Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
--------------
HOÀNG THỊ KIM ANH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
SÔNG THƯƠNG ĐOẠN CHẢY QUA ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG – TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ
: 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIẾM
HÀ NỘI - 2014
Ket-noi.com
mien phi
phi
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
của nhiều cá nhân và cơ quan đơn vị. Nay luận văn đã hoàn thành, tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới:
PGS.TS. Đoàn Văn Điếm người đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều
kiện, giúp đỡ tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Môi trường, Học viện nông nghiệp Việt
Nam đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học.
Các cán bộ, kỹ thuật viên Trung tâm Quan trắc Môi trường– Sở Tài nguyên
Môi trường Bắc Giang đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện
luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình và
bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập.
Bắc Giang, tháng 9 năm 2013
Học viên
Hoàng Thị Kim Anh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
1
1
Tính cấp thiết của đề tài
1
2
Mục tiêu nghiên cứu
2
3
Yêu cầu của đề tài
2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1
Thực trạng môi trường nước mặt trên trái đất
3
1.2.3
Lưu vực sông Nhuệ - Đáy
11
1.2.4
Thực trạng nước mặt các dòng sông tại Bắc Giang
14
1.3
Tổng quan về chất lượng môi trường nước mặt
18
1.3.1
Các loại ô nhiễm môi trường nước mặt
18
1.3.2
Các thông số đặc trưng cho chất lượng môi trường nước mặt
23
Phương pháp nghiên cứu
31
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
2.4.1
Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
31
2.4.2
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
32
Điều kiện kinh tế - xã hội
44
3.1.3
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường
52
3.2
Hiện trạng chất lượng nước sông Thương đoạn chảy qua thành phố
Bắc Giang
55
3.2.1
Kết quả quan trắc chất lượng nước sông
55
3.2.2
Đánh giá chất lượng nước sông theo phương pháp tính chỉ số chất
lượng nước (WQI)
67
xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.
76
3.3.5
Đối với các cơ sở xả nước thải.
76
3.3.6
Giám sát ô nhiễm nguồn nước sông Thương
78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
79
1
Kết luận
79
2
Kiến nghị
Nước mặt
QCCP
Quy chuẩn cho phép
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
TB
Trạm bơm
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TP
Thành phố
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
Trang
1.1
Trữ lượng nước 3 con sông lớn của tỉnh Bắc Giang
15
2.1
Chỉ tiêu quan trắc và phương pháp phân tích
34
2.2
Bảng quy định các giá trị qi , BPi
35
2.3
Các giá trị qi , BPi đối với giá trị DO% bão hòa
36
2.4
Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với thông số pH
Kết quả phân tích các mẫu nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc
Giang trong mùa mưa
3.5
66
Chỉ số chất lượng nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang
trong mùa khô
3.6
73
Chỉ số chất lượng nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang
trong mùa mưa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
74
Page vi
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
TP. Bắc Giang
56
3.4
Biểu đồ độ đục của nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang
57
3.5
Biểu đồ hàm lượng DO của nước sông Thương qua TP. Bắc Giang
58
3.6
Biểu đồ hàm lượng BOD của nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang
59
3.7
Biểu đồ hàm lượng COD của nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang
59
3.8
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với mục tiêu công bằng
và tiến bộ xã hội, phát triển con người và bảo vệ môi trường là nền tảng cơ
bản cho sự phát triển bền vững của một địa phương hay một khu vực. Để đạt
được mục tiêu trên cũng như đảm bảo bền vững về môi trường luôn được
lồng ghép vào nhiều chương trình hoạt động của tỉnh Bắc Giang. Trong nhiều
năm gần đây, khi kinh tế phát triển kéo theo môi trường bị tác động mạnh. Sự
phát triển nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng đem lại lợi ích thiết thực cho
xã hội nhưng đã để lại hậu quả đáng kể cho môi trường. Kết quả là ô nhiễm
môi trường nước, không khí, đất đã ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh
thái, huỷ hoại hệ thực vật, động vật và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con
người. Sông, hồ vừa là nguồn cung cấp nước nhưng đồng thời vừa là nơi tiếp
nhận nước thải từ các hoạt động canh tác nông nghiệp, chăn nuôi, sản xuất
công nghiệp và nước thải đô thị. Đây là nguyên nhân chính làm cho nước
sông, hồ bị ô nhiễm làm ảnh hưởng đến các hoạt động sống của con người và
các loài sinh vật…. Bắc Giang có 3 con sông lớn chảy qua là sông Thương,
sông Cầu, sông Lục Nam cung cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp
và nông nghiệp trong tỉnh nhưng lại đang có nguy cơ ô nhiễm cao do nước
thải trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và
dịch vụ, nước thải sinh hoạt từ các hộ dân sống xung quanh, các chất thải rắn,
rác thải vứt xuống sông, hồ không qua xử lý, ảnh hưởng đến chất lượng
nước,… và ảnh hưởng đến hệ sinh thái vùng đáy. Kết quả dẫn đến là ảnh
hưởng rất lớn đến đời sống sinh hoạt, sản xuất và sức khỏe của người dân.
