Tội vi phạm qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong luật hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội) - Pdf 60

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TUYT THANH

TộI VI PHạM QUI ĐịNH Về Vệ SINH AN TOàN THựC PHẩM
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TUYT THANH

TộI VI PHạM QUI ĐịNH Về Vệ SINH AN TOàN THựC PHẩM
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS.TS TRNG QUANG VINH

H NI - 2017


1.1.2.

Khái niệm tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm ........ 9

1.2.

Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định tội vi phạm quy
định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong pháp luật hình sự ..... 13

1.3.

Khái quát lịch sử lập pháp về tội vi phạm quy định về vệ sinh
an toàn thực phẩm trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm
1945 đến nay ................................................................................... 16

1.3.1.

Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1985 ......................................................................... 16

1.3.2.

Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 ......... 17

1.3.3.

Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 ......... 20



Dấu hiệu pháp lý hình sự của tội vi phạm quy định về vệ
sinh an toàn thực phẩm ................................................................. 40

2.1.1.

Khách thể của tội phạm ................................................................... 40

2.1.2.

Mặt khách quan của tội phạm .......................................................... 41

2.1.3.

Chủ thể của tội phạm ....................................................................... 54

2.1.4.

Mặt chủ quan của tội phạm.............................................................. 55

2.2.

Trách nhiệm hình sự áp dụng đối với ngƣời phạm tội vi
phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm ............................ 56

Kết luận Chƣơng 2 ........................................................................................ 64
Chƣơng 3: THỰC TIỄN XỬ LÝ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ VỆ
SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ


Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm ...... 88

3.2.3.

Tăng cường phối hợp liên ngành trong thanh tra, kiểm tra, kiểm
soát chất lượng an toàn thực phẩm .................................................. 89

3.2.4.

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức
và pháp luật về an toàn thực phẩm .................................................. 90

3.2.5.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc bảo đảm an toàn thực
phẩm và hoạt động phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực an toàn thực phẩm .................................................... 93

3.2.6.

Tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho công tác bảo
đảm an toàn thực phẩm .................................................................... 94

KẾT LUẬN .................................................................................................... 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 97


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


Bảng 3.2. Số các vụ ngộ độc thực phẩm trên địa bàn thành phố
Hà Nội từ năm 2010 – 2015
Bảng 3.3.

68

Nhóm hành vi vi phạm trong lĩnh vực an toàn thực
phẩm trên toàn quốc từ năm 2010 – 2015

71

Bảng 3.4. Số vụ vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
(theo Điều 244 BLHS) trên địa bàn thành phố Hà Nội
từ năm 2010 – 2016

74


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
An toàn thực phẩm là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, được tiếp cận
với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đối với mỗi con người.
Thực phẩm an toàn đóng góp to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ con người,
chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi. Vệ sinh an toàn thực phẩm là
vấn đề ngày càng được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội
quan tâm. Thực phẩm mất an toàn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe con người mà còn gây thiệt hại về kinh tế, gánh nặng cho gia đình và xã
hội. Hiện nay, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm ở nước ta còn nhiều khó
khăn, thách thức. Tình trạng ngộ độc thực phẩm có xu hướng tăng và ảnh
hưởng không nhỏ tới sức khoẻ cộng đồng. Sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở

năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, việc quy định “Tội vi phạm quy định
về an toàn thực phẩm” tại Điều 317 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2017 được đánh giá là một bước tiến mới trong quá trình lập pháp, thể hiện sự
quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe
người tiêu dùng hiện nay.
Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn của cả
nước, luôn là nơi tập trung đông dân cư, vì vậy nhu cầu về thực phẩm rất lớn,
đa dạng về cả số lượng và chất lượng. Do nhu cầu về số lượng cũng như về
chất lượng cao cho nên tình hình về VSATTP trên địa bàn thành phố Hà Nội
ngày càng gặp nhiều khó khăn và công tác quản lý, bảo đảm an toàn thực
phẩm trên địa bàn Thủ đô gặp không ít thách thức. Việc kiểm soát, ngăn chặn
các sản phẩm không rõ nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm còn chưa
chặt chẽ, kết quả chưa cao. Tình trạng ngộ độc thực phẩm vẫn còn tiềm ẩn,
diễn biến phức tạp, là mối đe dọa rất lớn đối với sức khỏe cộng đồng, gây bức
xúc trong nhân dân. Nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh chạy theo lợi nhuận,
không tính đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên thị trường lưu thông phân

