BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Cao Thị Vân
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ
ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG VÀ ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ
(Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)
1.
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội - 2020
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................ i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ..............................................................iii
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 01
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
KHÁI QUÁT VỀ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ . 07
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................................ 07
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài ............................................................................... 15
1.3. Khái quát về đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô .................... 29
Tiểu kết .......................................................................................................... 34
Chương 2: HÌNH THỨC, ĐỀ TÀI VÀ ĐỒ ÁN TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG
Đình làng Lâu Thượng
ĐLHL
Đình làng Hùng Lô
H
Hình
PL
Phụ lục
NCS
Nghiên cứu sinh
Nxb
Nhà xuất bản
TK
Thế kỷ
TP
Thành phố
số đài báo có quay video, làm tư liệu phóng sự nhưng thời lượng còn hạn chế
nên chưa cung cấp được nhiều thông tin… Nhận thấy ĐLLT và ĐLHL là hai
trong số hàng trăm ngôi đình ở đất Phú Thọ có rất nhiều giá trị nghệ thuật được
nhiều tác giả trong nước đánh giá cao, với quy mô bề thế khang trang cùng nhiều
2
hiện vật quý có nhiều lớp niên đại khác nhau nhưng về cơ bản lại chưa được khai
thác và nghiên cứu một cách chuyên biệt. Rõ ràng, đây là khoảng trống cần được
tiếp tục nghiên cứu.
Dựa vào tình hình nghiên cứu về đình làng có thể nhận thấy đình làng là
một vấn đề đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tìm
hiểu chủ yếu khai thác trên các lĩnh vực như: khảo cổ, kiến trúc, mỹ thuật, văn
hóa… nhưng những nghiên cứu về nghệ thuật trang trí đình làng nói chung thì
hầu như chưa có công trình nào đề cập tới (nhất là nghệ thuật trang trí đình làng
ở một đối tượng cụ thể thì hầu như chưa có). Xuất phát từ tình hình thực tế này,
luận án bước đầu nhận định hiện chưa có công trình nghiên cứu nào về nghệ
thuật trang trí đình làng mang tính trường hợp như ĐLLT và ĐLHL. Nên, NCS
lựa chọn đề tài Nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng
Lô (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) để làm đối tượng nghiên cứu chính của
luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, bởi đây là hai
ngôi đình tương đối tiêu biểu ở Phú Thọ có nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử và
đặc biệt là giá trị về nghệ thuật. Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà
nghiên cứu đi trước, luận án làm rõ tính chất trang trí ở hai ngôi đình để tìm ra
những đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống
đình làng Việt Nam. Góp phần bổ sung những tư liệu còn khuyết thiếu trong kho
tàng nghiên cứu về nghệ thuật dân gian Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
vào khoảng TK XIX như khu vực nghi môn, hậu cung, các đồ thờ), còn nghệ thuật
chạm khắc ở tòa đại đình Lâu Thượng, nhiều nhà nghiên cứu đi trước khẳng định
những mảng chạm khắc ở ĐLLT có phong cách nghệ thuật cuối TK XVII ở Việt
Nam. Chính vì lịch sử hai ngôi đình được ra đời vào những năm khác nhau đồng
thời đã trải qua nhiều lần trùng tu biến đổi, thay mới. Để đánh giá khách quan,
NCS sẽ dựa vào mốc ra đời của ĐLHL kết hợp với sự nhận định niên đại của
ĐLLT và trải qua quãng trùng tu tôn tạo lớn vào năm 2008 (TK XXI).
4
Do vậy, phạm vi nghiên cứu sẽ giới hạn từ TK XVII đến TK XXI ở Việt Nam.
4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu hiện như thế
nào trong các: hình thức, đề tài, đồ án, bố cục, không gian và màu sắc trang trí?
Câu hỏi 2: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL mang phong cách tạo hình
dân gian Việt Nam hay được tiếp biến từ tạo hình mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Độ?
