HOẠT ĐỘNG PHỤC vụ GIẢI TRÍ CÔNG CỘNG của các đơn vị sự NGHIỆP văn hóa CÔNG lập tại THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH (TRƯỜNG hợp bảo TÀNG, NHÀ hát, TRUNG tâm văn hóa) - Pdf 60

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

Trịnh Đăng Khoa

HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ GIẢI TRÍ CÔNG CỘNG
CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VĂN HÓA CÔNG LẬP
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(TRƯỜNG HỢP BẢO TÀNG, NHÀ HÁT,
TRUNG TÂM VĂN HÓA)
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62317001

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

Trịnh Đăng Khoa

HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ GIẢI TRÍ CÔNG CỘNG
CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VĂN HÓA CÔNG LẬP
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(TRƯỜNG HỢP BẢO TÀNG, NHÀ HÁT,
TRUNG TÂM VĂN HÓA)
Chuyên ngành: Văn hóa học

Hiện nay, hoạt động giải trí công cộng đã được thị trường tham gia cung
ứng ngày càng nhiều hơn, nhưng nhà nước vẫn đóng một vai trò hết sức
quan trọng trong phục vụ các hoạt động giải trí chung của toàn xã hội. Bởi,
có những nhu cầu hoạt động giải trí chung, chính đáng của người dân và
cộng đồng, xã hội có thể sẽ bị sự từ chối của các nhà sản xuất và cung cấp
dịch vụ giải trí tư nhân do không hoặc khó đảm bảo việc thu hồi vốn và tìm
kiếm lợi nhuận. Mặt khác, hoạt động giải trí công cộng nếu chỉ có khu vực
tư nhân độc quyền cung cấp có thể sẽ dẫn tới việc độc quyền thị trường và
kéo theo sự tăng giá, ảnh hưởng tới người tiêu dùng. Chưa kể việc chạy
theo mục tiêu lợi nhuận tối đa có thể sẽ dẫn tới các sản phẩm giải trí kém
chất lượng, ảnh hưởng tiêu cực cho đời sống văn hóa của cá nhân và cộng
đồng, xã hội.
Chính vì lẽ đó, hoạt động văn hóa ở nước ta nói chung, trong đó có hoạt
động giải trí công cộng, tới nay vẫn đồng thời tồn tại cơ chế hoạt động sự
nghiệp văn hóa, gắn với vai trò quản lý, điều tiết và cung ứng của nhà nước.
Tuy nhiên, quan điểm nhà nước quản lý, điều tiết và thậm chí trực tiếp phục
vụ các hoạt động văn hóa giải trí không có nghĩa là nhà nước bao tiêu tràn
lan và độc quyền toàn bộ trong lĩnh vực này như trước đây trong thời bao
cấp. Mà chủ trương của nhà nước ta kể từ khi đổi mới tới nay là khuyến
khích xã hội tham gia ngày càng nhiều hơn vào việc tổ chức phục vụ các
hoạt động vui chơi giải trí chính đáng của nhân dân. Nhà nước chỉ tham gia
tổ chức phục vụ các hoạt động giải trí công cộng nào mà khu vực tư nhân
và xã hội khó, không hoặc chưa thể thực hiện.
Từ thực tế đó, kết hợp cùng với đặc thù chuyên môn nghề nghiệp và yêu
cầu công tác trong lĩnh vực quản lý văn hóa, chúng tôi chọn vấn đề “Hoạt
động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập
tại Thành phố Hồ Chí Minh (Trường hợp bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn
hóa” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ chuyên ngành văn hóa học.



quy mô về đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam (khảo sát
ở ba thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh và Đà Nẵng cùng với Khu công
nghiệp Bình Dương).
- Công trình Hoạt động giải trí ở đô thị Việt Nam hiện nay – Những vấn
đề lý luận và thực tiễn của Phạm Duy Đức và các tác giả khác (2004). Các
bài viết đã phân tích cơ sở khoa học của hoạt động giải trí, nhu cầu giải trí ở
đô thị nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đặc
biệt nhấn mạnh vai trò của nó trong xã hội đô thị; đánh giá thực trạng các
loại hình giải trí gắn với các hoạt động cộng đồng ở đô thị (qua các đơn vị


