ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI HẢI HÀ
NGHỆ THUẬT TƢ̣ SƢ̣ TRONG TIỂU
THUYẾT ẾCH CỦA MẠC NGÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀ NH: VĂN HỌC NƢỚC NGOÀ I
MÃ SỐ: 60.22.30
HÀ NỘI 5/2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI HẢI HÀ
NGHỆ THUẬT TƢ̣ SƢ̣ TRONG TIỂU
THUYẾT ẾCH CỦA MẠC NGÔN
CHUYÊN NGÀ NH: VĂN HỌC NƢỚC NGOÀ I
MÃ SỐ: 60.22.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGƢ̃ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa ho ̣c: PGS.TS. Lê Huy Tiêu
HÀ NỘI 5/2013
Chƣơng 3: Ngôn ngữ và giọng điệu .....................................................................67
3.1. Ngôn ngữ………………………………………………….........................67
3.1.1. Ngôn ngữ cuồng hoan…………………………..................................68
3.1.2. Ngôn ngữ đối thoại đậm chất thô tục……. ........................................ 73
3.1.3. Ngôn ngữ cảm giác…………………………………………………...77
3.1.4. Ngôn ngữ biểu tượng…………………………………………………78
3.2. Giọng điệu....................................................................................................80
3.2.1. Giọng điệu bỡn cợt……………………………………………………81
3.2.2. Giọng điệu lạnh lùng.............................................................................84
3.2.3. Giọng điệu tâm tình…………………………………………………...86
KẾT LUẬN ..............................................................................................................89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................93
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Sau đại ―cách mạng văn hoá‖, đất nước Trung Quốc bước sang một trang
mới và đã thực sự bừng tỉnh sau cơn ác mộng. Trung Quốc bước vào thời kỳ cải
cách mở cửa, nền kinh tế ngày một phát triển, đời sống nhân dân ngày một nâng
cao. Những biến động của đời sống xã hội đó đã tác động sâu sắc đến diện mạo
nền văn học. Văn học Trung Quốc và đặc biệt là tiểu thuyết Trung Quốc có
bước phát triển rực rỡ, bước vào mùa hoàng kim của sáng tác văn học.
Tiểu thuyết thời kỳ này không chỉ nhiều về số lượng, phong phú về đề tài
mà còn có giá trị cao về nội dung và hình thức thể hiện. Một trong những người
có công trong việc đổi mới tiểu thuyết và làm cho tiểu thuyết đương đại khởi
sắc chính là nhà văn Mạc Ngôn.
trong lòng tôi, thứ nhất là phải có ngôn ngữ hay, thứ hai phải có cốt truyện hay,
thứ ba phải chứa đựng nhiều điều thú vị và những trăn trở, để độc giả mong đợi,
thứ tư phải để độc giả thấy được những thay đổi trong tư tưởng của nhà văn,
cũng có nghĩa là phải để cho độc giả cảm thấy mình ở cùng vị trí với nhà văn‖
[17, tr. 281]. Như vậy, với Mạc Ngôn quan trọng nhất trong sáng tác nghệ thuật
là có sự tìm tòi về thể loại và ngôn ngữ, tối kị nhất là sự lặp lại người khác và
không chấp nhận cả sự lặp lại của chính mình, luôn làm mới mình là yêu cầu
mà ông đặt ra và theo đuổi trong suốt các chặng đường sáng tác. Từ Cao lương
đỏ của những năm 80, thế kỉ XX đến nay, mỗi bộ tiểu thuyết của Mạc Ngôn là
một sự đột phá trong phong cách thể hiện ngôn ngữ và hình thức thể loại.
Ếch(cuối năm 2009) là cuốn tiểu thuyết mới nhất của Mạc Ngôn kẻ từ sau tiểu
thuyết Sống đọa thác đày năm 2006.
Cuốn tiểu thuyết, với phương thức tự sự xưa nay chưa từng có – sự kết
hợp của ba thể loại thư – kịch – tiểu thuyết, đã thể hiện một cách viết và cách
khai thác đề tài hoàn toàn mới lạ của Mạc Ngôn. Ếch do NXB Văn nghệ
Thượng Hải xuất bản, phát hành tại Trung Quốc vào những ngày cuối tháng 12
7
năm 2009, đã nhanh chóng thu hút đông đảo độc giả Trung Quốc và dấy lên làn
sóng háo hức của độc giả nhiều nước vốn mê thích truyện của Mạc Ngôn.