Câu hỏi 3: Đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu
hiện như thế nào so với các ngôi đình khác trong hệ thống đình làng Việt Nam?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu hiện đa dạng
trong các hình thức trang trí như: chạm khắc, tượng, đắp nổi vôi vữa, hoành phi
câu đối cùng một số đồ thờ có giá trị, được thể hiện bằng nhiều đề tài, các đồ án
trang trí và điểm tô bởi nhiều màu sắc khác nhau, được xắp xếp trong không gian
ngoại đình và nội đình bởi các hình thức bố cục như đối xứng, phân tầng hay
nương theo kiến trúc để trang trí.
Giả thuyết 2: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL phần lớn mang đậm
phong cách tạo hình dân gian cùng mỹ cảm truyền thống dân tộc của người Việt,
bên cạnh sự tiếp biến về tạo hình của mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Độ
6.1. Đóng góp về mặt lý luận
Về phương diện lý luận và lịch sử mỹ thuật: Đề tài là công trình nghiên
cứu chuyên biệt theo hướng tiếp cận nghệ thuật học qua việc nghiên cứu
mang tính trường hợp của nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL (ở TP Việt Trì,
tỉnh Phú Thọ) mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa tạo nên những nét đặc
trưng riêng trong nghệ thuật trang trí đình làng Việt Nam.
Đối với nghệ thuật tạo hình: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu
về nghệ thuật trang trí ở ĐLLT và ĐLHL trên cơ sở làm rõ các giá trị về nghệ
thuật tạo hình được biểu hiện trong các hình thức trang trí, đề tài và đồ án trang trí.
Với giáo dục thẩm mỹ: Thông qua các chuyến nghiên cứu điền dã, đạc
họa cùng một số bản vẽ mô tả về các đồ án trang trí sẽ cho cái nhìn khoa học về
6
các yếu tố tạo hình được soi tỏ dưới các biểu tượng văn hóa dân tộc từ đó khơi
dậy niềm đam mê yêu thích nghệ thuật trang trí truyền thống của nước nhà.
6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
- Góp phần bổ khuyết những khoảng trống về tư liệu của ĐLLT và ĐLHL
trong quá trình điền dã và khảo sát, hệ thống hóa tư liệu liên quan tới nội dung
luận án.
- Cung cấp cho các nhà nghiên cứu, những nhà làm công tác quản lý di
tích những thông tin tư liệu xác thực dưới các góc độ: lịch sử, kiến trúc, chạm
khắc, đắp nổi vôi vữa (nề, ngõa), tranh vẽ trên gỗ, tín ngưỡng dân gian,…
7. Kết cấu của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu (6 trang), kết luận (5 trang), tài liệu tham
khảo (12 trang), phụ lục (70 trang), nội dung được kết cấu 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về
đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (29 trang).
Chương 2: Hình thức, đề tài và đồ án trang trí đình làng Lâu Thượng và
nghiên cứu người Pháp tên là Bezacier trong L’art Vietnamien, Paris (1955) đánh
giá rất cao. Bằng ngòi bút sắc sảo, tác giả đã luận bàn chi tiết về tín ngưỡng thờ
Thành Hoàng làng, lễ hội, tục hèm,… cùng một số ảnh về đồ thờ và đồ vật được
trang trí trong đình Yên Mẫn. Cuốn sách là tư liệu quý và có giá trị trong kho tàng
văn hóa dân gian viết về đình. Tuy nhiên trong toàn bộ nghiên cứu của mình, một
phần rất quan trọng để làm nên nét đẹp của ngôi đình chưa được tác giả quan tâm
8
đến đó là nghệ thuật chạm khắc trên kiến trúc. Đối tượng khảo tả của tác giả cũng
chỉ xoay quanh đình Yên Mẫn mà chưa có sự mở rộng ra các ngôi đình khác.