3
sự nghiệp văn hóa như thư viện, bảo tàng, sân thể thao, trung tâm văn hóa);
hoạt động nghệ thuật với việc đáp ứng các yêu cầu giải trí của công chúng
hiện nay; các dịch vụ văn hóa cũng như các phương tiện thông tin đại chúng
với việc đáp ứng yêu cầu giải trí của người dân đô thị hiện nay; dự báo xu
hướng phát triển hoạt động giải trí ở đô thị nước ta; cũng như đề xuất
phương hướng và giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
trong các hoạt động vui chơi giải trí ở khu vực đô thị thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.3. Về hoạt động giải trí tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Công trình Nghiên cứu và xây dựng mô hình nhà văn hóa tại Thành
phố Hồ Chí Minh - Thực trạng, nhu cầu và tổ chức thực hiện của Trần
Ngọc Khánh và các tác giả khác (2015) đã nghiên cứu chuyên sâu về thiết
chế nhà văn hóa - trung tâm văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Các tác giả
đã phân tích và lý giải nguồn gốc, sự ra đời cũng như vai trò, chức năng
mang tính bản chất cốt lõi của nhà văn hóa trên cơ sở tiếp cận từ nhiều
nguồn tài liệu của các nước trên thế giới; từ đó nhận định, đối chiếu với quá
trình ra đời, xây dựng và phát triển nhà văn hóa ở Việt Nam, trong đó có
Thành phố Hồ Chí Minh.

Phạm vi không gian: chúng tôi lựa chọn nghiên cứu hoạt động phục vụ
giải trí công cộng của hệ thống các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập lĩnh
vực bảo tàng, nhà hát và trung tâm văn hóa cấp thành phố và cấp
quận/huyện, tập trung ở 5 quận/ huyện của Thành phố Hồ Chí Minh (bao
gồm 3 quận nội thành và 2 huyện ngoại thành).
Phạm vi thời gian luận án chủ yếu nghiên cứu vấn đề phục vụ giải trí
công cộng của hệ thống bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa công lập tại
Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, quá trình
khảo sát, nghiên cứu chúng tôi sẽ chú ý tìm hiểu theo cả hai chiều lịch đại
và đồng đại. Đặc biệt tập trung vào giai đoạn từ năm 2014 tới nay.
4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu của luận án:
Thực trạng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự
nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
Vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động phục vụ giải trí công cộng
của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh ra sao?
Cần có những giải pháp gì để nâng cao chất lượng phục vụ giải trí công
cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Các giả thuyết sau:
Các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện
chưa hiệu quả hoạt động phục vụ giải trí công cộng trong bối cảnh hiện nay.
Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động phục vụ giải trí công cộng của
các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập còn nhiều tồn tại hạn chế, bất cập.
Cần có những giải pháp cải cách, đổi mới về tổ chức và quản lý để nâng
cao chất lượng hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự
nghiệp văn hóa công lập trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát, phương pháp thống kê – so sánh, phương pháp hệ
thống cấu trúc, phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương pháp tiếp cận liên
ngành.