Cuốn sách xoay quanh cuộc đời và công việc của nhân vật chính – một
nữ bác sĩ chuyên đỡ đẻ ở khắp nông thôn Cao Mật, sau này phải chuyển sang
nghề thắt ống dẫn tinh cho nam giới và nạo phá thai. Đây là một đề tài cực kỳ
hiếm hoi trong văn học, được nhà văn Mạc Ngôn miêu tả vô cùng khéo léo và
đầy kịch tính. Cuốn sách như một bức tranh xã hội sâu sắc ở Trung Quốc, phản
ánh được những tác động của chính sách kế hoạch hóa gia đình kéo dài hơn 30
năm tới cuộc sống của người dân nước này. Tác phẩm được đánh giá rất cao,
xếp thứ hai trong kết quả bình chọn những đầu sách hay nhất tại Trung Quốc
đầu tiên cho người ta thấy sự phức tạp của cấu trúc tự sự, thể hiện ở một số khía
cạnh như: cốt truyện, người kể chuyện, điểm nhìn, ngôn ngữ, không gian – thời
gian, giọng điệu, nhân vật… Đã có rất nhiều bài viết vận dụng lý thuyết và ứng
dụng của tự sự học của các tác giả như Trần Đình Sử - Đỗ Đức Hiểu - Nguyễn
Tri Nguyên - Vương Trí Nhàn - Nguyễn Văn Hạnh - Nguyễn Thị Bình - Đào
Tiến Thi - Đỗ Phương Thảo - Nguyễn Thanh Tú - Phạm Thị Lan - Đào Thủy
Nguyên - Nguyễn Thị Bích… Tuy nhiên, những bài viết đó chủ yếu là đề cập
đến các tác phẩm của văn học nước nhà hoặc của phương Tây là nhiều mà
thường ít nghiên cứu về các vùng văn học khác. Hiện nay, văn học Trung Quốc
với những tên tuổi như Mạc Ngôn, Vương Mông, Trương Hiền Lượng, Lý
Nhuệ, Dư Hoa…đang thu hút được sự quan tâm của nhiều độc giả Việt Nam và
đang trở thành một mảnh đất màu mỡ cho giới nghiên cứu, phê bình.
Trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Mạc Ngôn với trên 200 tác phẩm
thuộc nhiều thể loại, bao gồm tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, tản văn,
kịch…; tiểu thuyết là thể loại gây tiếng vang lớn nhất, gặt hái được nhiều thành
tựu nhất. Một trong những yếu tố khẳng định văn tài của Mạc Ngôn trong thể
loại tiểu thuyết chính là nghệ thuật tự sự với những phương lược và sách lược
tự sự độc đáo. Vì vậy, nghệ thuật tự sự là vấn đề xứng đáng được khảo sát tìm
hiểu trong khi nghiên cứu về tiểu thuyết của tác gia này.
9
Chính vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Nghệ thuật tự sự
trong tiểu thuyết Ếch của Mạc Ngôn mong muốn từ việc nghiên cứu một tác
phâm cụ thể góp thêm cái nhìn tổng thể về thế giới nghệ thuật của nhà văn,
đồng thời tìm hiểu những đóng góp của nhà văn Mạc Ngôn đối với tiểu thuyết
hiện đại nói riêng và đối với nền tiểu thuyết nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Mạc Ngôn là một trong những nhà văn đương đại Trung Quốc có phong
trí vững chắc trên văn đàn.
PGS.TS Lê Huy Tiêu trong các bài viết nói trên với hướng nghiên cứu thi
pháp học và tự sự học đã phát hiện những cái ―lạ‖ của tiểu thuyết Mạc Ngôn
qua ―đề tài rất rộng, cốt truyện không còn là cốt truyện hoàn chỉnh như tiểu
thuyết truyền thống nữa mà nó chỉ còn là cái khung truyện mà thôi. Nhưng
trong cái khung truyện ấy chứa đầy cảm giác. Đó là linh hồn của tiểu thuyết
Mạc Ngôn. Ông có biệt tài nắm bắt cảm giác‖ [40, tr.17]. Nghệ thuật tự sự độc
đáo với điểm nhìn tự thuật luôn biến hoá, kết cấu truyện, nghệ thuật xử lý
không gian và thời gian, hệ thống nhân vật... đều được tác giả phân tích tường
tận và kiến giải sâu sắc.
