HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
MẶT SÔNG SÀI GÒN ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU
NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM VÀ
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
Khoa: MÔI TRƯỜNG & CNSH
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : Đặng Viết Hùng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Như Thy
MSSV: 09B1080169 Lớp: 09HMT03
TP. Hồ Chí Minh, 2011
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 1 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1Đặt vấn đề
Nước là tài nguyên đặc biệt, là thành phần thiết yếu của sự sống, là một trong
những yếu tố cơ bản nhất bảo đảm sự tồn tài và phát triển của con người và các loài
sinh vật sống trên trái đất. Nước ngọt là yếu tố không thể thiếu trong phát triển kinh
tế, xã hội của mọi quốc gia. Theo đà phát triển của nhận loại, nhu cầu nước ngọt
cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp ngày càng tăng. Khan hiếm nước
đang càng gia tăng, mâu thuẫn về nước ngày càng căng thẳng. Thế giới đang đặt ra
mục tiêu trong thiên niên kỹ mới là tăng tỷ lệ cấp nước sạch cho người dân. Chủ đề
“Đối phó với khan hiếm nước” của ngày nước thế giới năm 2007 cảnh tỉnh nhân
loại về nguy cơ khan hiếm nước và nhấn mạnh việc phối hợp, hợp tác nhằm quản
lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng bền vững, hiệu quả và công bằng nguồn nước.
sông Sài Gòn, thông số cơ bản đặc trưng môi trường nước.
- Phương pháp khảo sát thực địa: khảo sát thực địa tại vị trí lấy mẫu, lấy mẫu
nước.
- Phương pháp phân tích đánh giá: Phân tích, đánh giá chất lượng nước dựa
trên số liệu thu thập.
- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Sử dụng trong phân tích, xử lý số
liệu trên phần mềm Excel 2003 và được biểu diễn trên bảng và biểu đồ.
Hình 1.1 Sơ đồ các bước thực hiện nghiên cứu khảo sát hiện trạng nước mặt
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 3 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU
CHỌN ĐIỂM
LẤY MẪU
CHỌN THÔNG SỐ MÔI TRƯỜNG THỜI GIAN
LẤY MẪU PHÂN
TÍCH
GHI CHÉP SỐ LIỆU
XỬ LÝ SỐ LIỆU
TRÌNH BÀY SỐ LIỆU
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
1.5Giới hạn của đề tài
Do hạn chế về thời gian, kinh phí thực hiện nên sinh viên không thể tiến hành
khảo sát toàn bộ lưu vực sông Sài Gòn. Do đó, đề tài chỉ lựa chọn nghiên cứu, đánh
giá tình trạng chất lượng nước mặt hiện tại ở một số điểm dọc tuyến khảo sát của đề
tài.
Đề tài chỉ lựa chọn một số chỉ tiêu quan trọng mang tính đại diện.
Đưa ra một số biện pháp giảm thiểu, khắc phục và quản lý chất lượng nước mặt
cho sông Sài Gòn.
Ranh giới của lưu vực:
- Phía Bắc giáp Campuchia.
- Phía Nam giáp lưu vực sông Nhà Bè.
- Phía Tây giáp lưu vực sông Vàm Cỏ Đông.
- Phía Đông giáp lưu vực sông Bé và lưu vực sông Đồng Nai.
Hình 2.1. Lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai (nguồn Cục Bảo vệ Môi trường)
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 5 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
2.1.2. Địa hình
Vùng có địa hình thấp dần từ Đông Bắc đến Tây Nam. Vùng thấp nhất thuộc
khu vực cửa sông (huyện Cần Giờ - TP.HCM), tại đây độ cao trung bình chỉ từ 0,5
– 2 m trên mực nước biển.
Toàn vùng có hai dạng địa hình chính:
- Địa hình trung du: bao gồm phần lớn phía Bắc và Đông Bắc tỉnh Bình
Dương và tỉnh Tây Ninh. Cao độ trung bình từ vài chục mét đến gần một trăm mét
so với mực nước biển.
- Địa hình đồng bằng: phân bố chủ yếu ở hạ lưu lưu vực sông Sài Gòn, trong
đó có toàn bộ TP HCM. Có địa hình bằng phẳng với cao trình phổ biến từ 1 – 3 m,
những khu vực có đồi gò có độ cao 30 – 90 m.