Tiếp nối nghiên cứu về đình là Chu Quang Trứ trong bài viết Về phong
cách và niên đại đình Lâu Thượng được lưu trong tài liệu nội bộ của Viện nghiên
cứu Mỹ thuật (1969) [106]. Đây là tập tài liệu được tác giả viết vào những năm
cuối thập niên 60 của TK XX trong một chuyến điền dã thuộc hệ thống nghiên
cứu về các ngôi đình làng ở miền Bắc Việt Nam. Tài liệu đã bước đầu phân tích,
đánh giá khá tỉ mỉ về phong cách và niên đại của ĐLLT. Trong đó, nêu sơ lược
được về tình hình địa phương, tên gọi địa danh, lý lịch sơ bộ các vị Thành Hoàng
làng và cùng đó cũng đi khá chi tiết về các mốc dựng đình và miêu tả các chạm
khắc trên kiến trúc tương đối tỉ mỉ. Điểm mạnh của tài liệu này là tính công phu,
phân loại ra được các chạm khắc theo niên đại, mang tính khảo tả cao. Chính vì
điểm mạnh ấy, NCS có thể hình dung được vào năm 1969 ĐLLT có hiện trạng
như thế nào… Tuy nhiên, một phần tạo nên tính thẩm mỹ cho ngôi đình là nghệ
thuật trang trí trên các cấu kiến trúc được biểu hiện dưới dạng bố cục, không gian,
đồ án, đề tài, hình thức trang trí vẫn chưa được tác giả quan tâm nhiều… Vậy nên,
đây sẽ là hướng mở để NCS tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, trong luận án.
Vào năm 1996, Nguyễn Anh Tuấn với luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành
khảo cổ học với đề tài Cụm đình Tam Canh trong hệ thống đình làng Vĩnh Phú
[94]. Công trình nghiên cứu của tác giả bước đầu nghiên cứu về ba ngôi đình
năm 2015 - 2019, rõ ràng các mảng chạm khắc trên kiến trúc ĐLLT vào năm 1998
bị hư hỏng khá nhiều. Theo nhận định ban đầu, một số chi tiết ở các mảng chạm
hoàn chỉnh ở thời hiện tại có thể đã được lắp ghép lại ở những chi tiết nhỏ bị rơi,
rụng trong quá trình trùng tu tôn tạo như: đao mác, mây lửa, một số thân rồng con…
Đây là một cứ liệu hết sức quan trọng, giúp NCS làm cơ sở vững chắc để phân định
niên đại và phân tích một cách khách quan hơn trong quá trình nghiên cứu.
Tiếp tục chuỗi những nghiên cứu về đình làng của mình, Chu Quang Trứ
đã xuất bản cuốn Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật (2002). Trong đó có một số
bài viết về đình làng như: Đình Hữu Bổ, Đình Thổ Hà, Đình Trà Cổ, Đình Chu
Quyến, Đình Phù Lão, Đình Hồi Quan,… đặc biệt trong cuốn sách này có bài
10
viết về “Đình Xốm với sự chuyển hóa từ đền sang đình” [111, tr.526], với những
dẫn chứng công phu về các mốc thời gian ra đời và tu sửa cho đến hoàn thiện
ĐLHL trên cơ sở từ một ngôi đền, trong bài viết này phần lớn tác giả đi sâu phân
tích hệ thống kiến trúc của tòa đại đình. Đánh giá đây là tư liệu lịch sử quý về
ĐLHL với những khảo cứu khá chi tiết, sẽ phần nào giúp NCS có thêm cơ sở đối
chiếu tư liệu trong quá trình hoàn thiện luận án. Tuy nhiên, bài viết về ĐLHL
được tác giả nghiên cứu trên tinh thần tiếp cận theo hướng văn hóa học, vì vậy
luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu nghệ thuật trang trí ĐLHL theo hướng tiếp cận
nghệ thuật học.