Bổ sung cho sự khiếm khuyết của cái nhìn phiến diện trong tình hình
nghiên cứu Mạc Ngôn hiện nay, trên báo Văn nghệ số 46 (2008), PGS. TS Lê
Huy Tiêu có bài Thử phản biện Mạc Ngôn. Bài viết đã tổng hợp những ý kiến
phê phán Mạc Ngôn được đăng tải trong cuốn Tư liệu nghiên cứu Mạc Ngôn
do Dương Dương biên soạn, NXB Nhân dân Thiên Tân ấn hành năm 2005. Sau
đó PGS đã đưa ra quan điểm không tán thành đối với sự khoa trương quá đáng
cũng như thái độ thích thú của nhà văn khi viết về cái ác và hành vi bạo lực.
Với giải Nobel văn chương 2012, tên tuổi Mạc Ngôn trở nên nổi như cồn.
PGS.TS. Lê Huy Tiêu trong bài viết “Con đường Mạc Ngôn đi tới giải Nobel
văn học”, tạp chí nghiên cứu Trung Quốc (134) đã khẳng định: ―Giải thưởng
này xóa tan thành kiến của Ủy ban Nobel xưa nay vì quá thiên vị châu Âu.
11
Trong một thập kỷ qua, có đến 8 nhà văn châu Âu được Viện Hàn lâm Thụy
Điển vinh danh; năm ngoái, giải được tặng cho nhà văn Thụy Điển Tomas
Transtromer. Giờ đây người phương Tây không còn coi văn học đương đại
Trung Quốc là một ―bãi rác‖ nữa, họ bắt đầu thừa nhận ―Trung Quốc là nước
lớn về văn học‖. Người Pháp coi Mạc Ngôn là ―đại thụ‖ trong khu rừng của văn
thuyết trường thiên của Mạc Ngôn dưới góc độ nghệ thuật tự sự trên các bình
diện người kể chuyện, điểm nhìn, thời gian, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu.
Với kết quả nghiên cứu này, luận án góp phần khẳng định sự cần thiết
của việc kết hợp lí thuyết tự sự học của cả phương Đông lẫn phương Tây khi
ứng dụng vào nghiên cứu các hiện tượng văn học phương Đông, đặc biệt là các
tiểu thuyết hiện đại của Trung Quốc. Từ việc phân tích và kiến giải những đặc
điểm, vị trí và công năng của các yếu tố tự sự trong mối quan hệ lôgic giữa
chúng, luận án đã xác định phong cách ―tự sự kiểu Mạc Ngôn‖. Đó là một
phong cách được hình thành nên bởi sự tổng kết giữa đặc trưng tự sự ―cực hạn‖
và đặc trưng hậu hiện đại của văn học Trung Quốc. Từ sự chi phối của điểm
nhìn, với hai nhãn quan hiện thực và kì ảo, Mạc Ngôn đã xây dựng nên trong
tiểu thuyết của mình một thế giới ngôn từ đặc biệt: hồn nhiên, ngạo ngược, trần
tục và đầy nhục tính nhưng cũng rất nhuần nhị, uyển chuyển, đa biến và ảo
diệu.
Bằng những nghiên cứu của mình, tác giả luận án khẳng định trong
tiểu thuyết của Mạc Ngôn có sự kết hợp khéo léo, nhuần nhuyễn giữa những
sách lược tự sự cổ xưa nhất với hiện đại nhất. Qua sự cách tân bằng con đường
phục cổ, Mạc Ngôn đã khẳng định sức sống thanh tân và trường cửu của tiểu
thuyết nói chung, lí luận tự sự truyền thống của Trung Quốc nói riêng, từ đó xác
lập nên một đặc trưng hậu hiện đại kiểu Trung Quốc: hậu hiện đại thực chất là
sự phục sinh, phục hưng của hậu cổ đại kết hợp với yếu tố hậu hiện đại của
phương Tây.
13
Luận án được đánh giá là có nhiều đóng góp về mặt lí luận và thực
tiễn, đặc biệt đã nêu ra một hướng tiếp cận mới trong các sáng tác của Mạc
Ngôn nói riêng, trong các tác phẩm văn học phương Đông nói chung, đặc biệt
là khi giải mã các tác phẩm văn học phải đặt chúng trong mối quan hệ với đặc
khẳng định tài năng của nhà văn vùng Cao Mật.
4. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Ếch của Mạc Ngôn, chúng
tôi sử dụng văn bản chính là cuốn tiểu thuyết Ếch của NXB Văn học, HN, 2010
do tác giả Nguyên Trần dịch.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn này tiếp cận tác phẩm từ phương pháp tự sự học. Chúng tôi
khảo sát các yếu tố hình thức của tác phẩm để thấy được nghệ thuật tiểu thuyết
của Mạc Ngôn. Tuy nhiên không coi hình thức là một yếu tố riêng biệt mà hình
thức đi cùng nội dung nên ngoài phương pháp trên chúng tôi còn sử dụng một
số phương pháp khác để có cái nhìn tổng quan và chính xác hơn về đối tượng
nghiên cứu.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Giải mã cấu trúc văn bản nghệ thuật
ngôn từ dưới góc độ thi pháp học. Khai thác các thủ pháp nghệ thuật của từng
yếu tố trong hệ thống văn bản: Kết cấu, cốt truyện, nhân vật, nghệ thuật trần
thuật, giọng điệu, ngôn ngữ...
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Nhằm phân tích và khái quát được
đặc điểm nổi bật về mặt thi pháp của tác phẩm.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh tác phẩm được khảo sát với
các tác phẩm khác cùng thời, cùng thể loại, cùng đề tài để từ đó khẳng định
những đóng góp riêng của Mạc Ngôn từ bình diện thi pháp tiểu thuyết.
15
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này giúp chúng tôi chỉ ra được các
loại hình nhân vật khác nhau, sự biểu hiện đa dạng trong ngôn ngữ, giọng điệu
tác phẩm
- Phương pháp liên ngành: Đó là phương pháp thi pháp học, phong cách
học, lý thuyết tiếp cận hiện đại... để tìm ra những nét riêng trong phong cách
lý riêng‖ [34, tr.12].
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng nghệ thuật tự sự không phân biệt
với nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật trần thuật. Nghệ thuật tự sự chính là
những thủ pháp, phương thức mà nhà văn sử dụng để kế chuyện.
Tự sự học có một phạm vi rất rộng đối với mỗi tác phẩm văn học, trong
phạm vi đề tài, chúng tôi xin làm sáng tỏ một vài phương diện sau, đó là: cốt
truyện và kết cấu; nhân vật, người tự sự và ngôn ngữ tự sự.
17
CHƢƠNG 1: NGHỆ THUẬT KẾT CẤU VÀ CỐT TRUYỆN
1.1. Nghệ thuật kết cấu
1.1.1: Khái niệm kết cấu
Kết cấu là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hình thành một tác
phẩm văn học. Nó là một yếu tố của hình thức tiểu thuyết, là ―điều kiện tất yếu
và phương diện cơ bản của sáng tác nghệ thuật‖ [6, tr.15 - 17]
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình
Sử chủ biên định nghĩa: ―Yếu tố kết cấu là đặc trưng cho bản chất nghệ thuật
nói chung của văn học, nó tạo ra nhịp điệu chung cho tác phẩm và cho từng bộ
phận…Kết cấu tạo điều kiện để người đọc có khả năng khái quát hoá chủ đề tư
tưởng, nắm bắt được tính cách nhân vật một cách trực tiếp theo quy luật và
trình độ phát triển của nội dung, hình thức tác phẩm‖. [9, tr.52]
Theo giáo trình Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên thì kết cấu là
―sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức
sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung tác phẩm trên cơ sở đời
sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định.‖ [8, tr.143].
Như vậy, kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm,
tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan
bên ngoài giữa các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên
Do điểm nhìn tự thuật luôn biến hóa, nên kết cấu truyện của Mạc Ngôn
cũng xuất hiện một hình thức tương xứng mới mẻ về không gian và thời gian.
―Dựa vào sự tưởng tượng như ―ngựa thần bay‖ ranh giới thời gian và không
gian, lịch sử và hiện tại, vật lí và tâm lí trở nên mơ hồ. Nghệ thuật xử lí không
gian và thời gian trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn giống như trong phim của
trường phái hiện đại chủ nghĩa, vừa tồn tại một kết cấu nội tại vừa có một kết
cấu ngoại tại. Bản thân cốt truyện có thời gian tuyến tính, nhưng xuất phát từ
19
điểm nhìn của ―tôi‖, ―tôi‖ cắt cốt truyện ra thành nhiều đoạn, sau đó dùng kí ức
ảo mộng của ―tôi‖ để tái tạo nên một thế giới hoàn toàn mới. Tiểu thuyết của
ông là một loại kết cấu phức hợp, tuần hoàn, phi tuyến tính, phi lôgic, rất ―hỗn
độn‖, vô thủy vô chung‖ [40, tr.18].
