Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích tại thái nguyên - Pdf 60

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ NHƯ HOA

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ BỆNH VÀNG LÁ THỐI RỄ CÂY BA KÍCH
TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2019
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ NHƯ HOA

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ BỆNH VÀNG LÁ THỐI RỄ CÂY BA KÍCH
TẠI THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 8.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG


LỜI CẢM ƠN
Được sự cho phép của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
và Ban Chủ nhiệm Khoa Nông học, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và
bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích tại Thái Nguyên”.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban
Chủ nhiệm Khoa Nông học, Phòng Đào tạo cùng các thầy giáo, cô giáo đã
giảng dạy trong chương trình đào tạo thạc sĩ ngành Khoa học cây trồng,
những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời
gian học tập tại Nhà trường, là những cơ sở quan trọng giúp tôi hoàn thành
các nội dung của đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Dương Thị Nguyên đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành
luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới gia đình, người thân, bạn bè của tôi đã
luôn cổ vũ, động viên và đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian thực tập và
hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Như Hoa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




iii

1.2.4. Thời vụ trồng ba kích ............................................................................ 10
1.2.5. Mật độ và khoảng cách trồng ba kích ................................................... 10
1.2.6. Kỹ thuật trồng cây ba kích .................................................................... 11
1.2.7. Chăm sóc và quản lý đồng ruộng trồng ba kích ................................... 11
1.2.8. Phương pháp bón phân.......................................................................... 11
1.2.9. Luân canh, xen canh.............................................................................. 12
1.2.10. Nghiên cứu về nguyên nhân gây héo vàng cây ba kích ...................... 15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




iv

1.2.11. Nghiên cứu về phòng trừ sâu bệnh hại cây ba kích ............................ 16
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ...................................................................................... 17

2.1.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................ 17

2.2.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu ......................................................... 17

2.3.

Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 17


3.3.

Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng và bệnh
vàng lá thối rễ cây ba kích....................................................................... 48

3.3.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng của cây ba kích ................. 48
3.3.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tỷ lệ bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích ... 50
3.4.

Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây ba kích và bệnh
vàng lá thối rễ ........................................................................................ 51
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




v

3.4.1. Ảnh hưởng của phân bón đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây
ba kích ................................................................................................... 51
3.4.2. Ảnh hưởng của phân bón đến bệnh vàng lá thối rễ của cây ba kích..... 53
3.5.

Đánh giá hiệu lực của một số thuốc sinh học và hóa học đối với
bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích............................................................ 54

3.5.1. Hiệu quả của biện pháp xử lý đất bằng chế phẩm sinh học đối với
bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích............................................................ 54
3.5.2. Hiệu lực của thuốc hóa học đối với bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích........ 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ............................................................................. 63

TLB

: Tỷ lệ bệnh

TSXL

: Tháng sau xử lý

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.

Các loại hoạt chất hóa học sử dụng trong nghiên cứu ................ 27

Bảng 3.1.

Thành phần bệnh hại chính trên cây ba kích (Thái Nguyên,
2018-2019) .................................................................................. 32

Bảng 3.2.

Tốc độ phát triển (RGR) của nấm F. proliferatum trên các
loại môi trường khác nhau (Thái Nguyên, 2018) ....................... 43


viii

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 3.1.