Năm 2006, một trong những nghiên cứu về đình có tính khảo sát và
chuyên biệt là cuốn Mỹ thuật đình làng ở Đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Văn hóa
Thông tin [28] của Nguyễn Văn Cương. Trong cuốn sách này, Nguyễn Văn
Cương đã miêu tả nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc đình làng theo sự phân cắt
các biểu tượng với những tư liệu phong phú. Theo tác giả, các yếu tố văn hóa đã
chi phối các giá trị thẩm mỹ, mô thức thẩm mỹ của người Việt khi nghiên cứu
mỹ thuật đình làng từ góc độ nghệ thuật học... Đáng chú ý, trong một công trình
nghĩa của những hoa văn chạm khắc trên kiến trúc tôn giáo (trong đó có nghệ
thuật trang trí trên kiến trúc đình làng). Đây là công trình nghiên cứu tổng hợp,
được đúc kết qua quá trình khảo sát thực tiễn của người viết dày kinh nghiệm,
công trình bao quát về nghệ thuật trang trí truyền thống của người Việt qua các
giai đoạn từ thời tiền sử, Đông Sơn cho đến thời tự chủ. Mặt khác, tác giả đã có
sự so sánh, đối chiếu và đưa ra ví dụ rất cụ thể trên từng đối tượng. Dựa vào
công trình tổng hợp này, luận án có thể đối chiếu để tìm ra nét đặc trưng riêng có
của ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống trang trí mỹ thuật truyền thống của người
Việt. Rõ ràng, với một công trình có đối tượng khảo sát lớn xuyên suốt qua nhiều
thời kỳ nên việc đi sâu vào tính trang trí cụ thể trong ĐLLT và ĐLHL đương
nhiên sẽ không được nhắc tới cũng là điều dễ hiểu. Vì thế, luận án sẽ tiếp tục đi
sâu, làm rõ và bổ sung những đặc điểm nghệ thuật trang trí ở hai ngôi đình.
Trong cuốn Đình làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ) (2014) thuộc dự án của
Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam do Trần Lâm Biền chủ biên [16]. Đây là một
12
cuốn sách không những nêu được khái quát sự về sự hình thành và phát triển của
đình làng mà còn khảo tả khái quát về nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc, các lễ hội
gắn với đình làng của vùng đồng bằng châu thổ một cách chân thực, đầy đủ, hệ
thống. Tác giả lấy ví dụ phần lớn từ các ngôi đình tiêu biểu như bức: thổi tiêu,
chèo thuyền (đình Hương Canh - Vĩnh Phúc – tr.123), phượng, hươu, rồng (đình
Lỗ Hạnh Bắc Giang– tr29,132,133), lân (đình Thổ Hà – Bắc Giang – tr.130),
bản vẽ rồng (đình Lỗ Hạnh – Bắc Giang – tr.131), bản phượng rập (đình Thổ Hà
– Bắc Giang – tr.131),… Tuy nhiên, cuốn sách không có các dẫn chứng về
ĐLLT và ĐLHL vì thế nghệ thuật trang trí ở hai ngôi đình này vẫn còn là nghiên
cứu bỏ ngỏ và đây là lý do luận án tiếp tục thực hiện.