1.1.2. Kết cấu lồng ghép trong tiểu thuyết Ếch
Trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, sự tổng hợp thể loại đã vượt ra khỏi địa hạt
văn học để mở rộng sang các loại hình nghệ thuật khác, tạo nên một sự dung
hợp độc đáo giữa các thể loại. Đan lồng trong tiểu thuyết là các thể loại truyện
truyền kỳ (Tổ tiên có màng chân, Thập tam bộ), truyện ngắn (như trường hợp
Rượu cồn, Trẻ thịt, Thần đồng, Phố lừa... trong Tửu quốc), truyện vừa (Cao
lương đỏ, Rượu cao lương... trong Gia tộc cao lương đỏ );, hát xẩm (Cây tỏi
nổi giận), hý khúc Miêu Xoang (Đàn hương hình), báo chí (Thập tam bộ), và
trong Ếch là kịch bản văn học và thư tín.
Ếch gồm 5 chương, riêng chương cuối cùng là một vở kịch 9 màn. 4
chương đầu được thể hiện dưới hình thức thư tín. Sự kết hợp ấy góp phần mở
rộng không gian biểu đạt của tiểu thuyết thể hiện một cách chân thực và rõ nét
về cuộc đời, số phận cũng như tính cách và nội tâm của nhân vật.
Rõ ràng, sự lồng ghép trong tác phẩm Ếch phức tạp hơn nhiều so với các
tác phẩm khác của Mạc Ngôn, vừa có tiểu thuyết trong thư, vừa có kịch trong
Thư từ không đơn giản chỉ là một phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ
viết mà bản thân nó còn chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật. Vì thế, người ta vận
dụng nhiều thư từ vào trong tác phẩm văn học. Trong tác phẩm văn học, đặc
biệt là trong truyện ngắn và tiểu thuyết, thư từ được sử dụng như một mô típ
nghệ thuật. Nó thường sử dụng với mục đích nhấn mạnh tính xác thực, thuyết
phục độc giả về vấn đề được đặt ra trong truyện.
Có thư từ là đầu mối của sự kiện, trung tâm của cốt truyện, có những bức
thư chỉ xuất hiện vào một thời điểm nào đó trong tiến trình của câu chuyện, như
21
Bà Bôvary của G. Flaubert, Đỏ và Đen của Stendhal, Hội chợ phù hoa của
W.M. Thackeray, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách. Nhưng nhìn chung, trừ một
số bức thư tham gia đắc lực vào tiến trình hành động, dẫn dắt sự kiện hoặc thực
sự gây ―biến cố‖, sự có mặt của các bức thư trong truyện thường làm chậm nhịp
kể. Lượng thông tin trong thư thường không đủ để lặp lại tính liên tục của câu
chuyện. Nhưng ở góc độ khác, thư từ không những là phương tiện hữu hiệu để
rút ngắn khoảng cách, duy trì liên hệ mà còn duy trì thông tin cho người đọc
những lúc nhân vật thực hiện những chuyến du hành của họ hay những lúc họ
phải cách ngăn.
Điểm nhìn bên trong của tiểu thuyết và truyện ngắn được nhân lên qua
các bức thư, trong đó có các nhân vật bộc lộ cảm nghĩ, đánh giá của mình về
các sự kiện và về các nhân vật khác.
Tiểu thuyết bằng thư là hình thức tiểu thuyết sử dụng thư như một
phương tiện chuyển tải hữu hiệu của quá trình tự sự, sử dụng lối kể và hư cấu
của tiểu thuyết, vay mượn hình thức của thư từ, trong đó các bức thư đóng vai
trò quan trọng trong tổ chức cốt truyện.
Tiểu thuyết Ếch có kết cấu dưới hình thức bức thư khá độc đáo.Với kết
cấu theo hình thức thư như vậy, những điều riêng tư sâu kín sẽ được thổ lộ, phô
với những sự kiện diễn ra trên sân khấu.
Brecht cho rằng khán giả cần phải có khoảng cách cảm xúc để nhìn nhận
sự việc một cách phê bình và khách quan, trái ngược lại hiệu quả gây ảo giác
sân khấu của thể loại kịch thông thường.