Để hạn chế những tác động xấu đến môi trường cần phải có những biện
tiêu chuẩn Việt Nam đã được bộ Tài nguyên và Môi trường thông qua.
- Các giải pháp đề xuất nhằm giảm thiểu ô nhiễm nước mặt sông
Thương phải khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố Bắc
Giang.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Thực trạng môi trường nước mặt trên trái đất
1.1.1. Thực trạng môi trường nước mặt trên thế giới
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với
nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước mặt phản ánh trung thực tiến bộ
phát triển khoa học công nghệ. Hiện nay rất nhiều nơi trên thế giới nguồn
nước mặt đã và đang bị ô nhiễm trầm trọng do tác động của nước thải từ các
hoạt động sản xuất đặc biệt là các hoạt động sản xuất công nghiệp. Ta có thể
kể ra đây vài thí dụ tiêu biểu.
Tại Anh : Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống cống lộ
thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi
người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
nghiêm trọng. Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là
do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và
các bệnh liên quan đến nước.Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân
gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm. Thực trạng ô nhiễm nước mặt
trên thế giới ra tăng đã tạo áp lực cho cuộc sống và tương lai phát triển cho xã
hội. Nó ảnh hưởng rất lớn tới đời sống và sức khỏe của người dân và là yêu cầu
cấp bách cần phải giải quyết.
1.1.2. Thực trạng môi trường nước mặt tại Việt Nam
Nguồn nước mặt ở Việt Nam đang phải đối diện với nhiều thách thức,
trong đó đáng quan tâm nhất là tình trạng suy kiệt và ô nhiễm trên diện rộng.
Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, trong đó có 13 hệ thống sông lớn có diện
tích trên 10.000km2, tài nguyên nước mặt của Việt Nam chiếm khoảng 2%
tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới. Theo khuyến cáo của các tổ
chức quốc tế về tài nguyên nước, ngưỡng khai thác được phép giới hạn trong
phạm vi 30% lượng dòng chảy, nhưng trên thực tế hiện nay, hầu hết các tỉnh
Miền Trung và Tây Nguyên đã và đang khai thác trên 50% lượng dòng chảy.
Riêng tỉnh Ninh Thuận đã khai thác tới 80% lượng dòng chảy trên địa bàn ( Sở
Tài nguyên và Môi trường Hà Nam, 2012) .
Việc khai thác nguồn nước quá mức đã làm suy thoái nghiêm trọng về số
lượng và chất lượng tài nguyên nước, trên các lưu vực sông lớn như sông
Hồng, Thái Bình và sông Đồng Nai. Do tác động của biến đổi khí hậu ngày
càng gia tăng, ở Việt Nam mùa mưa và lưu lượng nước có xu hướng diễn biến
thất thường, nên hạn hán hoặc ủng ngập cục bộ xảy ra thường xuyên và trên
diện rộng hơn trước. Rõ rệt nhất là vài năm gần đây, mùa mưa thường kết thúc
sớm và đến muộn hơn gây nên hạn hán tại nhiều vùng trong cả nước. Bên cạnh
đó, tình trạng nhiều khu công nghiệp, nhà máy, khu đô thị xả nước thải chưa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
năm 2008, cả nước có khoảng trên 200 khu công nghiệp. Ngoài ra, còn có
hàng trăm cụm, điểm công nghiệp được Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương quyết định thành lập. Theo báo cáo giám sát của Uỷ
ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, tỉ lệ các khu công
nghiệp có hệ thống xử lí nước thải tập trung ở một số địa phương rất thấp, có
nơi chỉ đạt 15 - 20%, như Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công
nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tập trung nhưng hầu như không
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
vận hành vì để giảm chi phí. Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt
động có trạm xử lí nước thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận
hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lí nước thải. Bình quân
mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải
rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Tại Hội nghị triển khai Đề án bảo vệ
môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai ngày 26/2/2008, các cơ quan
chuyên môn đều có chung đánh giá: nguồn nước thuộc lưu vực sông Sài Gòn
- Đồng Nai hiện đang bị ô nhiễm nặng, không đạt chất lượng mặt nước dùng
làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Theo số liệu khảo sát do Chi cục Bảo vệ môi
trường phối hợp với Công ty Cấp nước Sài Gòn thực hiện năm 2008 cho thấy,
Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công
nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường.
Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề
thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát
triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
và giải quyết việc làm ở các địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do
các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình
trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng
nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox thải ra trong quá trình
sản xuất khá cao. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay
cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống, đang
giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động
thường xuyên và lao động không thường xuyên. Các làng nghề được phân bố
rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển nhất là Đồng
bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Tây Bắc bộ, Đồng bằng sông Cửu Long.
Riêng ở Đồng bằng sông Hồng có 866 làng nghề, chiếm 42,9% cả nước. Hình
thức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng, có thể là gia đình, hợp tác
xã hoặc doanh nghiệp. Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự phát, sử dụng
công nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư
xây dựng hệ thống xử lý nước thải ít được quan tâm, ý thức bảo vệ môi
trường sinh thái của người dân làng nghề còn kém, bên cạnh đó lại thiếu một
cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, chưa có
những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề thủ công gây ô nhiễm môi
trường và cũng chưa kiên quyết loại bỏ những làng nghề gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng, nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề
ngày càng trầm trọng và hiện nay đã ở mức “báo động đỏ”. Hoạt động gây ô
nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp
đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân làng nghề mà còn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
nặng nhất. Theo báo cáo của Chương trình môi trường của Liên hợp quốc, Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu châu á về mức độ ô nhiễm bụi.
1.2. Vấn đề môi trường các lưu vực sông ở Việt Nam
1.2.1. Lưu vực sông Đông Nai
Sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ hai ở phía Nam, và đứng thứ
ba toàn quốc, lưu vực rộng lớn của nó gần như nằm trọn trong địa phận nước
ta, chỉ có một bộ phận nhỏ nằm ở nước ngoài (Campuchia). Đồng Nai là con
sông chính của hệ thống sông Đồng Nai, một số phụ lưu lớn của nó như: Đa
Hoai, La Ngà (ở tả ngạn), sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ (ở hữu ngạn).
Tổng diện tích lưu vực phần trong nước khoảng 37.330 km2, nằm trên địa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
phận các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Lắc, Bình Dương, Bình Phước, Long An, Tây
Ninh, Bình Thuận, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống sông
Đồng Nai phát triển trên cao nguyên Di Linh, Lâm Viên, Bảo Lộc và một
phần của đồng bằng Nam Bộ. Đây là một vùng kinh tế phát triển có nhiều thế
mạnh với loại cây công nghiệp nhiệt đới như: cao su, trà, cà phê, thuốc lá, v.v...
Trong lưu vực nhiều nơi có thể xây dựng thành các trung tâm thủy điện như: Trị
An, Thác Mơ, Đa Mi, Hàm Thuận ...
này phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải (khoảng 300 triệu m3/ năm) từ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Chất lượng nước
của đoạn này đã suy giảm một cách nghiêm trọng. Hầu hết các chỉ tiêu chất
lượng nước đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng nguồn loại A. Nhiều nơi,
nhiều chỉ tiêu không đạt nguồn loại B, nhất là vào những tháng mùa kiệt, khi
nước ở thượng nguồn ít.
Đoạn hạ lưu tính từ ngã ba sông Công gặp sông Cầu đến cửa sông Cầu
gặp sông Thái Bình (đoạn chảy qua hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang). Nước
sông ở đây đã bị ô nhiễm và nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động sản xuất
của các làng nghề hai bên bờ sông. Hàm lượng BOD, COD so với tiêu chuẩn
cho phép đều cao hơn hàng chục lần.