Trong số những nghiên cứu của Trần Lâm Biền, một luận điểm đáng chú
ý trong cuốn Con đường tiếp cận lịch sử (2013) [15] có liên quan trực tiếp tới đề
Yên Mẫn, đình Thổ Hà, đình Chu Quyến, đình Đình Bảng, đình Hương Canh…,
các công trình đều được xuất bản thành sách và được phổ biến nhiều trên các tạp
chí chuyên ngành và được nhiều người biết tới. Còn lại, hai ngôi đình ở miền đất
cổ bên dòng Tam giang lịch sử có lối trang trí được nhiều nhà khoa học đánh giá
là tiêu biểu trong hệ thống đình làng Việt Nam thậm chí còn được gọi tên là
“phong cách Lâu Thượng” nhưng vẫn chưa được nghiên cứu một cách chuyên
biệt, nếu có cũng chỉ được lồng ghép trong các công trình ở tầm vĩ mô. Một vài
nghiên cứu đã có sự đầu tư nghiên cứu sâu hơn về ĐLLT và ĐLHL nhưng chỉ
dừng lại khía cạnh sử học, văn hóa học, hay mô tả đạc họa kiến trúc (ĐLHL),
còn lại phần lớn các nghiên cứu về hai ngôi đình chỉ dừng ở mức khảo tả, chưa
đi sâu vào phân tích, so sánh, để tìm ra nét đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang
trí. Chính vì lẽ đó, đây sẽ là hướng mở để NCS tiếp tục hoàn thiện với tên đề tài
Nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (Thành phố
Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Có thể nói nghiên cứu về nghệ thuật truyền thống ở Việt Nam đã được các
nhà nghiên cứu người Pháp quan tâm từ cuối TK XIX – đầu TK XX, nội dung
nghiên cứu chủ yếu là kiến trúc nhà ở, tranh dân gian Việt Nam, các phong tục
14
tập quán sinh hoạt truyền thống của người Việt, bên cạnh đó cũng có một số
nghiên cứu về đình nhưng chưa hệ thống và chỉ được điểm xuyết trong các công
trình lớn, tiêu biểu như:
Một công trình nghiên cứu về địa lý, nhân văn của Pierre Gourou trong
cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ được xuất bản bởi Viện Viễn Đông Bác
cổ (EFEO) vào những năm 30 của TK XX [134]. Công trình là sự đầu tư nghiên
cứu công phu, đề cập được nhiều vấn đề liên quan tới địa lý, khí hậu, nông
nghiệp, dân số, lệ làng,… của những người nông dân vùng châu thổ Bắc Kỳ nói
về văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cuối TK XIX - đầu TK XX về bối cảnh,
nghệ thuật trang trí, kiến trúc của người An Nam là vô cùng giá trị… Tuy nhiên,
các nghiên cứu về đình chủ yếu nhìn từ góc độ lịch sử, dân tộc học, còn nghệ
thuật trang trí đình làng mới chỉ dừng lại ở cung cấp các bản vẽ đạc họa kiến trúc
và mô típ trang trí trên bờ guột của mái đình. Vậy nên, nghệ thuật trang trí
ĐLLT và ĐLHL vẫn là khoảng trống về tư liệu cần được tiếp tục bổ sung và
nghiên cứu.
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1. Khái niệm cơ bản và thuật ngữ liên quan
1.2.1.1. Khái niệm cơ bản
* Khái niệm trang trí:
Trang trí là thuộc tính của nghệ thuật, xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài
người. Trang trí gắn liền với nhu cầu làm đẹp, nhằm thoả mãn nhu cầu văn hoá
tinh thần của con người. Tư liệu khảo cổ học cho thấy, ngay từ xã hội nguyên
thuỷ, trang trí đã có các biểu hiện và hình thức thể hiện vô cùng phong phú, như
tạo tác các đồ trang sức, vẽ các hình vẽ trên cơ thể… Theo thời gian, trang trí
phát triển ngày càng hoàn thiện, không chỉ thể hiện sự tài khéo, mà còn phản ánh
ở trong đó bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc.
Trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, trang trí được định nghĩa
là: “Bố trí các vật thể có hình khối, đường nét, màu sắc khác nhau sao cho tạo
ra một sự hài hòa, làm đẹp mắt một khoảng không gian nào đó” [73, tr.1308].
16
Theo định nghĩa trong từ điển Bách khoa thư nghệ thuật phổ thông, trang
trí được định nghĩa như sau:
Trang trí (decoration) là một tổng hợp những thuộc tính nghệ thuật để
tường, các hình phù điêu, các bức tượng, các bức tranh kính, các bức
tranh khảm… để trang trí mặt tiền, nội thất, thậm chí cả điêu khắc công
viên), Nghệ thuật trang trí mỹ thuật (tạo ra các đồ vật sinh hoạt), và
Nghệ thuật bài trí (bài trí các trưng bày, lễ hội, bảo tàng… [141, tr.212].