1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm
- Khái niệm giải trí công cộng
Giải trí công cộng là quá trình con người chủ động, tự do, tự nguyện sử
dụng thời gian rỗi tham gia vào các hoạt động văn hóa chung của cộng
đồng, xã hội để giải tỏa những căng thẳng trí não, tìm sự vui thú, sảng khoái
tâm hồn và nâng cao đời sống văn hóa tinh thần
- Khái niệm thiết chế văn hóa
Thiết chế văn hóa là một chỉnh thể văn hóa hội đủ các yếu tố về nhân
lực, vật lực, tài lực, thể chế và hoạt động văn hóa. Thiết chế văn hóa là nơi
đảm bảo cho các hoạt động sáng tạo/sản xuất, bảo quản/phân phối, trao
đổi/tiêu dùng các sản phẩm văn hóa được diễn ra một cách tập trung; để lưu
giữ và chuyển tải các giá trị văn hóa đến từng cá nhân và cộng đồng, xã hội.
- Khái niệm hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự
nghiệp văn hóa công lập
Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa
công lập là quá trình nhà nước sử dụng các nguồn lực công để tạo ra sản
phẩm văn hóa, phục vụ nhu cầu giải trí chung của người dân, cộng đồng, xã
hội; theo nguyên tắc không vụ lợi; đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động phục vụ giải trí công cộng
(1) Hình thành các ý tưởng sáng tạo. (2) Sáng tác/sản xuất. (3) Phân
phối. (4) Bảo quản.
1.1.3. Phân loại hoạt động phục vụ giải trí công cộng
a. Phân theo tiêu chí phương thức cung ứng dịch vụ công: gồm (1) nhà
nước trực tiếp phục vụ, (2) nhà nước ủy quyền phục vụ, (3) nhà nước hợp
danh hoặc liên doanh phục vụ, (4) nhà nước hợp đồng mua từ bên ngoài
phục vụ, (5) nhà nước thực hiện các ưu đãi phục vụ.
b. Phân theo tiêu chí chủ thể cung ứng dịch vụ công: gồm (1) do nhà
nước trực tiếp cung ứng, (2) do nhà nước ủy nhiệm cung ứng.
1.1.4. Vai trò của Nhà nước đối với hoạt động phục vụ giải trí công

công lập.
- Lý thuyết dịch vụ công: đề tài này xác định lựa chọn những hoạt động
phục vụ giải trí công cộng do Nhà nước trực tiếp cung ứng thông qua hệ
thống các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập. Vì vậy, chúng tôi sử dụng lý
thuyết dịch vụ công để hoàn chỉnh cơ sở lý luận về hoạt động phục vụ giải
trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khái quát về hoạt động giải trí công cộng ở Thành phố Hồ Chí
Minh
Có thể khái quát một số hoạt động phục vụ nhu cầu văn hóa giải trí công
cộng của người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh kể từ sau chủ trương xã hội
hóa các hoạt động văn hóa, qua một số lĩnh vực phổ biến sau: điện ảnh,
nghệ thuật biểu diễn, bảo tàng, di tích, karaoke, vũ trường, công viên văn
hóa - khu vui chơi giải trí tổng hợp.
Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có hệ thống các thiết chế
văn hóa phục vụ nhu cầu giải trí công cộng khá phong phú, đa dạng và quy mô


8
vào bậc nhất ở Việt Nam hiện nay. Các thiết chế văn hóa này đã và đang phục
vụ tương đối tốt nhu cầu giải trí công cộng của người dân; tuy nhiên, trong mỗi
thiết chế văn hóa vẫn tồn tại những hạn chế nhất định.
1.2.2. Tổng quan về các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập phục vụ
giải trí công cộng tại Thành phố Hồ Chí Minh
Để thực hiện các chức năng của mình, Sở Văn hóa, Thể thao Thành phố
Hồ Chí Minh đã thành lập một hệ thống các đơn vị sự nghiệp văn hóa công
lập bao gồm hệ thống bảo tàng, nhà hát, các trung tâm văn hóa, nghệ thuật,
thể thao, thông tin triển lãm, báo chí, trường học từ trung tâm cho tới khắp
các quận/huyện, phường/xã, khu phố/ấp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh. Hiện nay Sở Văn hóa, Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh có 34 đơn vị