Do ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều với biên độ dao động lớn (3,0 –
3,5m).Toàn bộ sông rạch ở TP HCM bị ảnh hưởng nặng vào mùa kiệt. Vào mùa
mưa lũ kết hợp với triều cường phần lớn diện tích khu vực phía Tây TP HCM bị
ngập úng.
2.1.3. Thổ nhưỡng
Theo nghiên cứu của Viện Quy hoạch Nông nghiệp miền Nam, trong vùng có
các loại đất chính sau:
- Đất xám: chiếm quy mô khá lớn trong lưu vực, loại đất này phổ biến ở tỉnh
Bình Dương và Tây Bắc TP HCM, thích hợp cho các cây công nghiệp (điều, mì,
C và nhiệt độ thấp nhất được ghi nhận vào tháng 1/1937 là
13,8
0
C.
Trong lưu vực sơng Sài Gòn có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khơ. Nhìn
chung, mùa mưa kèo dài từ hạ tuần tháng 4 – thượng tuần tháng 5 đến thượng tuần
– trung tuần tháng 11.
Bảng 2.1 Các điều kiện khí hậu ở TP.HCM (trạm khí tượng thủy văn Tân Sơn
Nhất)
Thông số 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Trung
bình
tổng
Nhiệt độ
Nhiệt độ trung
bình tháng
(
0
C)
26,2 26,8 28,1 30,0 29,1 27,8 27,4 27,3 27,
1
27 26,5 25,4 27,4
Độ ẩm trung
bình (%)
70,5 69,8 70,3 71,8 76,3 81,8 82,7 83,2 84,
3
83,7 80,1 74,3 77,4
Độ bốc hơi
(mm)
136,
6
gian và thời gian: mưa nhiều thì dòng chảy mạnh, mưa ít thì dòng chảy yếu, thủy
triều mạnh (triều cường) thì dòng chảy mạnh hơn, xâm nhập sâu vào đất liền, có
biên độ lớn hơn, khi triều kém thì ngược lại.
Khí hậu lưu vực có hai mùa chính (mùa mưa và mùa khơ) nên chế độ dòng
chảy ở lưu vực sơng Sài Gòn cũng hình thành hai chế độ tương ứng: chế độ dòng
chảy mùa mưa và chế độ dòng chảy mùa kiệt. Sự biến đổi dòng chảy của hai mùa
rất tương phản nhau:
- Chế độ thủy văn theo mùa mưa: Modun dòng chảy trung bình trên tồn lưu
vực sơng Sài Gòn khoảng 25 l/s/km
2
, tương ứng với lớp dòng chảy 800 mm trên
tổng lớp nước mưa trung bình 2100 mm, đạt hệ số dòng chảy 0,83 thuộc vào dòng
chảy trung bình ở nước ta. Do sự phân bố lượng mưa khơng đều ở các vùng nên sự
phân bố dòng chảy cũng khơng giống nhau theo các vùng. Hạ lưu sơng Sài Gò có
modun dòng chảy khoảng 15 – 20 l/s/km
2
, đây là vùng có hiệu suất dòng chảy thấp
nhất (từ 23 – 33% lượng mưa trong lưu vực). Thượng lưu sơng Sài Gòn có modun
dòng chảy từ 18 – 28 l/s/km
2
. Trên lưu vực sơng Sài Gòn mùa lũ kéo dài 5 tháng,
thường bắt đầu vào tháng 6 hay tháng 7, nghĩa là xuất hiện sau mùa mưa từ 1 – 2
tháng và kết thúc vào tháng 9, tùy theo vị trí từng vùng.