Dựa vào định nghĩa trên đây, cho ta cái nhìn rất cụ thể về nghệ thuật trang
trí. Nếu khái niệm về trang trí đơn thuần chỉ là sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật tạo
hình để làm tăng tính thẩm mỹ như bố cục, đường nét, hình khối, màu sắc, chất
liệu,… thì khái niệm về nghệ thuật trang trí còn bổ sung thêm ngoài tính thẩm
mỹ còn mang cả tính tư tưởng và tính hình tượng rất rõ nét được chia theo các
hạng mục khác nhau như: trang trí nội thất, trang trí mặt tiền, các bức tượng,
tranh, bức khảm, thậm trí cả việc bài trí, trưng bày… tất cả được đặt trong một
không gian bao quanh con người để làm tăng tính chất thẩm mỹ.
Nhưng trong từ điển Oxford Dictionary of Art, lại có một tư duy phân loại
khác khi cho rằng: “Nghệ thuật trang trí thường được sử dụng nhiều, ít nhiều đồng
nghĩa với nghệ thuật ứng dụng nhưng cũng có thể chấp nhận đối tượng được thực
hiện hoàn toàn là trang trí, mà không có bất kỳ mục đích thực tế nào” [142, tr.256]
Nhưng, đối với các nhà nghiên cứu mỹ thuật ở Việt Nam như Nguyễn Du
Chi, Nguyễn Phi Hoanh, Trần Lâm Biền, Ngô Văn Doanh,… đều thống nhất quan
niệm trang trí trong mỹ thuật truyền thống của Việt Nam là mang tính biểu tượng.
Điển hình như Trần Lâm Biền trong cuốn Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của
người Việt viết “Hoa văn trên dải đất chữ S không chỉ nhằm mục đích đơn thuần để
trang trí cho kiến trúc hoặc các hiện vật nào đó, mà chúng là sự kết tinh “muôn đời
muôn thủa” của dân tộc Việt” [12, tr.8]. Hay như trong cuốn Mỹ thuật Việt Nam của
Nguyễn Phi Hoanh khi cho rằng: “Nghệ sỹ Việt Nam chẳng những cách điệu đồ án
cho đẹp và thích hợp với bố cục trang trí, mà có điểm đặc sắc nhất là tưởng tượng
làm cho các vật biến thể ra vật khác để tăng thêm ý nghĩa và tính chất trang trí của
đồ án” [49, tr.321].
18
19
nghệ thuật thực thụ nên khi áp dụng các thuật ngữ hay các quan điểm, lý thuyết
từ phương tây nếu hiểu máy móc đôi khi sẽ cho các nhà nghiên cứu có cái nhìn
cứng nhắc về đình làng của người Việt.
Nếu đối chiếu với các khái niệm về trang trí, nghệ thuật trang trí và khái
niệm về đình như trên, rõ ràng Nghệ thuật trang trí đình làng thuộc lĩnh vực
trang trí truyền thống cần phải nhìn nhận ngôi đình ở Việt Nam như một tác
phẩm nghệ thuật trong đó được sử dụng rất nhiều thành phần trang trí bao gồm:
tượng trang trí, chạm khắc trang trí, tranh vẽ vẽ trên gỗ (tranh trang trí), hoành
phi câu đối, phù điêu dạng đắp nổi bằng vôi vữa có gắn sứ (nề, ngõa), nghệ thuật
sắp đặt đồ thờ,… Có thể nói ngắn gọn, nghệ thuật trang trí đình làng là một tác
phẩm nghệ thuật được thể hiện bằng nhiều hình thức trang trí khác nhau, được
sắp xếp bằng các hình thức bố cục trong một không gian nhất định và mang tính
biểu tượng cho làng xã của người Việt.