Điều đặc biệt đáng chú ý là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và hàm
lượng coliform ở một số điểm trong đoạn hạ lưu khá cao. Hàm lượng thuốc
bảo vệ thực vật vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Lượng thuốc này còn lưu lại
trong đất, khi mưa nước cuốn trôi đưa vào sông gây ô nhiễm nước.
Hàm lượng coliform của tất cả điểm đều vượt, thậm chí gấp hai ba lần
tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn loại B, đây là điều đáng báo động vì nhân
ô nhiễm BOD không vượt quá tiêu chuẩn nước mặt loại B thì cống Liên Mạc
sẽ phải mở với công suất tối đa 60m3/s.
Sông Nhuệ: Nước sông chịu ảnh hưởng rất lớn bởi nước thải sinh hoạt,
công nghiệp, nông nghiệp của thành phố Hà Nội. Mùa kiệt chất lượng nước
phụ thuộc vào chế độ vận hành cống Liên Mạc, chế độ xả nước đập Thanh
Liệt và chế độ lấy nước tưới của hệ thống thuỷ nông. Nếu cống Liên Mạc mở
to, lưu lượng nước sông Hồng chảy vào lớn thì chất lượng nước ở phía hạ du
đươc cải thiện đáng kể do được pha loãng. Ngược lại, nếu cống Liên Mạc
đóng hoặc mở với khẩu độ nhỏ, phía Thanh Trì vẫn nhận nước thải sông Tô
Lịch xả vào, dưới hạ lưu sẽ bị sự cố về môi trường nước. Về mùa lũ cống
Liên Mạc thường đóng, nước sông Nhuệ chủ yếu là nước thải thành phố,
nước mưa, nước tiêu nông nghiệp, nhưng được bơm thoát nhanh ra sông Đáy.
Theo nghiên cứu “ Khảo sát hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Nhuệ Đáy” của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Ý Như, Trần Ngọc Anh
đăng trên tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội thì: Diễn biến chất lượng
nước dọc sông Nhuệ có thể nhận định sơ bộ như sau:
- Tại cống Liên Mạc: khi cống mở, nước không bị ô nhiễm hoặc ô nhiễm
nhẹ, chất lượng nước giống như nước sông Hồng, khi cống đóng mức độ ô
nhiễm cao hơn nhưng không đáng kể do nước chảy chậm, giảm sự khuyếch tán
của ôxy trong nước.
- Tại Cầu Diễn, cầu Hà Đông nhận nước tiêu nông nghiệp của huyện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
Oai. Mùa kiệt, nước sông bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ như COD =18-27
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
mg/l, vượt quá giới hạn cho phép nuớc mặt loại A từ 1.8-2.7 lần, BOD=9-15
mg/l, vượt quá giới hạn cho phép nuớc mặt loại A từ 2.2-4.0 lần, hàm lượng
DO thấp khoảng 5.5 mg/l, không đạt tiêu chuẩn nước mặt loại A.
- Tại cầu Tế Tiêu - Mỹ Đức: Nguồn nước sông tại đây do nước từ
thượng nguồn sông Tích đổ về, chảy qua Vân Đình đến Mỹ Đức. Qua quá
trình lắng đọng và tự làm sạch nên chất lượng nước được cải thiện chút ít, tuy
nhiên hàm lượng DO vẫn còn thấp < 5.0 mg/l, không đạt tiêu chuẩn nước mặt
loại A.
Theo dự đoán, lượng chất ô nhiễm đổ vào sông sẽ tiếp tục tăng cao. Nói
chung về chất, nước sông Nhuệ - sông Đáy đang bị ô nhiễm nghiêm trọng,
ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế, xã hội và môi trường sống trong khu vực
mà hai con sông này đi qua. Mặt khác, sông Nhuệ và sông Đáy lại có tầm ảnh
hưởng rất quan trọng đối với các tỉnh phía Bắc nằm trong lưu vực, đặc biệt
các tỉnh ở dưới hạ lưu nên vấn đề ô nhiễm ở hai con sông này là vấn đề gây
bức xúc trong dư luận và đặt trước các nhà quản lý môi trường, tài nguyên
này có đến 6 khúc sông nên gọi Lục Đầu Giang.