2


phối ở Hà Nội hiện nay vẫn còn những sản phẩm chưa đúng quy chế về bao
gói, nhãn mác. Một số mặt hàng bánh kẹo, rau củ quả, rượu nhập ngoại chưa
dán đầy đủ nhãn phụ hướng dẫn người tiêu dùng khi mua hàng, đặc biệt là các
loại rượu, gia vị dùng trong thực phẩm vẫn tồn tại các sản phẩm thực phẩm có
phẩm màu công nghiệp, hóa chất cấm sử dụng, sản phẩm không nguồn gốc.
Hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ còn tồn tại trong dân gây ra bức
xúc và không bảo đảm vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Một số
tổ chức, cá nhân buôn bán, chăn nuôi, vận chuyển gia súc, gia cầm vì lợi
nhuận đã bỏ qua các yêu cầu trong công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát
giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, số

Nguyễn Ngọc Anh – TS Nguyễn Văn Luyện – TS Trần Quang Tiệp – ThS
Nguyễn Mai Bộ - ThS Nguyễn Văn Huấn – Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật,
2013; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 của các tác giả PGS.TS
Cao Thị Oanh – TS Lê Đăng Doanh (chủ biên) – Nxb Lao động, 2016…
Các luận văn, công trình nghiên cứu gồm có: Luận án Tiến sĩ của tác
giả Trần Thị Thu Nga (2015) – Học viện Cảnh sát Nhân dân với tên đề tài
“Phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm theo chức
năng của lực lượng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường”; Luận văn
Thạc sĩ của tác giả Hoàng Ngọc Trí (2009) – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà
Nội với tên đề tài “Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong
Luật hình sự Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”;…
Các công trình nghiên cứu này khá phong phú, đã có những đóng góp
quan trọng vào việc làm rõ các vấn đề lý luận và tình hình tội phạm trong lĩnh
vực VSATTP, đã đưa ra đầy đủ các khái niệm, dấu hiệu pháp lý, nguyên
nhân, điều kiện phạm tội cũng như các giải pháp hướng tới việc hoàn thiện
loại tội này. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đều nghiên cứu về tình
hình tội phạm nói chung trên phạm vi cả nước mà chưa có công trình nghiên
cứu riêng về tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trên cơ sở
thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội. Hơn nữa Quốc hội đã thông qua BLHS

4


năm 2015 và có sửa đổi một số bất cập về tội vi phạm quy định về vệ sinh an
toàn thực phẩm. Chính vì vậy, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này với
mong muốn đưa ra những vấn đề mới nhất về lý luận và thực tiễn của pháp
luật hình sự về tội vi phạm quy định về VSATTP trên địa bàn thành phố Hà
Nội nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định này trong thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn thạc sĩ: đưa ra cái nhìn tổng quát về

hình sự và văn bản pháp luật về an toàn thực phẩm.
Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ
thể sau: phương pháp hệ thống hóa, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm ba chương và các tiểu mục sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội vi phạm quy định về vệ sinh
an toàn thực phẩm.
- Chương 2: Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm theo
quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.
- Chương 3: Thực tiễn xử lý tội phạm vi phạm quy định về vệ sinh an
toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự đối với tội vi phạm quy
định về vệ sinh an toàn thực phẩm.

6


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ
VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1. Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm và tội vi phạm quy
định về vệ sinh an toàn thực phẩm
1.1.1. Khái niệm về thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm
Thực phẩm là bất kỳ vật phẩm nào, chủ yếu bao gồm các chất: chất bột
(cacbonhydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein), hoặc nước mà con người
hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp các chất
dinh dưỡng nhằm nuôi cơ thể hay vì sở thích. Các thực phẩm chủ yếu có nguồn
gốc từ thực vật, động vật và vi sinh vật, tuy nhiên cũng tồn tại một hoặc một
vài sản phẩm chế biến từ phương pháp lên men như rượu, bia… [6, tr.9]. Theo

thành nguyên liệu thực phẩm hoặc sản phẩm thực phẩm.
- Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm là những quy chuẩn kỹ thuật
và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực
phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối
với sức khỏe, tính mạng con người.
Như vậy, “vệ sinh an toàn thực phẩm” có thể được hiểu là tất cả điều
kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận
chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn,
không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng.
Việc đưa ra các khái niệm trên nhằm mục đích hệ thống lại những
vấn đề có liên quan tới thực phẩm và VSATTP; đồng thời, từ các khái niệm
đó có thể phân tích và đưa ra khái niệm “Tội vi phạm quy định về vệ sinh
an toàn thực phẩm”.