Triệu chứng một số loại bệnh hại chính trên cây ba kích tím
tại Thái Nguyên. ........................................................................ 33
Hình 3.2. Triệu chứng điển hình của bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích
thu thập Thái Nguyên (Thái Nguyên, 2018). ............................. 35
Hình 3.3. Phân tích mối tương quan về di truyền phân tử của một số
chủng đại diện của loài nấm F. proliferatum gây bệnh vàng lá
thối rễ cây ba kích tại Thái Nguyên và nhiều loài nấm
Fusarium khác dựa trên trình tự vùng ITS. Lịch sử phát sinh
loài được xây dựng bằng phương pháp Neighbour-Joining
dựa trên mô hình bootstrap. ....................................................... 41
Hình 3.4. Phân tích mối tương quan về di truyền phân tử của một số
chủng đại diện của loài nấm F. proliferatum gây bệnh vàng lá
thối rễ cây ba kích tại Thái Nguyên và nhiều loài nấm
Fusarium khác dựa trên trình tự gene TEF-1α. Lịch sử phát
sinh loài được xây dựng bằng phương pháp NeighbourJoining dựa trên mô hình bootstrap. .......................................... 42
Hình 3.5. Ảnh hưởng điều kiện nhiệt độ nuôi cấy (10, 15, 20, 25, 30, 35
và 40oC) đến sự phát triển của sợi nấm (cm) của các nguồn
nấm F. proliferatum BKVN, BKPL và BKĐT. ......................... 44
Hình 3.6. Ảnh hưởng của các mức pH khác nhau (4,5; 5,0; 5,5; 6,0; 6,5;
7,0; 7,5 và 8,0) đến sự phát triển của sợi nấm (cm) của các
nguồn nấm F. proliferatum BKVN, BKPL và BKĐT ............... 46
Hình 3.7. Ảnh hưởng của mật độ trồng khác nhau đến tỷ lệ bệnh vàng lá
thối rễ cây ba kích (Thái Nguyên, 2018-2019). ........................... 51
Hình 3.8. Ảnh hưởng của phân bón đến tỷ lệ bệnh vàng lá thối rễ của
câu ba kích (Thái Nguyên, 2018) ............................................... 54

nhiễm bệnh nặng người dân đã phải nhổ bỏ. Do ba kích là cây mọc hoang dại
dưới tán rừng tự nhiên, nên khi chuyển sang trồng đại trà thâm canh cao
người sản xuất đang gặp phải nhiều trở ngại về giống, kỹ thuật canh tác, bảo
vệ thực vật. Cho đến nay vẫn chưa có kết quả nghiên cứu bài bản nào về kỹ
thuật trồng, chăm sóc cây ba kích. Việc xác định mật độ trồng, liều lượng
phân bón và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý là điều kiện để cây ba kích
sinh trưởng, phát triển tốt, nâng cao năng suất và khả năng chống chịu với
sâu, bệnh hại. Từ đó làm cơ sở để thực hiện thành công chiến lược phát triển
cây dược liệu của tỉnh, ổn định được vùng nguyên liệu, tăng thu nhập cho
người dân.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và
bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích tại Thái Nguyên”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Xác định nguyên nhân gây bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích; Xác định
được mật độ trồng và mức phân bón phù hợp đến sinh trưởng và bệnh vàng lá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




2

thối rễ của cây ba kích; Đánh giá một số loại thuốc sinh học và hóa học có hiệu
lực cao đối với bệnh vàng lá thối rễ.
2.2. Yêu cầu
- Xác định thành phần bệnh hại cây ba kích.
- Xác định nguyên nhân gây bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và phân bón đến sinh trưởng

pháp giâm cành có hệ số nhân giống thấp, chỉ đạt 0,6 lần/năm, chất lượng cây
giống không cao. Để cải thiện hệ số nhân giống cây ba kích, một số tác giả đã
nghiên cứu sử dụng phương pháp nuôi cấy mô tế bào. Tuy nhiên kết quả mà
các tác giả thu được chưa thực sự khả quan, khi hiệu quả khử trùng chỉ đạt
32,8% mẫu sạch (He và cs., 2000), hệ số nhân cao nhất cũng chỉ đạt 6,0
chồi/mẫu cấy (Chen và cs., 2006).
Đối với phương pháp nhân giống vô tính, sử dụng hom giống khỏe
mạnh, cắt hom dài khoảng 25 cm có từ 2-3 mắt, sau đó nhúng vào dung dịch
hormone sinh trưởng indole hoặc indole butyric acid đậm đặc 170 mg/l và
cắm hom giống vào bầu đất. Sau khi trồng, tưới nước 2 lần/ngày sao cho độ
ẩm khoảng 55-60%, chú ý che nắng cho hom giống để tránh ánh nắng trực
tiếp. Thường gây giống bằng phương pháp sinh sản vô tính bằng giâm cành,
chọn dây to chắc của cây ba kích 2 năm tuổi, cắt lấy phần giữa dây, phần đầu
quá non và phần đốt dài đều không phù hợp; khi trồng giữ lại hai mầm dài
khoảng 15 cm, còn lại cắt hết lá. Trồng vào mùa xuân, thu, cắm nghiêng cách
nhau 10 cm, độ sâu bằng 2/3 cành hom, cắm xong phủ đất lên đè chặt, sau đó
đậy cỏ, tưới nước. Đợi mọc mầm, kịp thời trừ cỏ, quan sát nếu cần thiết phải
dựng lều che nắng để duy trì độ ẩm khoảng 60%. Gây giống khoảng nửa năm
đến 1 năm có thể trồng được (Zheng, 2014).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