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 8 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
- Chế độ thủy văn mùa khô: trong mùa khô, lượng mưa rất ít nên dòng chảy
mùa khô rất nhỏ. Lưu vực sông Sài Gòn là nơi có dòng chảy kiệt dồi dào modun
dòng chảy từ 5 -8 l/s/km
Lặng
7.3 5.8 2.6 3.3 7.2 9.3 8.1 8.0 10.8 11.8 8.6 7.1 7.5
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 9 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
Thành phố Hồ Chí Minh
N
19.9 11.2 6.2 4.5 6.2 4.3 3.4 3.5 5.0 13.9 25.2 27.0 10.8
NE
13.3 10.4 7.2 6.4 9.3 5.3 4.4 4.2 5.8 13.5 16.5 15.6 9.3
E
15.7 20.0 18.9 16.9 14.0 5.6 4.3 4.2 6.3 9.8 10.6 10.7 11.4
SE
17.7 28.7 36.8 35.3 14.9 4.1 2.6 2.9 4.3 8.4 7.8 9.8 14.4
S
12.0 15.9 21.7 24.3 17.7 11 10.6 7.6 8.8 9.0 6.7 8.6 12.8
SW
2.1 1.4 2.4 5.0 14.1 28.8 32.0 32.8 25.1 8.8 4.5 3.5 13.5
W
4.1 2.3 1.9 2.4 11.7 26.2 28.6 32.6 26.9 14.3 7.6 5.8 13.8
NW
7.9 4.3 2.3 1.9 4.9 5.4 6.0 4.3 7.0 10.5 12.5 11.9 6.5
2.1.7. Tài nguyên sinh học
Lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai nằm trên 10 tỉnh Đak Lak, Lâm Đồng,
Bình Phước, Đồng Nai, Bình Thuận, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Bà Rịa –
Vũng Tàu, TP.HCM.
Hệ thực vật rừng ở lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai là một trong những hệ
thực vật đặc sắc của vùng Đông Nam Á, các hệ sinh thái rừng thích nghi cao với
điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa có một mùa khô kéo dài trong năm. Do sự đa
độ đô thị hóa nhanh hơn các tỉnh khác trong khu vực.
Riêng lưu vực sông Sài Gòn chảy qua 3 tỉnh, thành phố: TP.HCM, Bình
Dương, Tây Ninh.
Dân số và mức độ đô thị hóa
Mặc dầu diện tích không lớn nhưng dân số trên lưu vực sông Sài Gòn tương
đối lớn.
Bảng 2.3 Diện tích, dân số, mật độ dân số các tỉnh, thành phố trong khu vực
nghiên cứu
Tỉnh/TP Dân số trung bình
(nghìn người)
Diện tích (km
2
) Mật độ dân số
(Người/km
2
)
Tây Ninh 1075,3 4049.3 266
Bình Dương 1619,9 2695.2 601
TP. Hồ Chí Minh 7396,5 2095.5 3530
Nguồn: Niên giám Thống kê Việt Nam 2010
Tỉ lệ gia tăng dân số của các tỉnh mà sông Sài Gòn chảy qua là khá cao, trong
đó cao nhất là TP. HCM với tỉ lệ tăng dân số hiện nay khoảng 3.5%/năm. Tỉ lệ tăng
dân số cơ học ở đây là 2.5%/năm (theo số liệu mới công bố của Tổng cục thống kê
tháng 6/2010). Điều này ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu dùng nước tại TP.HCM,
cũng như lượng nước thải sinh hoạt của các khu dân cư trong thành phố
Hiện trạng công nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 11 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
Trong những năm gần dây do tác động của quá trình đô thị hóa và sự thay đổi
cơ cấu cây trồng vật nuôi cho phù hợp với tập quán sản xuất, khả năng đầu tư của
từng vùng, từng địa phương làm cho tình hình sản xuất nông – lâm nghiệp có những
chuyển biến tích cực.
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 12 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần
ý trọng ngành chăn nguôi và giảm tỷ trọng ngành trồng trọt. Hiện tại, ngành nông
nghiệp đang chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa để đáp ứng cho các thị
trường trong vùng cũng như các vùng lân cận. Việc chuyển đổi các loại cây trồng
truyền thống như lúa, khoai mì, cây ngắn ngày sang trồng các loại cây ăn trái, cao
su, cà phê, mía đang được thực hiện rộng rãi tại nhiều vùng trong khu vực, đặc
biệt là tại Đồng Nai, Bình Dương.