Giới thiệu và phân tích khái quát tổ chức hoạt động văn hóa giải trí công
cộng ở Việt Nam và bức tranh nhu cầu văn hóa giải trí của người dân Thành
phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay; hệ thống hóa mạng lưới các thiết
chế văn hóa phục vụ vui chơi giải trí công cộng. Phân tích những nét cơ bản
nhất của một số lĩnh vực/loại hình hoạt động giải trí công cộng phổ biến
hiện nay trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Trình bày tổng quan về hệ thống mạng lưới các đơn vị sự nghiệp văn
hóa công lập lĩnh vực bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa trực thuộc sự
quản lý nhà nước và chuyên môn của Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố
Hồ Chí Minh trong vai trò, chức năng tổ chức phục vụ công các nhu cầu
văn hóa giải trí công cộng cho người dân, cộng đồng xã hội.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ GIẢI TRÍ CÔNG
CỘNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VĂN HÓA CÔNG LẬP
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Hoạt động phục vụ giải trí công cộng của bảo tàng
2.1.1. Nhu cầu giải trí công cộng đối với bảo tàng
Kết quả khảo sát của đề tài cho thấy mức độ người dân thường xuyên
đến bảo tàng rất ít, chỉ có 3,9% người dân cho biết họ đã đến bảo tàng được
ba lần; có 31,2 % trả lời đến bảo tàng được hai lần; trong khi đó, số trả lời
lần đầu tiên (một lần) đến bảo tàng chiếm 59,7%. Tuy nhiên, đa số những
người đến bảo tàng đều xác định rõ mục đích, mong muốn của mình khi
đến với các thiết chế này; theo đó, lý do đến bảo tàng để tham quan, tìm
hiểu chiếm tỉ lệ cao nhất là 87,0%; tiếp sau đó là đến bảo tàng để thư giãn,
giải tỏa căng thẳng chiếm tỉ lệ tương đối cao là 48,1%; chỉ có 15,6% trả lời
là đến bảo tàng để nghiên cứu, học tập. Điều này cho thấy mặc dù mức độ
đến bảo tàng của người dân là chưa cao; song, mục đích đến bảo tàng để
tham quan - giải trí, giảm căng thẳng, tạo sự thoải mái tinh thần khi đến với
bảo tàng là khá lớn.
2.1.2. Tổ chức hoạt động phục vụ giải trí công cộng của bảo tàng

2.1.2.4. Thời gian tổ chức hoạt động
Một thời gian dài, các bảo tàng công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh,
cũng chỉ mở và đóng cửa phục vụ theo khung giờ chung của các cơ quan
hành chính Nhà nước. Gần đây, khi nhu cầu tham quan của du khách trong
và ngoài nước có xu hướng tăng cao và sự thay đổi cơ chế hoạt động
chuyển mạnh hơn sang hướng khai thác dịch vụ công thì việc tăng thêm
thời gian phục vụ, mở cửa phục vụ liên tục, kể cả giờ nghỉ trưa, mới bắt đầu
được đề cập và quan tâm chi tiết, cụ thể hơn.
2.1.2.5. Cơ sở vật chất, trang thiết bị
Do quá trình lịch sử hình thành và phát triển đã lâu, cùng với khả năng
trùng tu, tôn tạo, sửa chữa còn nhiều hạn chế, cho nên hiện trạng của một số
bảo tàng hiện nay đã có dấu hiệu xuống cấp. Trước thực trạng đó, bản thân
các bảo tàng này đã có những báo cáo cụ thể về thực trạng cơ sở vật chất,
trang thiết bị của đơn vị. Bên cạnh đó, bản thân các bảo tàng cũng đã chủ
động tìm được các đối tác, đơn vị tài trợ để tháo gỡ những khó khăn và
giảm bớt chi phí ngân sách nhà nước cho việc cải tạo, nâng cấp cơ sở vật
chất, trang thiết bị, nhằm tạo ra cảnh quan văn hóa đẹp hơn, điều kiện hoạt
động tốt hơn cho các bảo tàng.