4

1.1.2. Chọn đất và đất trồng ba kích
Đất vườn ươm thường chọn những nơi có độ dốc thoai thoải hoặc dưới
sườn núi tương đối bằng phẳng. Loại bỏ cỏ dại và cây bụi, giữ lại cây rừng để

5

cm, 35 × 50 cm và 35 × 70 cm. Kết quả cho thấy với khoảng cách 35 × 50
cm, mật độ 40.000-56.000 cây/ha, sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích tương
đối thấp. Khoảng cách thích hợp nhất để trồng ba kích là 35 × 30 cm, hốc sâu
20 cm, mật độ 64.000-80.000 cây/ha, không những không ảnh hưởng đến sinh
trưởng và sản lượng của cây, mà còn tăng sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích.
Nghiên cứu này đã thông qua giám định kỹ thuật quốc gia, góp phần tăng sản
lượng ba kích khô từ 2-3 lần lên 4.288-2.124 kg/ha (Wei và cs., 1992, 1993).
Kết quả nghiên cứu về kỹ thuật trồng ba kích cao sản, đánh luống ruộng
bậc thang theo đường thủy bình, độ rộng khoảng 1 m. Giữa luống cách 25-30
cm đào một hốc, sâu rộng khoảng 20 cm, nếu trồng trên đất bằng, khoảng cách
giữa các hốc là 50 cm. Trong một vài nghiên cứu khác, khoảng cách 30-50 cm
70 × 50 cm, đào một hốc, mỗi hốc trồng 1-2 cây, nếu cây giống nhiều có thể
trồng mỗi hốc 2 cây để tăng tỷ lệ cây sống (Lan, 2010).
Trong các nghiên cứu của Yao (2003), Lin (2012) và Chen Shunrang
(2003) đã nghiên cứu mật độ 35.200-41.600 cây/ha, 10.200-54.400 cây/ha,
48.000 cây/ha. Nghiên cứu kỹ thuật trồng ba kích cao sản ở huyện Vĩnh Định,
tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc cho thấy với mật độ khoảng 32.000 cây/ha sau 58 năm cho sản lượng ba kích khô 250-400 kg (Lin, 2012).
1.1.5. Phân bón cho ba kích
- Bón lót: Liang (1959) nghiên cứu trồng ba kích ở huyện Cao Cần,
Quảng Đông, sử dụng tro cây cỏ và bùn hun làm phân bón lót với lượng
40.000-48.000 kg/ha. Wei và cs (1992) sử dụng 24.000 kg phân bón thổ tạp
hoặc tro cây cỏ, 1.600 kg canxi + mangan + photpho cho 1 hecta làm phân
bón lót (Wei và cs., 1992). Trước khi trồng bón phân xanh, phân ủ, hoặc các
loại phân hữu cơ khác làm phân bón lót vào các hốc đào sẵn, mỗi hecta bón
khoảng 16.000 kg (Yao, 2003). Có thể sử dụng 300 kg canxi, 650 kg phân
đạm urê bón lót cho 1 ha (Lin, 2012).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN


oxysporium là tác nhân làm héo chết cây ba kích là một trong những bệnh hại
chính, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng, phát triển cũng như diện tích
trồng cây ba kích ở Trung Quốc (Shi và Chi, 1988; Luo và Chen, 1989).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