Hiện trạng hạ tầng cơ sở
Giao thông đường bộ: vùng có mật độ đường giao thông cao, bình quân 15,8
km/km
2
và 0.6 km/1000 dân (năm 2001). Hệ thống giao thông cấp quốc gia đã và
đang được cải tạo, nâng cấp. Trong vùng có các tuyến đường chính là: Quốc lộ 1
(Hà Nội – Cà Mau, qua TP.HCM); Quốc lộ 13 (TP.HCM – Tây Ninh); Xa lộ Bình
Dương (TP.HCM – Thủ Dầu Một); Quốc lộ 14 (Bình Dương – Bình Phước – Đak
Lak); Xa lộ Hà Nội (TP.HCM – Biên Hòa). Mặc dù tỷ lệ sớ km đường giao
thông/diện tích ở vùng cao nhất so với các vùng trong cả nước nhưng cơ sở hạ tầng
giao thông đường bộ trong vùng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội.
Giao thông đường thủy: hệ thống cảng biển, cảng sông lớn nhất cả nước. Với
mạng lưới kênh rạch dày đặc, hệ thống giao thông đường sông từ TP.HCM đi các
tỉnh đồng bằng sông Cửu Long rất thuận lợi.
Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở các nước đang phát triển như sốt rét, sốt
xuất huyết, tả, thương hàn… hay các bệnh của những quốc gia công nghiệp phát
triển như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp… đều xuất
hiện ở thành phố Hồ Chí Minh. Tuổi thọ trung bình của nam giới ở thành phố là
71,19, nữ giới là 75,00. Vào năm 2005, thành phố Hồ Chí Minh có 21.780 nhân
viên y tế, trong đó có 3.399 bác sĩ. Tỷ lệ bác sĩ đạt 5.45 trên 10 nghìn dân, giảm so
với con số 7.31 của năm 2002. Toàn thành phố có 19.442 giường bệnh, 56 bệnh
viện, 317 trạm y tế và 5 nhà hộ sinh.
Toàn vùng, việc phòng chống dịch bệnh luôn được thực hiện tốt, không để xảy
ra các dịch bệnh lớn. Tỷ lệ người dân mắc bệnh sốt rét, bướu cổ… ngày càng giảm.
Tỷ lệ trẻ em được uống 6 loại vacxin cơ bản là 100%. Công tác tiêm chủng mở rộng
cũng được thực hiện rộng khắp, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh.
Du lịch
Vùng có nhiều điều kiện phát triển ngành du lịch. Loại hình du lịch chính là du
lịch sinh thái và du lịch đô thị, doanh thu du lịch ước cả năm đạt 15.032 tỷ đồng, tăng
32,3% so với cùng kỳ 2009. Là một thành phố trẻ chỉ với 300 năm lịch sử, nhưng
thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng được không ít công trình kiến trúc và sở hữu
một nền văn hóa đa dạng. Các địa điểm du lịch của thành phố tương đối đa dạng.
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 14 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
Với hệ thống 11 viện bảo tàng, chủ yếu về đề tài lịch sử, thành phố Hồ Chí
Minh đứng đầu Việt Nam về số lượng bảo tàng. Bảo tàng lớn nhất và cổ nhất thành
phố là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam với 30 nghìn hiện vật. Trên địa phận thành phố
hiện nay có hơn một nghìn ngôi chùa, đình, miếu được xây dựng qua nhiều thời kỳ.
Nhà thờ lớn và nổi tiếng nhất của thành phố là nhà thờ Đức Bà, nằm ở Quận 1
hoàn thành năm 1880. Thời kỳ thuộc địa đã để lại cho thành phố nhiều công trình
kiến trúc quan trọng, như Trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố, Nhà hát lớn, Bưu
điện trung tâm, Bến Nhà Rồng, Dinh Độc lập và Thư viên Khoa học Tổng hợp được
tiêu chuẩn cho phép TCVN 5942 – 1995, loại A (6 mg/l) từ khoảng năm 2000. Đến
giai đoạn 2005 – 2007, nồng độ DO ở hai trạm này luôn nhỏ hơn tiêu chuẩn cho
phép từ 2 – 3 lần chứng tỏ chất lượng nước nguồn nước đã bị suy giảm nghiêm
trọng làm ảnh hưởng đến chất lượng đầu vào nguồn nước cấp thành phố.
