LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên. Các kết
quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ
một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào. Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã
được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định.
Tác giả luận văn
Mạc Thị Mai Nhung
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu giải pháp tăng cường công tác quản lý an toàn
lao động trong xây dựng, áp dụng cho dự án Nâng cấp trục chính hệ thống thủy
lợi sông Nhuệ” đã được học viên hoàn thành đúng thời gian quy định và đảm
bảo đầy đủ các yêu cầu trong đề cương được phê duyệt.
Học viên xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Hữu Huế, giảng viên trường
Đại học Thủy lợi Hà Nội, đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ để tác giả hoàn thành
luận văn này. Học viên cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường
Đại học Thủy lợi và các thầy cô giáo đã trực tiếp nhiệt tình giảng dạy học viên
trong suốt quá trình học tập tại trường.
Tuy nhiên, do trình độ nhận thức của bản thân còn hạn chế, thời gian có hạn,
môi trường công tác ở nơi khó khăn nên luận văn này không tránh khỏi những
tồn tại. Vì vậy, học viên mong nhận được những ý kiến đóng góp và hướng dẫn
chân thành của các thầy cô giáo, sự tham gia và trao đổi nhiệt tình của bạn bè và
đồng nghiệp.
Học viên rất mong muốn những vẫn đề còn tồn tại sẽ được phát triển ở mức độ
nghiên cứu sâu hơn góp phần ứng dụng những kiến thức khoa học vào phục vụ
trong lĩnh vực ngành xây dựng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Tác giả xin chân thành cám ơn!
1.5 Tình hình sử dụng các thiết bị bảo hộ lao động ......................................................18
1.5.1 Các thiết bị bảo vệ cá nhân ...................................................................................19
1.5.2 Thiết bị bảo vệ khi sử dụng các dụng cụ cầm tay ................................................19
1.5.3 Sử dụng biển báo và tín hiệu an toàn ...................................................................20
Kết luận chương 1: ........................................................................................................21
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ĐẢM BẢO AN
TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG .............................................................. 22
2.1 Chính sách, pháp luật về an toàn lao động ..............................................................22
2.1.1 Các quy định chung về an toàn lao động ..............................................................22
2.1.2 Tổ chức các bộ phận phục vụ công tác an toàn lao động .....................................24
2.1.3 Quy định về huấn luyện an toàn lao động ............................................................25
2.1.4 Đánh giá hiệu quả quản lý về mặt pháp chế đối với công tác an toàn xây dựng ở
Việt Nam ......................................................................................................................29
iii
2.2 An toàn lao động trong thi công đào đất ................................................................. 37
2.2.1 Những nguyên nhân chủ yếu gây tai nạn khi đào đất .......................................... 37
2.2.2 Các biện pháp an toàn lao động khi đào đất......................................................... 38
2.3 An toàn lao động trong thi công nền - móng .......................................................... 42
2.3.1 Các nguyên nhân tai nạn ...................................................................................... 42
2.3.2 Các biện pháp đảm bảo an toàn trong thi công nền - móng ................................. 43
2.4 An toàn trong vận hành máy thi công ..................................................................... 44
2.4.1 Các nguyên nhân tai nạn ...................................................................................... 44
2.4.2 Các biện pháp phòng tránh ................................................................................... 45
Kết luận chương 2: ........................................................................................................ 49
CHƯƠNG3. QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG CÔNG
TRÌNH CẢI TẠO, NẠO VÉT TRỤC CHÍNH SÔNG NHUỆ ................................ 50
3.1 Giới thiệu về dự án Cải tạo, nạo vét trục chính Sông Nhuệ .................................... 50
3.1.1 Thông tin chung .................................................................................................. 50
Hình 3.4 Các biện pháp chuyển đất tận dụng đắp đê ....................................................56
Hình 3.5 Biện pháp thi công kết cấu đê.........................................................................57