Ngoài sông suối, Bắc Giang còn có nhiều hồ, đầm, trong đó có hồ Cấm
Sơn và hồ Khuôn Thần. Hồ Cấm Sơn nằm ở khu vực giáp tỉnh Lạng Sơn, diện
tích mặt nước 2.600 ha, vào mùa mưa có thể lên tới 3.000 ha. Hồ Khuôn Thần
có diện tích mặt nước 240 ha và lòng hồ có 5 đồi đảo được phủ kín bởi rừng
thông 20 tuổi. Tỉnh đã quy hoạch được hệ thống các hồ chứa nước phân bổ
tương đối đồng đều, gồm 22 hồ do Công ty khai thác công trình thuỷ lợi thuộc
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý. Trữ lượng nước 3 con sông
lớn của tỉnh Bắc Giang được thể hiện trong bảng 1.1.
Bảng 1.1. Trữ lượng nước 3 con sông lớn của tỉnh Bắc Giang
TT
Tên sông
Diện tích (km2)
Tổng lượng nước
(tỷ m3/ năm)
1
Sông Thương
3.650
1,46
2
Sông Lục Nam
Ket-noi.com
Ket-noi.com Kho
Kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
thì lợi ích từ những con sông mang lại sẽ không còn, gây thiệt hại khôn lường
về kinh tế, môi trường và xã hội.
Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có ba sông lớn chảy qua là sông Thương,
sông Cầu và sông Lục Nam với tổng chiều dài 347 km. Tổng lượng nước
mặt ước đạt hơn 7,46 tỷ m3/năm. Đây là nguồn nước lớn phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt…
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ tại hơn 1.500 cơ sở có xả thải nước
trên toàn tỉnh bao gồm doanh nghiệp, đơn vị sản xuất công nghiệp, kinh
doanh dịch vụ, cơ sở y tế, nuôi trồng thủy sản và hộ gia đình, tổng lượng nước
thải hiện nay khoảng 223,4 nghìn m3/ngày (ước 81,4 triệu m3/năm). Hầu hết
lượng nước này chưa qua xử lý hoặc xử lý bằng những phương pháp, máy
móc thô sơ, công nghệ lạc hậu. Lượng nước thải khổng lồ này đều bị đổ thẳng
ra môi trường, ao hồ, hệ thống sông suối... Từ nhiều năm nay, dòng sông Cầu
bị "tấn công" bởi nước thải công nghiệp và làng nghề. Tại địa phận xã Vân Hà
(Việt Yên), nước sông ngầu đục, hàng loạt cống thải đen ngòm hằng ngày đổ
thẳng xuống sông. Khu vực chợ Thổ Hà, nhiều đống rác sinh hoạt, rác từ sản
xuất bánh đa, nấu rượu chất chình ình lưu cữu lâu ngày thành đống lớn tràn
lấn ven bờ sông với mùi hôi tanh nồng nặc (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Bắc Giang, 2011)
Hiện nay toàn xã Vân Hà có 700 hộ nấu rượu và làm bánh đa nem,
TNHH một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc, nước thải của công ty
cổ phần XNK Phân bón Bắc Giang và nước thải của khu dân cư xung quanh
thải vào. Đoạn sông Thương chảy qua phường Mỹ Độ - TP. Bắc Giang ô
nhiễm do nước thải của các hộ dân xung quanh và nước thải làng nghề Bún xã
Đa Mai và do tiếp nhận nước từ ngòi Cầu Sim chảy về. Đoạn chảy qua xã Trí
Yên, xã Tân Liễu, xã Đồng Phúc - huyện Yên Dũng nguyên nhân ô nhiễm do
toàn bộ nước thải sinh hoạt của thành phố Bắc Giang và khu công nghiệp
Song Khê - Nội Hoàng thải vào, đồng thời nước sông Thương ô nhiễm do
toàn bộ nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình và cơ sở sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố Bắc Giang. Về phía sông
Thương qua các huyện Tân Yên, Yên Thế do các khu vực này chưa chịu tác
động nhiều của hoạt động công nghiệp nên hàm lượng các chất ô nhiễm vẫn
nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Bắc Giang, 2011).
Tại một số đoạn trên sông Lục Nam, nước cũng đục vàng bởi hoạt động
khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp. Nhìn chung, qua kết quả quan
trắc định kỳ các năm của trung tâm quan trắc môi trường Bắc Giang cho thấy
chất lượng nước mặt sông Lục Nam bị ô nhiễm hữu cơ mang tính cục bộ, chủ
yếu là đoạn chảy qua huyện Lục Nam và xã Yên Định – Sơn Động và một số
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17