11
2.1.2.6. Dịch vụ và giá cả
Các nội dung hoạt động dịch vụ của bảo tàng công lập đã được quy định
cụ thể, rõ ràng trong Thông tư số 18/2010/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch (2010). Hoạt động văn hóa giải trí của các bảo tàng
công lập ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa có sự đa dạng về hệ thống
dịch vụ bổ trợ. Về giá cả các dịch vụ, nhận thấy, từ lâu hoạt động phục vụ
nhu cầu văn hóa giải trí của bảo tàng công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh, với
quan niệm phục vụ công của một đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập, hầu như
không quan tâm nhiều tới mức giá vé tham quan, sinh hoạt tại các bảo tàng hay


12
Vở diễn sân khấu kịch nói. Vở diễn sân khấu kịch hát. Trích đoạn sân
khấu. Chương trình ca múa nhạc, tạp kỹ
2.2.2.2. Chủ thể tổ chức hoạt động
Hoạt động phục vụ công trong lĩnh vực nhà hát, thời gian qua tại Thành
phố Hồ Chí Minh, có hai dạng thức cơ bản là: (1) do nhà nước trực tiếp
phục vụ (thông qua mạng lưới các nhà hát công lập) và (2) nhà nước gián
tiếp phục vụ thông qua hình thức chuyển giao trách nhiệm cung ứng dịch vụ
công cho các tổ chức khác có điều kiện thực hiện hiệu quả hoạt động phục
vụ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật sân khấu của công chúng, xã hội (các
hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân…).
2.2.2.3. Không gian tổ chức hoạt động
Qua khảo sát của đề tài cho thấy, các trụ sở nhà hát có thể sử dụng để
biểu diễn được hiện nay chỉ thuần túy đạt tiêu chuẩn là một sàn diễn có
trang bị các phương tiện kỹ thuật phục vụ đủ cho diễn viên biểu diễn và
khán giả ngồi xem; các khu vực phục vụ công chúng như quầy vé, khu vệ
sinh, khu gửi xe, khu thông tin quảng bá, khu dịch vụ giải khát, khu phục vụ
theo nhu cầu… đều cũ kỹ, xuống cấp; chưa được quan tâm đầu tư, khai
thác, sử dụng đúng công năng và sáng tạo; dẫn tới thiếu thẩm mỹ và không
tiện lợi trong phục vụ đa dạng nhu cầu công chúng nghệ thuật.
2.2.2.4. Thời gian tổ chức hoạt động
Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của một cơ quan - đơn vị sự
nghiệp văn hóa và nhu cầu văn hóa giải trí của công chúng, theo đó, lịch
biểu diễn của các nhà hát công lập thường rơi vào hai thời điểm cơ bản là:
phụ thuộc vào khoảng thời gian và yêu cầu tổ chức các hoạt động chính trị
của ban tổ chức và căn cứ vào thời gian rỗi nhiều nhất trong ngày, dịp nghỉ
nhiều ngày của công chúng.
2.2.2.5. Cơ sở vật chất, trang thiết bị
Tình trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên dùng của hấu hết các

thống mạng lưới trung tâm văn hóa có số lượng nhiều hơn và phân bổ rộng
khắp các địa bàn dân cư theo cả chiều dọc từ trung ương tới cơ sở và chiều
ngang với mạng lưới bao phủ đều khắp các quận/huyện, phường/xã và khu
phố/ấp. Bên cạnh đó, các hình thức hoạt động văn hóa giải trí của hệ thống
mạng lưới trung tâm văn hóa cũng tương đối phong phú và đa dạng hơn so
với các bảo tàng và nhà hát; nhất là có nhiều loại hình văn hóa giải trí có thể
giúp người dân được sáng tạo văn nghệ quần chúng.
2.3.2. Tổ chức hoạt động phục vụ giải trí công cộng của trung tâm
văn hóa
2.3.2.1. Sản phẩm giải trí công cộng ở trung tâm văn hóa
Chương trình biểu diễn nghệ thuật. Sáng tạo/sáng tác văn hóa văn nghệ
quần chúng (không chuyên). Liên hoan, hội thi, hội diễn. Câu lạc bộ, đội,
nhóm. Đọc sách. Lễ hội
2.3.2.2. Chủ thể tổ chức hoạt động
Hoạt động vui chơi giải trí công cộng của hệ thống trung tâm văn hóa
hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy có hai nhóm chủ thể tổ chức
cơ bản: (1) Thứ nhất, do trung tâm văn hóa trực tiếp đứng ra tổ chức thực
hiện theo kế hoạch hoạt động, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đã
được phê duyệt hàng năm. Các hoạt động này chủ yếu dựa vào nguồn kinh
phí được cấp từ ngân sách Nhà nước hoặc từ nguồn xã hội hóa (vận động
tài trợ). (2) Thứ hai, do các tổ chức tư nhân, cá nhân liên kết hoặc thuê mặt