8


1.1.2. Khái niệm tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
Để làm rõ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm quy định về
VSATTP thì cần tìm hiểu khái niệm về thực phẩm và hành vi nào được coi là
vi phạm quy định về VSATTP và phải chịu trách nhiệm pháp lý ở dưới dạng
trách nhiệm hình sự hay phi hình sự [68, tr.7].
Khái niệm thực phẩm và một số khái niệm liên quan đến vấn đề
VSATTP được quy định trong Luật an toàn thực phẩm năm 2010 đã được đưa
ra ở mục trên. Hành vi vi phạm quy định về VSATTP được coi là trái pháp
luật hình sự khi có đầy đủ các dấu hiệu về mặt pháp lý cũng như tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả gây ra ở mức độ đủ nghiêm trọng,
được quy định trong pháp luật hình sự. Đó là các hành vi sau đây:
- Hành vi “sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo

quy định về VSATTP bao gồm năm đặc điểm:
- Thứ nhất, tội vi phạm quy định về VSATTP là hành vi nguy hiểm cho
xã hội, vi phạm các quy định về ATTP;
- Thứ hai, tội vi phạm quy định về VSATTP là hành vi bị luật hình sự
cấm, được quy định trong Bộ luật hình sự;
- Thứ ba, tội vi phạm quy định về VSATTP được thực hiện một cách có lỗi;
- Thứ tư, tội vi phạm quy định về VSATTP là hành vi do người có năng
lực TNHS thực hiện;
- Thứ năm, tội vi phạm quy định về VSATTP là hành vi do người đủ tuổi
chịu TNHS thực hiện.
Để góp phần làm sáng tỏ một cách sâu sắc hơn nữa về mặt lý luận của
khái niệm tội vi phạm quy định về VSATTP, cần phải lần lượt xem xét những
nét chủ yếu của năm đặc điểm nêu trên của tội phạm này mà thông qua đó có
thể nhận thấy nội hàm của từng đặc điểm [19, tr.297]:
- Nội hàm của đặc điểm thứ nhất – tội vi phạm quy định về VSATTP là
hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định về ATTP có những nét

10


chủ yếu sau: đây là một đặc điểm được chính thức ghi nhận trong định nghĩa
pháp lý của khái niệm tội phạm theo luật hình sự Việt Nam (Điều 8 khoản 1),
bất kỳ một tội phạm nào cũng đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nhận
thức rõ được điều này thì có thể lý giải được việc các nhà làm luật tiến hành
phân chia các hành vi vi phạm quy định về ATTP thành hai loại khác nhau –
tội phạm hay vi phạm pháp luật hành chính. Khi xác định tính nguy hiểm cho
xã hội là một đặc điểm của tội vi phạm quy định về VSATTP cần chú ý là
hành vi vi phạm quy định về ATTP bị coi là nguy hiểm cho xã hội nhất định
phải là hành vi gây nên (hoặc có khả năng thực tế gây nên) thiệt hại cho tính
mạng hoặc sức khỏe của người khác.

(không bị bệnh tâm thần hoặc bệnh lý khác làm mất hoàn toàn khả năng nhận
thức được hoặc khả năng điều khiển được hành vi của mình); và phải có khả
năng nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật
hình sự của hành vi do mình thực hiện, cũng như khả năng điều khiển được
đầy đủ hành vi đó [19, tr.305].
- Nội hàm của đặc điểm thứ năm – tội vi phạm quy định về VSATTP là
hành vi do người đủ tuổi chịu TNHS thực hiện có nét chủ yếu sau: tuổi chịu
TNHS có mối quan hệ trực tiếp với năng lực TNHS và gián tiếp với lỗi, khi
đủ tuổi chịu TNHS theo luật định, thì đó chính là một trong những cơ sở cần
thiết để có thể có (chứ không nhất thiết là sẽ có) năng lực TNHS. Vì trên thực
tiễn cho thấy, vẫn có những người đủ tuổi chịu TNHS (có khả năng nhận thức
được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự của hành
do mình thực hiện, cũng như điều khiển được hành vi ấy), nhưng thực sự họ
không có năng lực TNHS. Từ đây, có thể khẳng định rằng, chỉ khi nào hành
vi vi phạm quy định về ATTP bị luật hình sự cấm có tính chất lỗi là tội phạm
khi chủ thể của hành vi đó tại thời điểm thực hiện hành vi là người có năng
lực TNHS và phải đủ tuổi chịu TNHS theo luật định.