Hình 3.6 Máy đào nạo vét đất lòng sông .......................................................................61
Hình 3.7 Tổ hợp máy đào đứng trên phao, đào đất vào sà lan ......................................62
Hình 3.8 Tổ hợp sử dụng 01 lượt máy đào trên cạn ......................................................66
Hình 3.9 Tổ hợp sử dụng 02 lượt máy đào trên cạn ......................................................67
Hình 3.10. Một số tai nạn trong khi thi thi công đào đất...............................................69
Hình 3.11 Cắt dọc vị trí ô máy đứng công tác bốc dở ở bãi tập kết .............................. 71
Hình 3.12 Biện pháp an toàn khi đào đất bằng máy đào đứng trên bờ .........................71
Hình 3.13 Máy đào đặt trên cạn nạo vét đất lớp trên, gom thành đống ........................73
Hình 3.14 Tổ hợp sử dụng máy đào trên hệ phao nổi ...................................................73
Hình 3.15 Một số tai nạn trong khi thi thi công nạo vét................................................74
Hình 3.16 Các biện pháp chuyển đất tận dụng đắp đê ..................................................76
Hình 3.17 Biện pháp thi công kết cấu đê.......................................................................77
Hình 3.18 Biện pháp an toàn khi thi công bằng máy đào .............................................79
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: So sánh tai nạn lao động năm 2014 và 2015 [2] ........................................... 16
vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATLĐ: An toàn lao động
ATVSLĐ: An toàn vệ sinh lao động
BHLĐ: Bảo hộ lao động
BLĐTBXH: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, số lượng các dự án,
công trình xây dựng được triển khai, thi công bàn giao đưa vào vận hành, sử
dụng ngày càng nhiều. Trong đó nhiều công trình có qui mô lớn, kỹ thuật thi
công phức tạp; lực lượng lao động tham gia, trong đó có cả lao động nước ngoài
tăng nhanh. Các công nghệ, thiết bị thi công tiên tiến được ứng dụng rộng rãi
trên nhiều công trình, đem lại năng suất, hiệu quả lao động cao, tiến độ thi công
được rút ngắn, chất lượng công trình tăng lên đáng kể, tạo điều kiện để ngành
Xây dựng từng bước hội nhập với khu vực và thế giới.
Mặc dù, công tác an toàn lao động đã được chú trọng và tăng cường nhằm hạn
chế thấp nhất xảy ra tai nạn, nhưng tình trạng tai nạn lao động trong lĩnh vực
xây dựng vẫn đang ở mức cao. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội, lĩnh vực xây dựng chiếm 30% trên tổng số vụ tai nạn lao động (trong
đó 55% do ngã, 24% vướng các vấn đề về điện, 10% do sập đổ thiết bị trên công
trình, 10% liên quan đến phương tiện bảo vệ cá nhân). Theo thống kê, nguyên
nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động chết người là do người sử dụng lao động
chiếm 54,1%, trong đó người sử dụng lao động không huấn luyện an toàn lao
động cho người lao động; người sử dụng lao động không xây dựng quy trình,
biện pháp làm việc an toàn; thiết bị không đảm bảo an toàn lao động. Ngoài ra,
nguyên nhân từ người lao động chiếm 24,6% như: người lao động vi phạm quy
trình quy phạm an toàn lao động; người lao động không sử dụng phương tiện
bảo vệ cá nhân, 21,3% còn lại là do các nguyên nhân khách quan khác. Mặt
khác, trang điện tử của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng cho biết, có
hơn 80% công nhân ngành xây dựng là lao động thời vụ và lao động tự do, phần
nhiều trong số họ chưa được đào tạo bài bản nên ý thức về bảo hộ lao động rất
kém, chỉ biết làm lấy ngày công, ít khi quan tâm đến an toàn lao động. Trong khi
các chủ thầu với kỹ thuật, công nghệ hạn chế, công tác giám sát thi công, đảm
1
động trong lĩnh vực xây dựng;
Các quy định về an toàn lao động trong xây dựng.
2
Phương pháp nghiên cứu:
-
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
-
Phương pháp chuyên gia
-
Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là công tác đảm bảo an toàn lao động đối
với công trường thi công công trình Nâng cấp trục chính hệ thống Sông Nhuệ
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu biện pháp tăng cường công tác đảm bảo an toàn
đối với một số công tác có nguy cơ cao xảy ra mất an toàn lao động trong quá
trình thi công công trình Nâng cấp trục chính hệ thống Sông Nhuệ. Cụ thể là
công tác nạo vét, công tác vận chuyển, công tác đóng cừ …
-
Vi phạm các quy định về an toàn lao động;
-
Công tác tập huấn về an toàn lao động chưa đạt yêu cầu;
-
Vi phạm về việc trang bị và sử dụng các thiết bị bảo hộ lao động;
Vì vậy, trong chương này, tác giả sẽ tập trung đánh giá tổng quan về tình hình
chấp hành các quy định và công tác tập huấn về an toàn lao động, và việc trang
bị, sử dụng các thiết bị bảo hộ lao động trong lĩnh vực Xây dựng ở Việt Nam
trong những năm gần đây.
