BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HOÀNG THỊ KIM ANH ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT
SÔNG THƯƠNG ĐOẠN CHẢY QUA ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG – TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ : 60.44.03.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIẾM
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
của nhiều cá nhân và cơ quan đơn vị. Nay luận văn đã hoàn thành, tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới:
PGS.TS. Đoàn Văn Điếm người đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều
kiện, giúp đỡ tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Môi trường, Học viện nông nghiệp Việt
Nam đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học.
Các cán bộ, kỹ thuật viên Trung tâm Quan trắc Môi trường– Sở Tài nguyên
Môi trường Bắc Giang đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện
luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình và
bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập.
Bắc Giang, tháng 9 năm 2013
Học viên
Hoàng Thị Kim Anh
1.1 Thực trạng môi trường nước mặt trên trái đất 3
1.1.1 Thực trạng môi trường nước mặt trên thế giới 3
1.1.2 Thực trạng môi trường nước mặt tại Việt Nam 4
1.2 Vấn đề môi trường các lưu vực sông ở Việt Nam 8
1.2.1 Lưu vực sông Đông Nai 8
1.2.2 Lưu vực Sông Cầu 10
1.2.3 Lưu vực sông Nhuệ - Đáy 11
1.2.4 Thực trạng nước mặt các dòng sông tại Bắc Giang 14
1.3 Tổng quan về chất lượng môi trường nước mặt 18
1.3.1 Các loại ô nhiễm môi trường nước mặt 18
1.3.2 Các thông số đặc trưng cho chất lượng môi trường nước mặt 23
1.3.3 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước 26
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Phạm vi nghiên cứu 31
2.3 Nội dung nghiên cứu 31
2.4 Phương pháp nghiên cứu 31
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 31
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 32
2.4.3 Phương pháp tổng hợp và so sánh 34
2.4.4 Phương pháp đánh giá chất lượng sử dụng chỉ số WQI 34
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Bắc Giang 39
3.1.1 Điều kiện tự nhiên lưu vực sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang 39
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 44
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 52
3.2 Hiện trạng chất lượng nước sông Thương đoạn chảy qua thành phố
TB Trạm bơm
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TP Thành phố
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
TPBG Thành phố Bắc Giang
TSS Chất rắn lơ lửng
WQI Chỉ số chất lượng nước mặt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 Trữ lượng nước 3 con sông lớn của tỉnh Bắc Giang 15
2.1 Chỉ tiêu quan trắc và phương pháp phân tích 34
2.2 Bảng quy định các giá trị q
i ,
BP
i
35
2.3 Các giá trị q
i ,
BP
i
đối
với giá trị DO% bão hòa 36
3.5 Biểu đồ hàm lượng DO của nước sông Thương qua TP. Bắc Giang 58
3.6 Biểu đồ hàm lượng BOD của nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang 59
3.7 Biểu đồ hàm lượng COD của nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang 59
3.8 Biểu đồ hàm lượng amoni nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang 60
3.9 Biểu đồ hàm lượng nitrit của nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang 61
3.10 Biểu đồ hàm lượng PO
3
3-
nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang 62
3.11 Biểu đồ hàm lượng coliform nước sông Thương đoạn qua TP. Bắc Giang 62 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với mục tiêu công bằng
và tiến bộ xã hội, phát triển con người và bảo vệ môi trường là nền tảng cơ
bản cho sự phát triển bền vững của một địa phương hay một khu vực. Để đạt
được mục tiêu trên cũng như đảm bảo bền vững về môi trường luôn được
lồng ghép vào nhiều chương trình hoạt động của tỉnh Bắc Giang. Trong nhiều
năm gần đây, khi kinh tế phát triển kéo theo môi trường bị tác động mạnh. Sự
phát triển nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng đem lại lợi ích thiết thực cho
xã hội nhưng đã để lại hậu quả đáng kể cho môi trường. Kết quả là ô nhiễm
môi trường nước, không khí, đất đã ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh
thái, huỷ hoại hệ thực vật, động vật và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con
người. Sông, hồ vừa là nguồn cung cấp nước nhưng đồng thời vừa là nơi tiếp
nhận nước thải từ các hoạt động canh tác nông nghiệp, chăn nuôi, sản xuất
- Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước mặt sông Thương phải dựa theo
tiêu chuẩn Việt Nam đã được bộ Tài nguyên và Môi trường thông qua.