7

Cần điều tra thường xuyên, xác định sự xuất hiện và gây hại của bệnh,
đặt biệt trong điều kiện thời tiết mưa kéo dài; tiến hành đốn tỉa, cắt bỏ cành,
bộ phận bị bệnh để hạn chế nguồn bệnh lây lan, dọn sạch lá rụng, tàn dư cây
bệnh, tạo điều kiện để cây thông thoáng, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và
khoáng chất để cây sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng đề kháng của
cây đối với bệnh.
Ở Hawaii, bệnh cờ đen do nấm Phytophthora sp. gây ra là một trong
những bệnh chính đối với ba kích. Bệnh thường gây hại nặng làm cho lá biến
màu đen, héo, chết khô, cuống lá và thân biến màu đen gây ảnh hưởng lớn đến
năng suất và chất lượng cây ba kích. Biện pháp phòng trừ gồm: (i) kiểm tra
định kỳ xác định sự xuất hiện và gây hại của bệnh đặc biệt trong điều kiện thời
tiết mưa kéo dài, (ii) đốn tỉa cắt bỏ cành, bộ phận bị bệnh để hạn chế nguồn
bệnh lây lan, dọn sạch là rụng, tàn dư cây bệnh, tạo điều kiện để cây thông
thoáng, (iii) cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và khoáng chất để cây sinh trưởng và
phát triển tốt, tăng khả năng đề kháng đối với bệnh hại (Nelson, 2003).
Cũng tại Hawaii, loài tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne sp. gây bệnh
nghiêm trọng, gây thiệt hại trực tiếp cho rễ, xâm nhập sâu vào trong mô cây
và tạo nên các nốt sưng ở rễ và gây vết thương cơ giới tạo điều kiện thuận lợi
cho nấm và vi khuẩn xâm nhiễm vào rễ, làm cho rễ biến màu và thối. Trên lá,
lá bị biến vàng và thường dễ nhầm lẫn với triệu chứng thiếu dinh dưỡng (đạm,

Ba kích là cây chịu bóng, nhất là cây dưới 2 năm tuổi và ưa sáng ở giai
đoạn trưởng thành. Cây Ba kích thích ứng rộng với điều kiện sinh thái, cây
tồn tại và phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 22,5-23,1°C, chịu được nhiệt
độ tối thấp tuyệt đối -2,8°C và tối cao tuyệt đối 41,4°C, độ ẩm không khí
trung bình từ 82-89%. Lượng mưa bình quân năm từ 1.420,7-2.574,5 mm.
Cây ba kích ưa đất feralit đỏ vàng, đất feralit giàu mùn trên núi và đất thịt ẩm
mát. Cây sinh trưởng sau 5-7 năm mới thu dược liệu, năng suất bình quân 812 kg củ tươi/gốc, càng để lâu năm sản lượng càng cao.
1.2.2. Biện pháp nhân giống ba kích
Tại Việt Nam, mới chỉ nghiên cứu nhân giống cây ba kích bằng nuôi cấy
mô được thực hiện bởi Võ Châu Tuấn và Huỳnh Minh Tư (2010). Nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




