carnergie
(Mỹ) các tác giả đã đề xuất 6 kiến nghị khác nhau, trong đó có kiến nghị
“Chính phủ chuẩn bị cho việc đào tạo giáo viên thế kỉ XXI”. Trong kiến nghị


21


22
Vấn đề cải cách giáo dục của các nước trên thế giới, đặc biệt ở các
nước đang phát triển đang diễn ra có khuynh hướng chuẩn hóa hoặc dựa vào
chuẩn để xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên, trong đó có giáo viên mầm
non. Trong quá trình phát triển giáo dục tiến đến hiện đại hóa, chuẩn hóa
giáo dục của nhiều nước trên thế giới đã chú trọng phát triển ĐNGV nói
chung và GVMN nói riêng. Đặc biệt là các nước tiên tiến trên thế giới như:
Hoa Kỳ là một trường hợp đặc biệt trong các nước OECD. Có 14 bang
yêu cầu giáo viên tại các trường mầm non công lập phải có bằng đại học và
đào tạo chuyên khoa về mầm non. Theo Đạo luật 2009 của Hoa Kỳ quy định
rằng để nhận được tài trợ, các trường mầm non của nhà nước phải sử dụng
chương trình liên kết với các chuẩn tiểu học, thực hiện thực hành tốt nhất cho
trẻ; tỷ lệ trẻ/giáo viên thấp - không vượt quá 10/1 và hoạt động đủ năm học.
Đồng thời họ rất chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; GVMN phải có
ít nhất bằng cấp về GDMN và lấy bằng cử nhân GDMN 5 năm sau khi nhận
một khoản trợ cấp.
Trong các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, GDMN của Nhật
Bản không có sự khác biệt giữa các vùng miền mà bình đẳng cho mọi trẻ và
mang tính xã hội hóa rất cao, không có chương trình GDMN chung do nhà
nước quy định mà mỗi trường tự xây dựng cho mình chương trình thích hợp
với sự phát triển trí tuệ và thể chất của trẻ. Căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh
của từng trường, của địa phương; phù hợp với Luật giáo dục và Chuẩn quốc
gia về chương trình GDMN theo 5 mục tiêu (giáo dục sức khỏe, giáo dục với
quan hệ chung quanh, giáo dục ngôn ngữ, giáo dục môi trường và biểu đạt).
Chính vì thế, tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GVMN là
12+2 + Kỳ thi tuyển quốc gia. Muốn trở thành GVMN không những phải có
bằng tốt nghiệp về chuyên ngành mà còn phải dự thi thêm kỳ thi tuyển quốc
gia, là một kỳ thi sát hạch chuyên môn nghiêm túc và không có sự “nương
tay”. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao trình độ chuyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status