- Các giải pháp đề xuất nhằm giảm thiểu ô nhiễm nước mặt sông
Thương phải khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố Bắc
Giang.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Thực trạng môi trường nước mặt trên trái đất
1.1.1. Thực trạng môi trường nước mặt trên thế giới
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với
nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước mặt phản ánh trung thực tiến bộ
phát triển khoa học công nghệ. Hiện nay rất nhiều nơi trên thế giới nguồn
nước mặt đã và đang bị ô nhiễm trầm trọng do tác động của nước thải từ các
hoạt động sản xuất đặc biệt là các hoạt động sản xuất công nghiệp. Ta có thể
kể ra đây vài thí dụ tiêu biểu.
Tại Anh : Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống cống lộ
thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi
người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn
đề cũng không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối
thế kỷ 18. Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi
không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô
nhiễm mãn tính. Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có
hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn cháy nhà máy
Riêng tỉnh Ninh Thuận đã khai thác tới 80% lượng dòng chảy trên địa bàn ( Sở
Tài nguyên và Môi trường Hà Nam, 2012) .
Việc khai thác nguồn nước quá mức đã làm suy thoái nghiêm trọng về số
lượng và chất lượng tài nguyên nước, trên các lưu vực sông lớn như sông
Hồng, Thái Bình và sông Đồng Nai. Do tác động của biến đổi khí hậu ngày
càng gia tăng, ở Việt Nam mùa mưa và lưu lượng nước có xu hướng diễn biến
thất thường, nên hạn hán hoặc ủng ngập cục bộ xảy ra thường xuyên và trên
diện rộng hơn trước. Rõ rệt nhất là vài năm gần đây, mùa mưa thường kết thúc
sớm và đến muộn hơn gây nên hạn hán tại nhiều vùng trong cả nước. Bên cạnh
đó, tình trạng nhiều khu công nghiệp, nhà máy, khu đô thị xả nước thải chưa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
qua xử lý xuống hệ thống sông hồ đã và đang gây ô nhiễm nguồn nước mặt
trên diện rộng, dẫn đến nhiều vùng có nước nhưng không sử dụng được.
Đặc biệt nước thải từ hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp và
khu công nghiệp, đang là nguồn gây áp lực lớn nhất đến môi trường nước mặt
lục địa.
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, nên lưu lượng nước
thải từ ngành này chiếm tỷ trọng lớn hàng đầu. Do việc sử dụng hóa chất bảo
vệ thực vật và phân bón bất hợp lý, nên trung bình 20-30% lượng thuốc và
phân bón sử dụng trong nông nghiệp không được cây trồng hấp thụ sẽ theo
nước mưa và nước tưới chảy vào nguồn nước mặt, tích lũy trong đất. Không
những gây ô nhiễm nguồn nước mặt, mà còn thấm vào nguồn nước ngầm và
gây ô nhiễm đất
Mặt khác, phần lớn các đô thị hiện nay đều chưa có hệ thống xử lý
nước thải sinh hoạt, nên tỷ lệ nước thải đã qua xử lý đạt tỷ lệ rất thấp. Cộng
thêm nước thải sinh hoạt trong các khu dân cư, các khu du lịch và nước thải
của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp xả thẳng vào sông hồ, là những nguyên
nhân chính đã và đang làm gia tăng ô nhiễm hệ thống các thủy vực nội đô và
nằm phân tán, nằm xen kẽ trong khu dân cư trên lưu vực sông Đồng Nai.
Bình quân mỗi ngày, lưu vực sông phải tiếp nhận khoảng 48.000m3 nước thải
từ các cơ sở sản xuất này. Dọc lưu vực sông Đồng Nai, có 56 khu công nghiệp,
khu chế xuất đang hoạt động nhưng chỉ có 21 khu có hệ thống xử lý nước thải
tập trung, số còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động xấu đến
chất lượng nước của các nguồn tiếp nhận Có nơi, hoạt động của các nhà máy
trong khu công nghiệp đã phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, tạo ra những cánh đồng hạn
hán, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước tưới, gây trở ngại rất lớn cho sản xuất
nông nghiệp của bà con nông dân.
Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa
đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định. Thực trạng đó
làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công
nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường.
Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề
thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát
triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
và giải quyết việc làm ở các địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do
các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình
trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng
nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và Nox thải ra trong quá trình
sản xuất khá cao. Theo thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay
cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống, đang
giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động
thường xuyên và lao động không thường xuyên. Các làng nghề được phân bố
rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển nhất là Đồng
bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Tây Bắc bộ, Đồng bằng sông Cửu Long.
thành phố Hồ Chí Minh có mức benzen và sunfua đioxit đáng báo động. Theo
một kết quả nghiên cứu mới công bố năm 2008 của Ngân hàng thế giới (WB),
trên 10 tỉnh thành phố Việt Nam, xếp theo thứ hạng về ô nhiễm đất, nước,
không khí, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là những địa bàn ô nhiễm đất
nặng nhất. Theo báo cáo của Chương trình môi trường của Liên hợp quốc, Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu châu á về mức độ ô nhiễm bụi.
1.2. Vấn đề môi trường các lưu vực sông ở Việt Nam
1.2.1. Lưu vực sông Đông Nai
Sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ hai ở phía Nam, và đứng thứ
ba toàn quốc, lưu vực rộng lớn của nó gần như nằm trọn trong địa phận nước
ta, chỉ có một bộ phận nhỏ nằm ở nước ngoài (Campuchia). Đồng Nai là con
sông chính của hệ thống sông Đồng Nai, một số phụ lưu lớn của nó như: Đa
Hoai, La Ngà (ở tả ngạn), sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ (ở hữu ngạn).
Tổng diện tích lưu vực phần trong nước khoảng 37.330 km
2
, nằm trên địa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
phận các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Lắc, Bình Dương, Bình Phước, Long An, Tây
Ninh, Bình Thuận, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống sông
Đồng Nai phát triển trên cao nguyên Di Linh, Lâm Viên, Bảo Lộc và một
phần của đồng bằng Nam Bộ. Đây là một vùng kinh tế phát triển có nhiều thế
mạnh với loại cây công nghiệp nhiệt đới như: cao su, trà, cà phê, thuốc lá, v.v
Trong lưu vực nhiều nơi có thể xây dựng thành các trung tâm thủy điện như: Trị
An, Thác Mơ, Đa Mi, Hàm Thuận
Lưu vực sông Đồng Nai có mức độ ô nhiễm ngày nghiêm trọng hơn,
nhiều đoạn sông chảy qua địa phận Bình Dương đã trở thành sông chết. Trải
rộng trên địa bàn, lưu vực hệ thống sông này chịu ảnh hưởng mạnh nhất của
nhiều nguồn tác động trên toàn bộ lưu vực. Đặc biệt phần hạ lưu của nhiều
bộ hay một phần lãnh thổ của các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc
Giang, Vĩnh Phúc và Hà Nội. Sông Cầu là sông lớn nhất trong hệ thống sông
Thái Bình. Sông Cầu có 2 phụ lưu lớn là sông Công (dài 96 km) và sông Cà
Lồ (dài 89km). Từ bao đời nay nhân dân ta đặc biệt là nhân dân 6 tỉnh trong
lưu vực đã được hưởng nhiều nguồn lợi trực tiếp từ sông Cầu. Tuy nhiên,
trong quá trình phát triển kinh tế, chúng ta đã khai thác một cách quá mức
trên toàn bộ lưu vực tạo nên những tác động hết sức sâu sắc đến nguồn nước,
cảnh quan lưu vực sông Cầu. Theo kết quả điều tra khảo sát của các Sở Khoa
học và Công nghệ , Sở Tài nguyên và Môi trường 6 tỉnh lưu vực sông Cầu và
các cơ quan nghiên cứu môi trường như Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và
Tư vấn Môi trường (Viện Cơ học), Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Không
khí và Nước (Viện Khí tượng Thủy văn) cho thấy chất lượng nước sông
Cầu đã bị suy giảm, nhiều nơi nhiều lúc đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là
các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu công nghiệp và các làng nghề.
Đoạn thượng lưu từ thượng nguồn sông đến Thác Bưởi, nước sông vẫn
còn giữ được tính tự nhiên vốn có do chảy qua vùng dân cư thưa thớt và công
nghiệp chưa phát triển. Chất lượng nước của đoạn sông này còn khá tốt. Các
chỉ tiêu chất lượng nước đều bảo đảm giới hạn cho phép đối với nguồn nước
mặt loại A.