14
bằng của trung tâm văn hóa để tổ chức các hoạt động dịch vụ văn hóa công
cộng.
2.3.2.3. Không gian tổ chức hoạt động
Các hoạt động phục vụ nhu cầu giải trí công cộng ở trung tâm văn hóa tổ
chức thường được diễn ra tại hai không gian cơ bản: (1) Tại trụ sở của trung
tâm, với hệ thống sân bãi, sân khấu, hội trường, phòng chức năng cùng với

nào đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng vui chơi giải trí của người dân.
Có thể thấy, số lượng nội dung hoạt động và chỉ tiêu phục vụ quần chúng


15
nhân dân hàng năm của các trung tâm văn hóa luôn dày và cao hơn nhiều so
với các loại hình giải trí công cộng khác như bảo tàng, nhà hát. Tuy nhiên,
giữa số lượng và chất lượng các chỉ tiêu dường như chưa có mức độ tỉ lệ
thuận với nhau theo chiều hướng tích cực.
2.4. Tiểu kết
Trong chương 2, luận án đã trình bày và đánh giá thực trạng tổ chức
phục vụ nhu cầu giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công
lập bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh và vai
trò của nhà nước trong quản lý, điều tiết hoạt động giải trí công cộng ở các
đơn vị này.
CHƯƠNG 3
NHẬN ĐỊNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ GIẢI TRÍ CÔNG CỘNG
CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VĂN HÓA CÔNG LẬP
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Nhận định về các mặt tồn tại trong hoạt động phục vụ giải trí công
cộng và những vấn đề đặt ra
3.1.1. Một số tồn tại trong hoạt động phục vụ giải trí công cộng
3.1.1.1. Về cơ chế, chính sách
Cơ chế xã hội hóa các hoạt động văn hóa đã phát huy hiệu quả tốt tại
Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua, đó là điều không thể phủ
nhận. Song, thực tế của hoạt động này cũng cho thấy, chúng ta vẫn chưa
định hình nên một quy hoạch, chiến lược hay kế hoạch dài hơi, thậm chí
nên là một quy chế riêng biệt cho việc phân chia lĩnh vực, loại hình hoạt
động công - tư trong lĩnh vực văn hóa giải trí công cộng này.

pháp luật và sự hướng dẫn của cơ quan tài chính chuyên ngành.
Nguồn kinh phí được cấp hàng năm cho các bảo tàng, nhà hát, trung tâm
văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh đều chỉ đảm bảo chi tối thiểu cho tất cả
các nội dung hoạt động. Nếu có những hoạt động, hạng mục cần phải đầu
tư, phát triển hay thực hiện do phát sinh đều gặp khó khăn, thậm chí không
thể giải quyết được.
Hiện nay, đa số các đơn vị sự nghiệp văn hóa có nguồn thu thêm thông
qua một số hình thức như thu sự nghiệp (thu từ các hoạt động gắn với
chuyên môn, nghiệp vụ); thu mặt bằng (thu từ cho thuê, khai thác cơ sở vật
chất, trang thiết bị, mặt bằng); thu khác (thu qua tài trợ, hỗ trợ tài chính, vật
chất). Nhưng vẫn còn một số đơn vị chưa thực hiện tốt việc khai thác các
nguồn lực sẵn có của đơn vị để tăng thêm thu nhập; vẫn còn loay hoay,
xoay trở với nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách.
3.1.1.5. Về thanh tra, kiểm tra
Thời gian qua, công tác này đã diễn ra nhưng chưa sâu sát, kịp thời và
toàn diện. Sau thanh tra, kiểm tra thì việc kết luận, xử lý sai phạm còn
chậm, chưa kịp thời, chưa khắc phục dứt điểm sai phạm.
3.1.2. Những vấn đề đặt ra
3.1.2.1. Vấn đề nhu cầu tiêu dùng giải trí công cộng
Từ nghiên cứu, khảo sát của đề tài cho thấy có những mâu thuẫn giữa
nhu cầu tiêu dùng giải trí trong thời gian rỗi của người dân Thành phố Hồ
Chí Minh đối với hoạt động phục vụ nhu cầu giải trí công cộng ở các đơn vị
sự nghiệp văn hóa công lập. Hoạt động phục vụ nhu cầu giải trí công cộng