9

này được thực hiện nhằm thiết lập quy trình nhân giống in vitro cây ba kích
có nguồn gốc từ huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, bắt đầu từ khâu vào mẫu
cho đến khâu thích nghi cây ngoài vườn ươm, có hệ số nhân giống cao và chất
lượng cây giống tốt.
Môi trường MS + 0,25 mg/l kinetin + 1 mg/l BA thích hợp cho tái sinh
chồi ba kích từ đoạn thân, cho tỷ lệ mẫu cảm ứng tái sinh chồi đạt 96,86% và
2,65 chồi/mẫu sau 30 ngày nuôi cấy. Môi trường MS + 3,0 mg/l BA + 0,2
mg/l IBA + 10,0 mg/l Riboflavin thích hợp cho nhân nhanh chồi ba kích, đạt
hệ số nhân 10,13 lần sau 45 ngày nuôi cấy. Môi trường thích hợp để tạo rễ
cho chồi cây ba kích là MS + 0,2 mg/l IBA + 2 g/l than hoạt tính, cho tỷ lệ ra
rễ đạt 100%, 3,5 rễ/chồi, chất lượng bộ rễ tốt. Tuổi cây in vitro thích hợp để
chuyển cây ra ngoài vườn ươm là 35 ngày tuổi. Giá thể thích hợp để tiếp nhận
cây là giá thể hữu cơ (50% bột dừa + 50% phế liệu sản xuất nấm ăn), cho tỷ lệ

bổ hốc trên mặt luống trước khi trồng kích thước 30×30×20 cm. Đối với đất
đồi dốc, trước khi trồng ít nhất 15 ngày, không cày làm đất mà tiến hành cuốc
hốc để ải theo hàng đồng mức cách nhau 1 m, cách hàng 1,5-2,0 m, kích
thước hố 40×40×30 cm. Ngoài ra, cần có biện pháp quản lý đất trồng ba kích
và định kỳ đánh giá nền đất cũng như phân tích nguồn nước tưới cho cây ba
kích nhằm đảm bảo không có chứa hàm lượng kim loại nặng, nitrate và vi
sinh vật có hại vượt quá ngưỡng cho phép (Nguyễn Văn Lan và cs., 1979).
1.2.4. Thời vụ trồng ba kích
Thời vụ gieo ươm hạt vào tháng 1, và trồng vào tháng 5-7 để đảm bảo
điều kiện thuận lợi cho tỷ lệ cây sống cao, cây sinh trưởng và phát triển thuận
lợi, giảm được công chăm sóc cây con.
1.2.5. Mật độ và khoảng cách trồng ba kích
Bộ rễ cây ba kích phát triển mạnh hay không phụ thuộc vào đất, nếu
canh tác tơi xốp, hệ rễ ba kích phát triển mạnh. Mật độ khoảng cách trồng
thường là: 8.500 cây/ha với khoảng cách trồng 1,2×1,0 m. Mật độ 10.000
cây/ha với khoảng cách 1,0×1,0 m.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN




11

1.2.6. Kỹ thuật trồng cây ba kích
Đào hố với kích thước 30×30 cm hoặc 40×40 cm, sâu từ 20-30 cm. Cho
2-3 kg phân chuồng hoai mục trộn với đất mùn (đất mật) đầy hố (không được
để hố trũng đọng nước làm thối cổ rễ cây khi mưa). Mỗi hố trồng một cây đã
được xé bỏ bầu, lấp đất đầy hố, lèn chặt gốc và tưới nước ngay. Trồng vào
ngày trời râm mát càng tốt.