Cũng là sự kiện hai người mẹ tranh nhau một đứa bé nhưng bối cảnh và
mục đích sáng tạo lại hoàn toàn khác nhau. Thực ra ―cái vòng phấn‖ là một
môtip vốn rất quen thuộc trong văn học dân gian nhiều nước Châu Á, đặc biệt
là trong truyện cổ Trung Hoa và Kinh thánh. Nó tượng trưng cho sự công bằng
23
và khách quan khi xử kiện, đến Becton Brech thì hình ảnh ―cái vòng phấn‖ đã
bị lạ hóa đi nhiều.
Trong câu chuyện vòng phấn Côcazơ, khi hai người đàn bà tranh chấp
nhau quyền làm mẹ, quan tòa đã vẽ một vòng phấn, cho đứa trẻ đứng vào giữa,
ai lôi được nó về phía mình sẽ thắng. Một trong hai người đàn bà đã ôm mặt
khóc, buông tay ra chịu thua vì sợ đứa bé sẽ bị xé xác mất.
Quan tòa Azđăc đã xử cho Grusa, mẹ nuôi thắng kiện vì quan niệm về
quyền sở hữu tập thể, ―một vật phải thuộc về người làm cho nó ngày một thêm
hoàn hảo. Trẻ em thuộc về những tấm lòng nhân hậu, để chúng trưởng thành
trong mối yêu thương. Chiếc xe kia muốn khỏi đổ giữa đường, thì phải thuộc về
tay người lái giỏi. Đồng ruộng phải thuộc về tay người chăm bón tưới, để từ đất
kia quả ngọt nẩy đầy cây‖ [5, tr. 173] .
Đến Mạc Ngôn, ông đã tiếp thu nghệ thuật gián cách trong kịch Becton
Brech để tố khổ xã hội, hạ bệ quan phụ mẫu – những người đại diện thi hành
chính sách pháp luật. Trần Mi và Tiểu Sư tử trên công đường nhờ Cao tri huyện
– Cao Mộng Cửu xử vụ kiện tranh quyền nuôi đứa trẻ tên Kim Oa.. Không cho
đi xét nghiệm AND mà Cao tri huyện đã có cách phán quyết ―biến giả thành
thật‖: ―Bản quan không thể phán định đứa trẻ này thuộc về ai, đành phải dùng
gian của truyện là thời gian tự sự, là trạng thái thời gian thể hiện trong văn bản
tự sự. ―Thời gian của chuyện và thời gian tự sự thường có sự sai biệt, cho nên
từ xưa đến nay thời gian tự sự đã trở thành một loại diễn ngôn tự sự và sách
lược tự sự quan trọng của các nhà văn‖. [35, tr.132].
Các câu chuyện trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn đều đã diễn ra ở thời quá
khứ, chúng được tái hiện qua hồi ức nhiều chồng lớp của người kể chuyện với
những điểm nhìn bên trong day dứt về một thời đã qua. Tính chất hồi cố và đa
điểm nhìn đã làm gãy đổ thời gian vật lý, tác động đến nghệ thuật tổ chức thời
gian tự sự trong truyện.
25
Thời gian trong Ếch không liền mạch mà đứt đoạn, trên đó các sự kiện,
dữ kiện của truyện không nối tiếp nhau trải dài mà đưa ra những mảng thời gian
rời như những màn, cảnh (scene) trong sân khấu và điện ảnh. Những ―vách
ngăn‖ như vậy của thời gian tạo ra một cấu trúc tập trung, sắc nét hơn. Trong
khi đó, những đứt quãng không làm câu chuyện rời rạc, vỡ vụn mà trái lại, tạo
ra một khoảng lặng tâm trạng, một ―độ ngưng‖ suy tưởng, nơi mà ta có thể thả
trôi mình vào những trầm tư…
Như đã nói, tính chất hồi cố và đa điểm nhìn đã làm gãy đổ thời gian vật
lý, tác động đến nghệ thuật tổ chức thời gian tự sự. Chính điều này khiến cho
các hình thức đảo thuật, dự thuật, ngưng trệ thời gian trở thành đặc điểm sở
trường của cây bút Mạc Ngôn.
Theo dòng hồi ức đầy xáo trộn, ngắt quãng của người kể chuyện, câu
chuyện sẽ diễn ra không theo mạch thẳng của thời gian vật lý mà luôn có sự đảo
lộn, xoay chiều giữa quá khứ và hiện tại, giữa sự kiện này và sự kiện kia tạo
cảm giác cuộc sống được dựng nên trong tác phẩm dường như bộn bề hơn, sâu
sắc hơn, hỗn loạn hơn.
Thời gian đảo thuật (đảo chiều) chính là thời gian của hồi cố. Thời gian