Nồng độ coliform ở 2 trạm này có diễn biến phức tạp trong 10 năm qua. Nồng
độ coliform tăng đột biến từ 1998 – 2004. Vào năm 2004, hàm lượng coliform vượt
TCVN 5942 – 1995. Loại A (5000 MPN/100ml) từ 12 – 14 lần. Sau đó lại có xu
hướng giảm đáng kể đến năm 2006. Tuy nhiên, đến năm 2007, coliform lại tăng lên,
đặc biệt là trạm Phú Cường mức vượt tiêu chuẩn cho phép tăng từ 2 lần lên khoảng
12 lần chỉ sau 1 năm.
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 16 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
Bảng 2.4 : DIỄN BIẾN NỒNG ĐỘ CÁC THÔNG SỐ QUAN TRẮC TRÊN
LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN – NĂM 2007
Đợt
Thông
số
pH
Nhiệt
độ
Độ
đục
TDS EC
BO
D
5
CO
D
Min 6,7 28,7 5,6 24,3 22,0 1,2 2,3 2,5 5,0 0,017 0,137 0,002 0,008 11,9 0,216 0,235 0,154 0,110 230
Trung
Bình
7,3 29,6 162,3 1292,1 1154,4 11,0 31,2 4,8 78,0 1,5 0,4 0,0 0,5 620,2 0,8 3,3 0,2 0,4 230115,0
Đợt
3
Max 7,1 32,7 192,0 733,0 659,0 30,1 72,7 7,0 224,0 3,140 1,184 0,050 1,393 281,8 3,779 4,000 0,879 0,190 1100000
Min 5,8 29,6 23,0 30,1 27,0 1,1 2,6 0,8 12,5 0,609 0,040 0,001 0,168 4,8 0,109 0,100 0,879 0,103 230
Trung
Bình
6,4 31,2 107,5 381,6 343,0 15,6 37,6 3,9 118,3 1,9 0,6 0,0 0,8 143,3 1,9 2,1 0,9 0,1 550115,0
Đợt
4
Max 7,3 28,6 142,0 2615,0 2600,0 28,4 98,0 6,5 225,0 5,519 1,368 0,374 0,870 1235,5 1,264 8,164 0,517 0,000 1100000
Min 5,9 27,0 4,6 31,0 24,0 1,8 4,0 0,5 2,5 0,105 0,107 0,001 0,010 5,1 0,101 0,101 0,517 0,000 300
Trung
Bình
6,6 27,8 73,3 1323,0 1312,0 15,1 51,0 3,5 113,8 2,8 0,7 0,2 0,4 620,3 0,7 4,1 0,5 0,0 550150,0
Năm
Max 8,0 32,7 319,0 2615,0 3030,0 60,1 98,0 7,0 225,0 5,5 1,4 0,4 1,4 1361,0 3,8
1100000,
0
Min 5,8 27,0 2,1 24,3 22,0 1,1 2,3 0,5 2,5 0,0 0,0 0,0 0,0 3,7 0,1 9,0
Trung
Bình
6,9 29,9 160,6 1319,6 1526,0 30,6 50,2 3,7 113,8 2,8 0,7 0,2 0,7 682,4 1,9 550004,5
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 17 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
thủy văn phục vụ kiểm soát, giám sát môi trường tại các trạm trên sông Sài Gòn
(Phú Cường, Bình Phước, Phú An). Tần suất giám sát: mỗi tháng một lần.
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 18 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
Chi cục Bảo vệ môi trường và Phân viện Qui hoạch Khảo sát thủy lợi Nam Bộ
chịu trách nhiệm quan trắc chất lượng nước mặt tại các trạm: Phú Cường, Bình
Phước, Phú An, Nhà Bè. Tiến hành lấy mẫu thường kỳ vào các ngày 1, 8, 15, 22
hàng tháng và được lấy vào 2 thời điểm trong ngày với lúc triều cao nhất và triều
thấp nhất.
Từ năm 2001, hệ thống quan trắc chất lượng môi trường của Thành phố Hồ
Chí Minh được bổ sung thêm 10 trạm quan trắc chất lượng nước các kênh rạch
chính trong nội thành.