17
của các đơn vị này chưa khai thác được tính liên kết dịch vụ trong cùng một
sản phẩm, cũng như tính kết nối dịch vụ với nhau giữa các sản phẩm, để tạo
ra sự đáp ứng đồng thời hệ thống nhu cầu chính và phụ, cũng như tạo điều
kiện kích thích người tiêu dùng xuất hiện thêm những nhu cầu giải trí mới

3.2.1. Chính sách văn hóa phát triển hoạt động giải trí công cộng ở
một số nước
3.2.1.1. Chính sách văn hóa của Nhật Bản
3.2.1.2. Chính sách văn hóa của Hàn Quốc


18
3.2.1.3. Chính sách văn hóa của Trung Quốc
3.2.2. Những xu hướng biến đổi trong hoạt động phục vụ giải trí công
cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập ở Việt Nam
3.2.2.1. Những xu hướng biến đổi về nhu cầu giải trí công cộng của
công chúng
Sự phân hóa ngày càng rõ rệt hơn trong mức sống, lối sống, nhu cầu, thị
hiếu, quan niệm về văn hóa thẩm mỹ… tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi trong
nhu cầu, thị hiếu giải trí của người dân. Khả năng để có thể tham gia vào
các hoạt động giải trí của người dân thành phố hiện nay khá đa dạng, không
còn đơn giản, thuần nhất như các thời kỳ trước. Các điều kiện về hạ tầng cơ
sở, phương tiện kỹ thuật, công nghệ… đã góp phần to lớn cho quá trình đa
dạng hóa, hiện đại hóa các hoạt động giải trí công cộng; mở rộng cơ hội cho
người dân được tiếp cận ngày càng nhanh hơn, nhiều hơn với các sản phẩm
giải trí công cộng, tạo ra trong người dân những nhu cầu, mong muốn được
giải trí mới với những sản phẩm, hoạt động có xu hướng phức tạp hơn, có
sự đầu tư, trang bị nhiều và cao hơn.
Sự phân hóa trong quỹ thời gian rỗi cũng là một trong những yếu tố dẫn
tới sự biến đổi trong nhu cầu giải trí của người dân. Cho nên, tương ứng với
thời gian lao động, làm việc chính là quỹ thời gian giải trí của người dân
thành phố cũng có nhiều mức độ, cấp độ, phong phú và đa dạng khác nhau.
3.2.2.2. Những xu hướng biến đổi về sản phẩm giải trí công cộng ở các
đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập
Nhu cầu giải trí nói chung và nhu cầu giải trí công cộng của người dân