1.1 Khái quát về công tác an toàn lao động trong xây dựng
1.1.1 Quản lý lao động
Quản lý lao động là hoạt động quản lý lao động con người trong một tổ chức
nhất định trong đó chủ thể quản trị tác động lên khách thể bị quản trị nhằm mục
đích tạo ra lợi ích chung của tổ chức. Trong nền kinh tế thị trường các doanh
4
nghiệp được đặt trong sự cạnh tranh quyết liệt. Vì vậy để tồn tại và phát triển
doanh nghiệp phải thường xuyên tìm cách nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
Trong đó các công việc phải quan tâm hàng đầu là quản trị lao động. Những việc
làm khác sẽ trở nên vô nghĩa nếu công tác quản lý lao động không được chú ý
đúng mức không được thường xuyên củng cố. Thậm chí không có hiệu quả,
nạn tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động
xảy ra trong quá trình lao động tại công trường.
1.1.2 Quản lý an toàn lao động trong xây dựng
Quản lý an toàn lao động nhằm mục tiêu phòng ngừa tai nạn là chính. An toàn
lao động hiểu theo nghĩa rộng là an toàn không chỉ cho mọi người lao động .trên
công trình, mà còn phải an toàn cho công trình, công trường sản xuất.
6
Theo luật xây dựng 2004 thì trong quá trình thi công xây dựng công trình nhà
thầu thi công có trách nhiệm:
+ Thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho người, máy móc, thiết bị, tài
sản, công trình đang xây dựng, công trình đang xây dựng, công trình ngầm và
các công trình liền kề, đối với những máy móc thiết bị phục vụ thi công phải
được kiểm định an toàn trước khi đưa vào sử dụng.
+ Thực hiện biện pháp kỹ thuật an toàn riêng đối với từng hạng mục công trình
hoặc công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn.
+ Thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm hạn chế thiệt hại về người và tài sản
khi xảy ra mất an toàn trong thi công xây dựng.
Quản lý an toàn lao động trong xây dựng là các hoạt động quản lý lao động
trong công trường nhằm đảm bảo an toàn trong thi công xây dựng công trình.
1.2 Tình hình Quản lý an toàn lao động trong xây dựng trên thế giới và
Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Lao động và Hội đồng An toàn Quốc gia Hoa Kỳ cho
thấy mặc dù công nhân xây dựng chỉ sử dụng khoảng 6% sức lực cho công việc,
nhưng họ phải chịu đến 12% chấn thương hoặc bệnh tật liên quan đến nghề
nghiệp (có đến khoảng 250000 cho đến 300000 ca chấn thương trong xây dựng)
và 19% phải chịu những rủi ro ảnh hưởng đến tính mạng do công việc (khoảng
3000 ca trong năm- theo số liệu ước tính từ Hội đồng An toàn Quốc gia Mỹ và
khoảng 1000 ca theo số liệu của Hội đồng An toàn và Sức khỏe).
8
Hình 1.2 Diện tích lớn sàn bê tông bị sập tại Lotte Mart
Tại hội thảo Tăng cường an toàn vệ sinh lao động trong các ngành có nguy cơ
cao tại Việt Nam” do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), Tổ
chức Lao động quốc tế (ILO) tổ chức tại Hà Nội vừa qua thì lĩnh vực xảy ra
nhiều tai nạn lao động nhiều nhất là xây dựng (công trình dân dụng, công
nghiệp, giao thông) chiếm 51,11% tổng số vụ tai nạn chết người; khai khoáng
12,7%; SX vật liệu xây dựng 8,3% và cơ khí chế tạo 8%. Nguyên nhân dẫn đến
tai nạn là do vi phạm quy trình, không có biện pháp an toàn vệ sinh lao động.
Tình hình trên cho thấy tình hình quản lý an toàn lao đông trong xây dựng vẫn
chưa được quan tâm chú trọng, cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu mới
có thể giảm thiểu tình trạng tai nạn trên.
1.3
Tình hình chấp hành các quy định về an toàn lao động
Trong lĩnh vực Xây dựng, việc thực hiện các quy định về an toàn - vệ sinh lao
động ở một số đơn vị chưa được nghiêm túc. Không ít đơn vị tuy có tổ chức cho
cán bộ, nhân viên và người lao động học tập và triển khai thực hiện các quy định
9
về bảo đảm an toàn - vệ sinh lao động nhưng còn mang tính hình thức, hiệu quả
mang lại chưa cao. Tình trạng an toàn - vệ sinh lao động không đảm bảo trong
lao động, để xảy ra cháy nổ còn khá phổ biến, đặc biệt tai nạn lao động có chiều
hướng gia tăng, mà nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng lao động và người
động nhưng việc quản lý cụ thể thường xuyên thông qua các văn bản điều hành,
chỉ đạo còn hạn chế, theo kết quả khảo sát của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí
Minh: chỉ có 4/41 đơn vị kê khai có ban hành những văn bản dạng này[5].