2.1.10.2. Những hạn chế và khó khăn của công tác Quản lý
Cơ chế pháp lý chưa đầy đủ, rõ rang nên còn nhiều mâu thuẫn, chống lấp trách
nhiệm giữa các ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Khoa học Công nghệ
và Môi trường, Tài nguyên và Môi trường.
Sự phối hợp giữa quản lý ngành (Sở) với quản lý địa phương (UBND các cấp)
chưa đồng bộ, chỉ mang tính thời điểm cho từng sự việc, từng nhiệm vụ cụ thể.
Chưa có quy định và tiêu chuẩn phù hợp để bảo vệ và sử dụng nguồn nước.
Một số nghiên cứu đã đề cập đến việc xây dựng tiêu chuẩn cho từng đoạn sông
nhưng chưa được pháp lý hóa để triển khai áp dụng.
Các tỉnh thành trong lưu vực chưa nhất quán trong mục đích khai thác, sử
dụng tài nguyên nước và các qui định về mặt quản lý, bảo vệ môi trường nước.
Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước và bảo vệ môi trường tại địa
phương còn thiếu. Kinh phí, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đáp ứng với
yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
2.2. Tổng quan về sông Sài Gòn đoạn từ rạch Cầu Ngang đến khu đô
thị Thủ Thiêm
hoạch, tăng 29% so cùng kỳ.
- Tổng chi thực hiện 248 tỷ đồng, đạt 114% dự toán Thành phố giao.
- Tổng khối lượng đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện 209 tỷ đồng, đạt
113% kế hoạch và tăng 58% so cùng kỳ. Trong đó, dự án vốn ngân sách
Thành phố thực hiện 135 tỷ đồng, đạt 116% kế hoạch, tăng 84% so cùng kỳ;
dự án vốn ngân sách quận thực hiện 73 tỷ đồng, đạt 107% kế hoạch.
- Hoàn thành và đưa vào sử dụng 6 công trình như: trạm y tế phường
Mỹ Lợi, trường THPT An Phú và THPT Bình Trưng Tây… Nét mới trong
năm 2009 là một số dự án thực hiện theo phương châm Nhà nước và nhân dân
cùng làm đã có sự chuyển biến tích cực, có dự án người dân thuận chủ trương
hiến đất, có dự án người dân đóng góp kinh phí để thực hiện nên tiến độ
nhanh hơn trước.
- Trong công tác an ninh xã hội, quận đã lắp đặt 2.265 đồng hồ nước
sinh hoạt cho dân, chăm lo cho các gia đình chính sách, thương binh, hộ
nghèo… Tính đến nay, tổng số hộ nghèo toàn quận có mức thu nhập dưới
hoặc bằng 12 triệu đồng/người/năm còn 2.839 hộ, chiếm tỷ lệ 7,68% tổng số
hộ dân toàn quận, tỷ lệ giải quyết việc làm đạt khá cao. Công tác an ninh, trật
tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững.
2.2.2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội quận Thủ Đức
Quận Thủ Đức là một quận cửa ngõ phía Đông Bắc TPHCM. Diện tích
là 47,46 km
2
, dân số đến 01/04/2009 là 442.110 người, mật độ là 9.249
người/km
2
.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 20,1%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo hướng nâng tỷ trọng dịch vụ cao cấp, giảm dần các ngành công nghiệp
thâm dụng lao động.
Tổng kim ngạch xuất khẩu (không tính dầu thô) tăng 3,8% (chỉ tiêu
hướng giảm dần, ngược lại tốc độ tăng cơ học có xu hướng ngày càng tăng
cao. Số người trong độ tuổi lao động hiện chiếm 70% dân số của quận.
Ngành giáo dục: hoàn thành công tác chống mù chữ, phổ cập giáo dục
các bậc học, tỷ lệ hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100% và tốt nghiệp
trung học cơ sở đạt 98,9%. Công tác đào tạo nghề đạt kết quả khả quan hơn
so với năm trước, ước thực hiện năm 2010 chiêu sinh đạt 102,4% so với kế
hoạch, tăng 8% so cùng kỳ, số học viên tốt nghiệp 6.423 học viên, đạt 94,3%
so với kế hoạch, giảm 12,3% so với cùng kỳ.