công cộng của công chúng
- Cần có những hoạt động giáo dục nghệ thuật được thực hiện có căn cơ,
bài bản; có phân loại đối tượng cụ thể và chú trọng tới đối tượng công
chúng trẻ, vì chính họ sẽ là khán giả tiềm năng của thị trường giải trí trong
tương lai.
3.3.1.2. Đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động phục vụ giải trí công cộng
- Điều chỉnh việc xác định mục đích cung ứng sản phẩm giải trí. Cần
phải đặt nhu cầu giải trí của công chúng là yếu tố trung tâm của quá trình
sản xuất, cung ứng sản phẩm giải trí.
- Cần có phương pháp xác định, đo lường nhu cầu giải trí công cộng của
công chúng, cộng đồng xã hội; hài hòa, cân đối giữa nhu cầu giải trí công
cộng của công chúng và yêu cầu giữ gìn, phát triển văn hóa của Nhà nước;
khắc phục tính chủ quan, tạo ra sản phẩm và phục vụ giải trí công theo kiểu
cấp phát một chiều, theo chỉ tiêu, lập thành tích thi đua, trong khi người dân
chỉ có quyền chấp nhận thụ động hoặc là từ chối tiêu dùng.
- Việc sáng tạo sản phẩm giải trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn
hóa công lập cũng phải chú trọng tính đáp ứng và điều chỉnh nhu cầu, tính
văn hóa thẩm mỹ và tính hình tượng, tính thích ứng với nhu cầu công chúng
và tính định hướng nhu cầu; và phải luôn đặt trong trạng thái vận động, phát
triển liên tục, tránh rơi vào sự chủ quan, lối mòn, rập khuôn trong sáng tạo, dẫn
tới sự tạo ra sản phẩm quá cao hay quá thấp so với trình độ tiêu dùng giải trí;
tính giáo điều hay bỏ rơi văn hóa trong mỗi sản phẩm; tính bảo thủ, trì trệ trong
quá trình đổi mới nội dung, hình thức sáng tạo.
- Việc nghiên cứu thời gian rỗi và nhu cầu giải trí trong thời gian rỗi là rất cần,
vì nó sẽ góp phần tạo điều kiện thuận tiện và phù hợp cho các đơn vị này linh


20
hoạt điều chỉnh lịch mở cửa phục vụ, đáp ứng đa dạng nhu cầu sử dụng thời gian
rỗi của công chúng, từ đó nâng cao hiệu quả khai thác, phục vụ nhiều hơn nhu

3.3.2.3. Tăng cường xã hội hóa hoạt động phục vụ giải trí công cộng
- Nhà nước cần tăng cường và phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của
mình thông qua việc tạo ra các cơ chế, chính sách đổi mới việc cung ứng
dịch vụ giải trí công của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập hiện tại;
khuyến khích xã hội hình thành những thiết chế văn hóa giải trí công cộng
mang bản chất một dịch vụ công mới.


21
- Cần đa dạng hóa các chủ thể cung ứng dịch vụ giải trí công.
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, đồng bộ, hiện đại và phù
hợp với các cam kết quốc tế, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là
các thể chế về giá, phí, lệ phí, về tiếp cận nguồn tài chính công, về hợp tác
công tư, về quản trị nội bộ và sử dụng nhân lực...
- Đổi mới cơ chế tài chính doanh nghiệp để khuyến khích các tổ chức
kinh doanh trong lĩnh vực vui chơi giải trí chuyển một phần lợi nhuận đầu
tư phát triển các hoạt động văn hóa giải trí phi lợi nhuận; áp dụng rộng rãi
hình thức đặt hàng, đấu thầu cung ứng dịch vụ giải trí công cộng cho các tổ
chức xã hội, tổ chức cộng đồng; thí điểm cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp văn
hóa công lập hoạt động trong lĩnh vực vui chơi giải trí; cho thuê cơ sở vật
chất, tài sản của của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập để kinh doanh
cung ứng dịch vụ giải trí công cộng và thực hiện cơ chế đơn vị sự nghiệp
văn hóa công hoạt động như doanh nghiệp công ích.
- Mở rộng hợp tác công - tư trong phát triển hoạt động giải trí công
cộng; hoàn thiện khung hành lang pháp lý và đi tới ban hành luật hợp tác
công tư, để áp dụng trong lĩnh vực hoạt động văn hóa nói chung, hoạt động
giải trí công cộng nói riêng.
- Cần lộ trình để chuyển đổi và vai trò của Nhà nước trong kiểm soát giá
dịch vụ giải trí công cộng. Chuyển đổi từ phí sang giá đối với các hoạt động
dịch vụ giải trí công cộng là vấn đề cấp bách, tạo điều kiện cho các đơn vị

trí công cộng của các đơn vị sự nghiệp văn hóa công lập trong bối cảnh hiện
nay tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status