1.3.2 Công tác an toàn lao động tại các công trường xây dựng
Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm tra các công trường xây dựng
những công trình có quy mô lớn, đang trong quá trình thi công, sử dụng nhiều
lao động chịu rủi ro như thi công tầng hầm, trên các tầng cao, sử dụng các thiết
bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn (vận thăng, cần trục…)[5]. Các công
trường đều có một số vấn đề về an toàn – vệ sinh lao động như trong tổ chức
mặt bằng công trường, huấn luyện, trang bị phương tiện bảo hộ lao động cho
công nhân, quản lý sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn…[5].
Về tổ chức mặt bằng công trường xây dựng, các công trường được kiểm tra đều
có thiết kế tổng mặt bằng công trường xây dựng nhưng không niêm yết công
khai tại cổng chính của công trường theo quy định, cá biệt có một số công trình
không xuất trình được thiết kế tổng mặt bằng công trường xây dựng (3/13 công
trình)[5].
Về công tác đảm bảo kỹ thuật an toàn vệ sinh lao động, tai nạn chống ngã cao và
sử dụng điện được đánh giá là chiếm tỷ lệ lớn nhất trên các công trường xây
dựng. Cụ thể, tỷ lệ tai nạn lao động làm chết người do ngã cao chiếm 28,1 %,
điện giật chiếm 19 %[1].
11
Hình 1.3 Tai nạn do sập dàn giáo ở công trình Formusa
Hình trên thể hiện cảnh đổ nát của dàn giáo bị sập tại công trường dự án
Formusa, Hà Tĩnh do kiểm tra kết cấu dàn giáo không đảm bảo nhưng không
báo cáo [1].
Đối với công tác an toàn khi sử dụng điện, kết quả kiểm tra tại các công trường
hiểm thiết bị, trong lồng không dán bảng chỉ dẫn vận hành, hoặc có trường hợp
không có quyết định phân công nhân viên vận hành[5]. Nhiều công trường
không lập phương án vận hành an toàn vận hành cần trục tháp mặc dù sử dụng
cần trục tháp tay ngang có phạm vi hoạt động vượt ra khởi mặt bằng công
trường. Đối với việc vận hành cần trục tháp, vi phạm phổ biến tại các công trình
là không bố trí phụ cẩu hoặc phụ cẩu phải làm kiêm nhiệm nhiều việc, không sử
dụng còi báo khi cẩu hàng, vật tư, không niêm yết sơ đồ giới hạn tải trọng- tầm
với của cần trục[3].
Từ những phân tích hiện trạng thực tế về tình hình chấp hành những quy định an
toàn – vệ sinh lao động của các doanh nghiệp xây dựng cũng như tại các công
trường xây dựng, có thể thấy rằng việc thực hiện tốt những quy định an toàn –
vệ sinh lao động đã có sự quan tâm hơn từ phía người sử dụng lao động và ý
13
thức về những quy định này của người lao động cũng được nâng cao. Tuy nhiên,
tình trạng tai nạn lao động tại các công trường xây dựng trên phạm vị cả nước
vẫn có chiều hướng gia tăng (năm sau cao hơn năm trước) mà nguyên nhân
chính vẫn là sự thiếu trách nhiệm của các đơn vị sử dụng lao động và sự chủ
quan, thiếu ý thức của chính những người lao động trong việc thực hiện những
quy định về an toàn – vệ sinh lao động khi thực hiện các công việc nặng nhọc tại
hiện trường. Vì vậy, công tác quản lý an toàn – vệ sinh lao động cần phải được
tăng cường để yêu cầu các doanh nghiệp Xây dựng phải thực hiện nghiêm chỉnh
các quy định về an toàn lao động nhằm tránh các tai nạn lao động xảy ra.
1.4
Công tác tập huấn về an toàn lao động
1.4.1 Đánh giá chung về công tác tập huấn an toàn lao động
Mỗi công trình xây dựng được xây dựng theo một thiết kế và công nghệ kỹ thuật
thực tế số lượng người được huấn luyện về an toàn - vệ sinh lao động còn ít. Cục
An toàn lao động [7] cũng cho biết chỉ có khoảng gần 10% số cán bộ làm công
tác an toàn - vệ sinh lao động ở các doanh nghiệp nhà nước, liên doanh, tư nhân
lớn là được huấn luyện nghiệp vụ và bồi dưỡng kiến thức về an toàn - vệ sinh
lao động.