1.2.1.2. Thuật ngữ liên quan
* Một số thuật ngữ trong các nguyên tắc trang trí
- Đối xứng: Sử dụng nguyên tắc này tạo cảm giác vững chãi cho bố cục trang
trí, tăng tính nghiêm trang cho chốn thâm nghiêm nhất là nơi thờ tự như đình, chùa,
miếu. Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Jean Chevalier Alain
Gheerbrant (1997), mô tả thuật ngữ này là “một thế đối xứng, trong đó hai bên của
trục đối xứng lặp lại cùng một mô típ nhưng không giống hệt nhau” [85, tr.747].
- Nhắc lại: là nhắc đi nhắc lại các yếu tố tạo hình nào đó như: mảng, màu
sắc, bố cục, họa tiết… làm cho đối tượng được trang trí trở nên nhất quán trong
phong cách tạo hình, gợi cho đối tượng được trang trí có cảm giác vận động.
- Xen kẽ: Xen kẽ các yếu tố tạo hình như: đậm – nhạt, nóng – lạnh, to –
nhỏ, chi tiết – nền, sáng – tối … làm cho bố cục trở nên được chặt chẽ và sinh
động hơn, tạo ra kết nối và tránh sự nhàm chán trong quá trình trang trí.
những bậc kỳ hào trong làng xã…
21
- Cửa võng: là một trong những thành tố trang trí quan trọng ở đình. Cửa
võng được đặt ở phía trên cao, ngay gian giữa khu trung đình trước khu vực khám
thờ hoặc là bức ngăn che giữa khu đại đình và hậu cung nhằm tạo thành một bức
vách ngăn che giữa khu vực hành lễ và chốn thâm cung tạo hiệu ứng uy nghiêm,
tôn kính cho khu vực thờ tự của thần đình. Nghệ thuật trang trí trên cửa võng ở
các ngôi đình phần lớn có sự khác nhau ở bố cục và các mô típ trang trí trên đó.
* Một số thuật ngữ điêu khắc
Theo từ điển Oxford: Learner’s pocket Dictionary, “điêu khắc” (sculpture)
được định nghĩa là “một tác phẩm nghệ thuật được tạo ra bằng cách chạm khắc,
đẽo gọt gỗ, đá,… thành một khối rắn chắc” [142, tr.395]. Từ những nhận định về
điêu khắc như trên, điêu khắc được chia thành 2 thể loại là: tượng và phù điêu.
Theo Chu Quang Trứ trong Lược sử Mỹ thuật và mỹ thuật học [108] viết:
- Tượng tròn: “là loại hình nghệ thuật, tạo hình bằng cách kết hợp hình
khối trong không gian ba chiều”… Khi thưởng thức tác phẩm điêu khắc (tượng
tròn) ta có thể đi xung quanh để ngắm nghía và cảm nhận vẻ đẹp của tác phẩm ở
nhiều hướng, nhiều diện khác nhau [108, tr.388].
- Phù điêu: “Phù điêu khác tượng tròn ở chỗ hình tượng nghệ thuật gắn
với một mặt phẳng không gian hai chiều. Phù điêu cũng có nhiều loại: chạm nổi
hoặc chạm khắc nét chìm. Hình tượng nhân vật có thể có độ nổi cao thấp khác
nhau” [108, tr.388].
1.2.2. Các hình thức trang trí đình làng
1.2.2.1. Chạm khắc
Chạm khắc là một trong những thành tố quan trọng và có giá trị nhất trong
nghệ thuật trang trí đình làng. Nổi bật nhất phải kể đến là những mảng chạm
khắc trên chất liệu gỗ được đục, chạm và gắn trực tiếp vào các cấu kiện kiến trúc
1.2.2.3. Phù điêu đắp nổi bằng vôi vữa
Sau giai đoạn trùng tu khoảng cuối TK XIX, hình thức đắp nổi vôi vữa có
gắn các mảnh sứ có màu được trang trí phổ biến khiến cho chất liệu này trở nên
đặc biệt và rõ nét nhất vào thời Nguyễn đã tạo đã nên một dạng chất liệu mới như
một nét khá đặc thù cho mỹ thuật thời kỳ này. Hình thức trang trí này tập trung