Đoạn trung lưu, từ ngã ba sông Đu gặp sông Cầu đến Phù Lôi (Sóc
Sơn), đây là khu vực có mức độ phát triển kinh tế tương đối cao. Đoạn sông
này phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải (khoảng 300 triệu m3/ năm) từ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Chất lượng nước
của đoạn này đã suy giảm một cách nghiêm trọng. Hầu hết các chỉ tiêu chất
lượng nước đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng nguồn loại A. Nhiều nơi,
nhiều chỉ tiêu không đạt nguồn loại B, nhất là vào những tháng mùa kiệt, khi
nước ở thượng nguồn ít.
vượt quá giới hạn cho phép chất lượng nước mặt loại A từ 2-3 lần trong khi
nồng độ BOD5 vượt quá giới hạn này từ 4-6 lần, hàm lượng DO rất thấp, chỉ
đạt 2.89 mg/l. Ước tính lượng nước thải từ sinh hoạt và công nghiệp đổ vào
sông trung bình khoảng 5.4m
3
/s, điều này đồng nghĩa với việc để hàm lượng
ô nhiễm BOD không vượt quá tiêu chuẩn nước mặt loại B thì cống Liên Mạc
sẽ phải mở với công suất tối đa 60m
3
/s.
Sông Nhuệ: Nước sông chịu ảnh hưởng rất lớn bởi nước thải sinh hoạt,
công nghiệp, nông nghiệp của thành phố Hà Nội. Mùa kiệt chất lượng nước
phụ thuộc vào chế độ vận hành cống Liên Mạc, chế độ xả nước đập Thanh
Liệt và chế độ lấy nước tưới của hệ thống thuỷ nông. Nếu cống Liên Mạc mở
to, lưu lượng nước sông Hồng chảy vào lớn thì chất lượng nước ở phía hạ du
đươc cải thiện đáng kể do được pha loãng. Ngược lại, nếu cống Liên Mạc
đóng hoặc mở với khẩu độ nhỏ, phía Thanh Trì vẫn nhận nước thải sông Tô
Lịch xả vào, dưới hạ lưu sẽ bị sự cố về môi trường nước. Về mùa lũ cống
Liên Mạc thường đóng, nước sông Nhuệ chủ yếu là nước thải thành phố,
nước mưa, nước tiêu nông nghiệp, nhưng được bơm thoát nhanh ra sông Đáy.
Theo nghiên cứu “ Khảo sát hiện trạng tài nguyên nước lưu vực sông Nhuệ -
Đáy” của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Ý Như, Trần Ngọc Anh
đăng trên tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội thì: Diễn biến chất lượng
nước dọc sông Nhuệ có thể nhận định sơ bộ như sau:
- Tại cống Liên Mạc: khi cống mở, nước không bị ô nhiễm hoặc ô nhiễm
nhẹ, chất lượng nước giống như nước sông Hồng, khi cống đóng mức độ ô
nhiễm cao hơn nhưng không đáng kể do nước chảy chậm, giảm sự khuyếch tán
của ôxy trong nước.
- Tại Cầu Diễn, cầu Hà Đông nhận nước tiêu nông nghiệp của huyện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
- Tại Ba Thá - Chương Mỹ: nước sông Đáy bị ảnh hưởng chủ yếu bởi
nước tiêu nông nghiệp và một phần nước thải sinh hoạt của thị trấn Thanh
Oai. Mùa kiệt, nước sông bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ như COD =18-27
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
mg/l, vượt quá giới hạn cho phép nuớc mặt loại A từ 1.8-2.7 lần, BOD=9-15
mg/l, vượt quá giới hạn cho phép nuớc mặt loại A từ 2.2-4.0 lần, hàm lượng
DO thấp khoảng 5.5 mg/l, không đạt tiêu chuẩn nước mặt loại A.
- Tại cầu Tế Tiêu - Mỹ Đức: Nguồn nước sông tại đây do nước từ
thượng nguồn sông Tích đổ về, chảy qua Vân Đình đến Mỹ Đức. Qua quá
trình lắng đọng và tự làm sạch nên chất lượng nước được cải thiện chút ít, tuy
nhiên hàm lượng DO vẫn còn thấp < 5.0 mg/l, không đạt tiêu chuẩn nước mặt
loại A.
Theo dự đoán, lượng chất ô nhiễm đổ vào sông sẽ tiếp tục tăng cao. Nói
chung về chất, nước sông Nhuệ - sông Đáy đang bị ô nhiễm nghiêm trọng,
ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế, xã hội và môi trường sống trong khu vực
mà hai con sông này đi qua. Mặt khác, sông Nhuệ và sông Đáy lại có tầm ảnh
hưởng rất quan trọng đối với các tỉnh phía Bắc nằm trong lưu vực, đặc biệt
các tỉnh ở dưới hạ lưu nên vấn đề ô nhiễm ở hai con sông này là vấn đề gây
bức xúc trong dư luận và đặt trước các nhà quản lý môi trường, tài nguyên
nước và các nhà khoa học một nhiệm vụ vô cùng cấp bách ( Nguyễn Thanh
Sơn, Nguyễn Như Ý, Trần Ngọc Anh và Lê Thị Hường, 2011).