Về việc đào tạo về an toàn lao động trong hệ thống giáo dục, việc đưa các kiến
thức về an toàn - vệ sinh lao động vào giảng dạy trong hệ thống giáo dục, đào
tạo và dạy nghề chưa được nhiều và còn chậm[3]. Việc xây dựng giáo trình và
phổ biến kiến thức an toàn - vệ sinh lao động trong hệ thống giáo dục và đào tạo,
dạy nghề vẫn còn chưa được tiêu chuẩn hoá, còn thiếu nhiều nội dung.Đội ngũ
giáo viên, huấn luyện viên chưa được đào tạo một cách có hệ thống về kiến thức
an toàn - vệ sinh lao động cũng như chưa có những hiểu biết cơ bản về luật pháp
an toàn - vệ sinh lao động[3].
Về chất lượng và phương pháp huấn luyện, chất lượng và nội dung huấn luyện
của các lớp huấn luyện chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển hiện nay như:
an toàn trong sử dụng công nghệ mới; các yếu tố độc hại, nguy cơ rủi ro mới;
15
cập nhật các phương pháp cải thiện điều kiện lao động mới, các tiêu chuẩn an
toàn - vệ sinh lao động quốc tế, khoa học về cải thiện điều kiện lao
động,...Phương pháp giảng dạy nặng về lý thuyết, ít thực tiễn, thiếu hình ảnh,
cảnh báo, thí nghiệm, dụng cụ trực quan, thực hành, mô hình mô phỏng ... dẫn
đến hiệu quả giảng dạy chưa được cao. Ngoài ra, số lượng cán bộ, công nhân
được đào tạo so với qui định của pháp luật là quá ít và không được kiểm tra,
kiểm soát về mặt chất lượng, đặc biệt là khi xuất hiện một số loại hình doanh
nghiệp tư nhân cung cấp dịch vụ huấn luyện an toàn – vệ sinh lao động[1].
1.4.2 Ảnh hưởng của công tác tập huấn đến tai nạn lao động
Về tình hình tai nạn lao động, theo thông báo của Cục An toàn lao động [1], mỗi
năm cả nước có tới hơn 600 người chết vì tai nạn lao động. Lĩnh vực Xây dựng
7.785
+844 (12,2 %)
3
Số vụ có người chết
592
629
+37 ( 6,2%)
4
Số người chết
630
666
+36 (5,7%)
5
Số người bị thương nặng
1.544
toàn lao động tại các công trường xây dựng vẫn chưa được đề cao và vẫn bị cho
là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tai nạn lao động. Vụ tai nạn
xảy ra ngày 22/8/2008 tại công trình nhà dân (huyện Hóc Môn) làm chết một
công (sinh năm 1986) do bị ngã từ trên cao vào lỗ chờ lắp thang máy[2].Vụ tai
nạn thứ hai xảy ra ngày 28/8/2008 tại công trình xây dựng trạm nghiền xi măng
(quận 9) làm chết một công nhân (sinh năm 1982) do bị ngã dàn giáo từ trên cao
– nguyên nhân của 2 vụ tai nạn này được xác định một phần là do không huấn
luyện, cảnh báo cho người lao động khi làm việc trên cao [2].
Ngoài những vụ tai nạn do ngã từ trên cao, những năm vừa qua đã chứng kiến
nhiều vụ tai nạn khi đang khai thác đá phục vụ các công trình xây dựng; nhiều
vụ tai nạn do sạt lở mái hố đào, điện giật, do lỗi vận hành máy thi công … tất cả
những vũ tai nạn kể trên đều có một phần nguyên nhân đến từ công tác huấn
luyện về an toàn lao động. Ví dụ: khi khai thác đá phải được huấn luyện về thứ
tự khai thác theo điều kiện địa hình cũng như phương của các phiến đá, công tác
an toàn nổ mìn trong khai thác đá để đảm bảo an toàn khi khai thác đá ở các đợt
sau.
Một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng an toàn có ảnh hưởng
đáng kể đến hành vi an toàn cá nhân, và giữa hành vi an toàn cá nhân và việc
thực hiện đảm bảo an toàn lao động có tương quan khá chặt chẽ [8],[9]. Như
17