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 22 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG SÀI GÒN
ĐOẠN TỪ RẠCH CẦU NGANG ĐẾN KHU ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
Trên địa bàn quận Bình Thạnh có 4 bệnh viện, 20 trạm y tế phường và
gần 300 phòng khám bệnh tư nhân.
Giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: theo giá cố định
năm 1994 ước thực hiện 1.936,701 tỷ đồng, so với cùng ký tăng 11,67%.
Trong đó, khu vực ngoài nhà nước thực hiện 294,563 tỷ đồng, so với cùng kỳ
tăng 3,97%. Theo giá trị thực tế ước thực hiện 3.918,493 tỷ đồng, so với cùng
ký tăng 16,28%.
Doanh thu thương mại dịch vụ: ước thực hiện 38.501,388 tỷ đồng, so
với cùng kỳ tăng 33,2%. Trong đó, khu vực nhà nước 511,991 tỷ đồng, so với
cùng kỳ tăng 7,6%, khu vực ngoài nhà nước 37.853,826 tỷ đồng, so với cùng
kỳ tăng 32,22%.
2.2.3. Hiện trạng quản lý chất lượng nước trên địa bàn TP.HCM
2.2.3.1. Suy thoái chất lượng nguồn nước ở TP.Hồ Chí Minh
Ô nhiễm nguồn nước trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh hiện nay được đánh
giá là nghiêm trọng nhất. Các dòng kênh trong nội thành bị ô nhiễm đã đành,
các dòng sông lớn cung cấp nước sinh hoạt cho hàng chục triệu con người
cũng không thoát khỏi số phận tương tự.
Trong khu vực nội thành, những dòng kênh như Nhiêu Lộc – Thị
3
/ngày. Trong đó các ngành độc hải như sản xuất giấy
thải ra 7.700m
3
; dệt nhuộm 4.200m
3
và chế biến mủ cao su 9.600m
3
/ngày.
Riêng đối với hoạt động chăn nuôi mỗi ngày thải ra hơn 24.500m
3
nước
thải…
Còn đối với TP.Hồ Chí Minh, số liệu về khối lượng nước thải công
nghệ thải vào lưu vực sông Sài Gòn không được công bố nhưng con số thực
tế có thể là 250.000m
3
/ngày đêm. Còn theo số liệu của Bộ Tài nguyên Môi
trường trong lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có gần 500 làng nghề, 9000 cơ
sở sản xuất, 1.633 cơ sở y tế… xả nước thải vào lưu vực, trong đó hầu hết là
nước thải chưa qua xử lý.
2.2.3.2. Nguyên nhân ô nhiễm nước trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh
Nguyên nhân chính được cho là do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh
chóng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố cao trong khi trình độ quản
lý còn thấp chưa tương xứng với nhu cầu thực tiễn, đã vượt quá khả năng của
chính phủ trong việc quản lý bền vững tài nguyên nước. Do đó, thách thức lớn
trong tương lai ở các thành phố của các quốc gia đang phát triển bao gồm sự
cạn kiệt nguồn nước, cũng như suy giảm chất lượng nguồn nước do quy
hoạch không hợp lý, việc thực thi các công cụ trong công tác quản lý không
đầy đủ và thiếu sự đồng thuận giữa các cấp tham gia. Quan trọng hơn, các nhà
mạnh.
+ Lập quy hoạch khai thác và sử dụng, khoanh vùng bảo vệ nguồn
nước mặt.
- Các thể chế pháp luật, hệ thống pháp lý ngày càng hoàn thiện phù
hợp với yêu cầu quản lý chất lượng nước trên địa bàn thành phố. Trở thành
công cụ hữu hiệu giúp cho công tác kiểm tra, giám sát và sử phạt các hành vi
vi phạm được nhanh chóng, thuận tiện và chính xác.
- Hàng năm thành phố còn phải bỏ ra nhiều tỷ đồng cho công việc
nạo vét kênh rạch, tiêu thoát nước, cải thiện chất lượng chất nước.
SVTH: Nguyễn Thị Như Thy 25 GVHD: TS. Đặng Viết Hùng
MSSV: 09B1080169