1.2.4. Thực trạng nước mặt các dòng sông tại Bắc Giang
Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có ba con sông lớn là sông Lục Nam,
sông Thương và sông Cầu.
Sông Lục Nam với chiều dài chảy qua tỉnh là 150km bắt nguồn từ tỉnh
Lạng Sơn, chảy qua các huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam.
Sông Cầu chảy ở phía Tây Nam làm ranh giới với thành phố Hà Nội
và tỉnh Bắc Ninh, qua địa bàn các huyện Hiệp Hoà, Việt Yên và Yên Dũng,
3 Sông Cầu 6.064 4,2
Tổng 12.764 7,46
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang, 2011
Những năm gần đây, hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, làng nghề phát triển mạnh kéo theo đó là việc xả nước thải chưa qua
xử lý ra môi trường, đặc biệt là xuống các dòng sông chảy qua địa bàn tỉnh
Bắc Giang. Nước thải công nghiệp và sinh hoạt đang "bức tử" nhiều đoạn
sông, đe dọa sự bền vững sinh thái, cạn kiệt nguồn nước. Nếu chậm trễ thực
hiện những giải pháp khắc phục triệt để tình trạng ô nhiễm trên các dòng sông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
thì lợi ích từ những con sông mang lại sẽ không còn, gây thiệt hại khôn lường
về kinh tế, môi trường và xã hội.
Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có ba sông lớn chảy qua là sông Thương,
sông Cầu và sông Lục Nam với tổng chiều dài 347 km. Tổng lượng nước
mặt ước đạt hơn 7,46 tỷ m
3
/năm. Đây là nguồn nước lớn phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt…
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ tại hơn 1.500 cơ sở có xả thải nước
trên toàn tỉnh bao gồm doanh nghiệp, đơn vị sản xuất công nghiệp, kinh
doanh dịch vụ, cơ sở y tế, nuôi trồng thủy sản và hộ gia đình, tổng lượng nước
thải hiện nay khoảng 223,4 nghìn m
3
/ngày (ước 81,4 triệu m
3
/năm). Hầu hết
lượng nước này chưa qua xử lý hoặc xử lý bằng những phương pháp, máy
móc thô sơ, công nghệ lạc hậu. Lượng nước thải khổng lồ này đều bị đổ thẳng
QCVN cho phép. Môi trường nước mặt sông Thương đang chịu tác động
mạnh của nước thải sinh hoạt, hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi
và nước thải làng nghề.
Hiện nay chất lượng nước mặt sông Thương bị ô nhiễm hữu cơ ngày
càng tăng: Đoạn chảy qua phường Thọ Xương - Thành phố Bắc Giang,
nguyên nhân gây ô nhiễm chủ yếu do tiếp nhận nguồn nước thải của công ty
TNHH một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc, nước thải của công ty
cổ phần XNK Phân bón Bắc Giang và nước thải của khu dân cư xung quanh
thải vào. Đoạn sông Thương chảy qua phường Mỹ Độ - TP. Bắc Giang ô
nhiễm do nước thải của các hộ dân xung quanh và nước thải làng nghề Bún xã
Đa Mai và do tiếp nhận nước từ ngòi Cầu Sim chảy về. Đoạn chảy qua xã Trí
Yên, xã Tân Liễu, xã Đồng Phúc - huyện Yên Dũng nguyên nhân ô nhiễm do
toàn bộ nước thải sinh hoạt của thành phố Bắc Giang và khu công nghiệp
Song Khê - Nội Hoàng thải vào, đồng thời nước sông Thương ô nhiễm do
toàn bộ nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình và cơ sở sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thành phố Bắc Giang. Về phía sông
Thương qua các huyện Tân Yên, Yên Thế do các khu vực này chưa chịu tác
động nhiều của hoạt động công nghiệp nên hàm lượng các chất ô nhiễm vẫn
nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Bắc Giang, 2011).
Tại một số đoạn trên sông Lục Nam, nước cũng đục vàng bởi hoạt động
khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp. Nhìn chung, qua kết quả quan
trắc định kỳ các năm của trung tâm quan trắc môi trường Bắc Giang cho thấy
chất lượng nước mặt sông Lục Nam bị ô nhiễm hữu cơ mang tính cục bộ, chủ
yếu là đoạn chảy qua huyện Lục Nam và xã Yên Định – Sơn Động và một số