12


1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định tội vi phạm quy
định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong pháp luật hình sự
Thứ nhất, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã ý thức được tầm quan
trọng đặc biệt của việc bảo đảm ATTP. Nhà nước ta đã ban hành nhiều loại
văn bản quy phạm pháp luật khác nhau để ngăn chặn, phòng chống, xử lý triệt
để các hành vi vi phạm các quy định về ATTP. Trong số các biện pháp pháp
lý được sử dụng để bảo vệ các quy định về ATTP có biện pháp pháp lý hình
sự. Trong BLHS năm 1985 của nước ta, lần đầu tiên nhà lập pháp nước ta đã
xây dựng một điều luật quy định về tội vi phạm các quy định về VSATTP gây

không an toàn khiến tâm lý người dân bất ổn vì bệnh tật, bằng chứng là những
vụ ngộ độc thực phẩm ngày một gia tăng. Thực phẩm không an toàn lưu hành
tràn lan trên thị trường cũng khiến các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý về
thực phẩm đau đầu và nỗ lực hết sức nhằm hạn chế một cách thấp nhất sự
xuất hiện của những loại thực phẩm không tốt cho sức khỏe của người tiêu
dùng bằng nhiều biện pháp quyết liệt. Xuất phát từ những điều này, các nhà
làm luật nước ta đã sử dụng biện pháp hình sự để đấu tranh với các hành vi
nguy hiểm cho xã hội xâm phạm các quy định về ATTP [50, tr.5].
Thứ ba, việc tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm
các quy định về ATTP đã được ghi nhận trong BLHS nước ta ở một chừng
mực nhất định được quyết định bởi trạng thái và sự phát triển của các ngành
luật khác, trước hết là luật hiến pháp. Việc tội phạm hóa các hành vi này xuất
phát từ các yêu cầu được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 về bảo đảm thực
hiện quyền con người, quyền công dân đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới,
hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự với tính cách
là công cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất trong việc bảo đảm và bảo vệ
quyền con người, quyền công dân. Theo đó, BLHS cần tiếp tục hoàn thiện về
tội vi phạm quy định về VSATTP để góp phần tạo ra một khung pháp lý đủ
mạnh để bảo vệ một môi trường sống an lành cho nhân dân.

14


Thứ tư, khi tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm
các quy định về ATTP, nhà làm luật nước ta đã cân nhắc cả các nhân tố tội
phạm học như thực trạng, cơ cấu và diễn biến của các hành vi xâm hại trong
lĩnh vực đó. Từ nghiên cứu thực tiễn cho thấy các hành vi xâm phạm vào các
quy định về ATTP là một trong những loại hành vi xảy ra phổ biến nhất ở
nước ta hiện nay và các thiệt hại do các hành vi đó gây ra có chiều hướng
ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Tìm hiểu pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ năm 1945 đến năm
1985 cho thấy, tại giai đoạn này tuy đã có quy định về tội phạm liên quan đến
vấn đề thực phẩm nhưng quy định về tội vi phạm quy định về VSATTP lại
chưa được một văn bản pháp luật hình sự nào ghi nhận. Tội phạm liên quan
đến vấn đề thực phẩm được pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ này quy định
đó là “Tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả” có liên quan đến vấn đề
thực phẩm, cụ thể tại “Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả,
kinh doanh trái phép” của Hội đồng Nhà nước ngày 30/6/1982 [68, tr.21].
Theo khoản 2 Điều 5 Pháp lệnh này quy định “Phạm tội làm hàng giả hoặc
buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, hoặc phạm tội
trong trường hợp nghiêm trọng quy định ở khoản 1 Điều 9 Pháp lệnh này
(phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm; đầu cơ, tàng trữ, buôn
lậu hàng hóa có số lượng hoặc giá trị lớn, hoặc thu lợi bất chính lớn; lợi dụng
thiên tai hoặc chiến tranh để phạm tội; phạm tội có tổ chức; lợi dụng chức vụ,
quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước hay tổ chức xã hội để
phạm tội; có hành động chống lại cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ) thì bị phạt
tù từ 3 năm đến 12 năm, bị phạt tiền đến năm mươi vạn đồng (500.000 đồng),
và có thể bị tịch thu một phần tài sản”. Khoản 3 Điều 5 Pháp lệnh quy định
“Phạm tội làm hàng giả hoặc buôn bán hàng giả có chất độc hại hoặc các chất
khác có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng,
hoặc phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định ở khoản 2

16


Điều 9 Pháp lệnh này (phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đến nền
kinh tế quốc dân hoặc sức khỏe, tính mạng của người khác; phạm tội gây hậu
quả nghiêm trọng đến an ninh, quốc phòng; phạm tội tập trung nhiều tình tiết
nghiêm trọng ở khoản 1 Điều 9 Pháp lệnh này) thì bị phạt tù từ 10 đến 20 năm
hoặc tù chung thân, bị phạt tiền đến một triệu đồng (1.000.000 đồng) và có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status