chuồng/ha. Sau 2 tháng trồng (tháng 6/1994): độ cao cây trung bình: 26,62 cm
(tăng 2,96 lần) đường kính cổ rễ đạt 0,37 cm, tăng 1,5 lần so với khi đánh
trồng. Sau 6 tháng trồng (tháng 9/1994); Cây có độ cao trung bình: 107,36 cm
tăng 12 lần, đường kính cổ rễ: 0,5 cm, tăng 2 lần so với khi đánh trồng. Sau
14 tháng trồng (tháng 5/1995) do cây leo quấn không đo được chiều cao cây,
đường kính cổ rễ trung bình 0,8 cm tăng 3,3 lần so với khi đánh trồng. Sau 18
tháng trồng (tháng 8/1995) đường kính cổ rễ trung bình 0,9 cm tăng 3,7 lần so
với khi đánh trồng, đường kính củ lớn nhất trung bình 0,5 cm.
Như vậy, tác giả sử dụng chủ yếu là phân chuồng bón lót cho ba kích,
trong thời kỳ kiến thiết cơ bản (2 năm đầu) ba kích sinh trưởng phát triển rất
mạnh khi độ chiếu sáng 100% (ở đất trống) trừ 2 tháng đầu mới trồng có che
nắng. Tuy nhiên chưa có điều kiện để tác giả đánh giá năng suất dược liệu
cũng như chưa thí nghiệm khoảng cách mật độ trồng ba kích.
Theo tài liệu hướng dẫn kĩ thuật trồng cây ba kích của Viện Dược liệu (2005).
Vùng trồng, cây ba kích được trồng tại vùng Trung du và miền núi thấp.
Đất trồng: Đất đồi núi độ cao dưới 600 m, tầng đất dày. Giống thì thường
được trồng bằng hạt và hom thân. Sản xuất dược liệu bằng trồng cây giống
chủ yếu từ hạt, thiếu giống mới trồng bằng hom. Thời vụ ươm hạt vào tháng 1
hàng năm để mùa Xuân năm sau có cây giống xuất trồng.
Phân bón: phân chuồng hoai mục 15-20 tấn/ha. Bón thúc: Ba năm đầu:
mức phân chuồng pha loãng (3-5 tấn/ha/năm) hoặc phân đạm urê pha loãng
với nước nồng độ 20% (80 kg/ha/năm).
Khoảng cách mật độ trồng: Cây cách cây 1,0×1,0 m, mật độ 10.000
cây/ha hoặc cây cách cây: 1,2×1,0 m, mật độ 8.500 cây/ha.
1.2.9. Luân canh, xen canh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN









14

Sau 3 năm thực hiện dự án “Xây dựng mô hình trồng cây ba kích tại
huyện Định Hóa giai đoạn 2012-2015”, đã ghi nhận phương thức trồng ba
kích dưới tán rừng keo, mỡ vào giai đoạn đầu cây ba kích sinh trưởng, phát
triển khá tốt, nhưng từ năm thứ 2 trở đi cây phát triển chậm hơn so với một số
diện tích trồng thâm canh. Đến năm thứ 3, tỷ lệ ba kích sống đạt trên 80 %,
chiều dài củ từ 10-20 cm, đường kính 5-7 mm; khối lượng củ đạt 0,5-0,8
kg/gốc. Tuy nhiên, một số diện tích trồng trên đất soi, bãi, vườn… do đất tơi
xốp, người dân có điều kiện chăm sóc (trồng đánh luống, làm dàn cho ba kích
leo, làm cỏ, tưới nước…) cây sinh trưởng tốt hơn, số lượng củ trên gốc cao và
kích thước củ lớn hơn, có những gốc đạt 1,2-1,5 kg. Ngoài ra, nhiều mô hình
trồng ba kích dưới tán cây rừng đã được áp dụng thành công tại nhiều tỉnh
khác (Trung tâm Khuyến Nông Quốc gia, 2015).
Tại huyện Võ Nhai, nhằm tạo sự đa dạng trong phát triển sản xuất nông
nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo, đồng thời tận dụng điều kiện đất đai,
khí hậu phù hợp, những năm gần đây, huyện Võ Nhai đã trồng thử nghiệm và
từng bước mở rộng diện tích cây dược liệu. Trên địa bàn huyện có nhiều loại
cây dược liệu có giá trị, như: Chè dây, Sa nhân, Ngải cứu, củ Mài, củ Bình
vôi, địa liền, Giảo cổ lam, Hương nhu, Mã đề, Lạc tiên, Ba kích, Huyết đằng,
Hoàng bá… Tính đến nay, diện tích trồng cây dược liệu trên địa bàn huyện đã
lên tới gần 40 ha. Thời gian tới, huyện sẽ đầu tư xây dựng vùng trồng cây
dược liệu tập trung, phấn đấu đến năm 2020 nâng tổng diện tích trồng các loại
cây này lên 500 ha (Báo Thái Nguyên, 2016). Trong năm 2015, Dự án trồng
cây ba kích dưới tán rừng tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa - Phượng
Hoàng được Trung tâm học liệu (Đại học Thái Nguyên) hỗ trợ triển khai với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status